Tự do lựa chọn: Một bản tuyên ngôn cá nhân - Chương 3: Giải phẫu cuộc đại khủng hoảng (Phần 3)

Tự do lựa chọn: Một bản tuyên ngôn cá nhân - Chương 3: Giải phẫu cuộc đại khủng hoảng (Phần 3)

DỮ KIỆN VÀ DIỄN GIẢI

Đến nay, những dữ kiện này không còn là nghi vấn nữa -mặc dù cần phải nhấn mạnh rằng không phải nhà quan sát nào thời đó cũng biết và được biết về chúng, trong đó bao gồm cả John Maynard Keynes. Do dó, chúng dễ bị diễn giải theo nhiều cách khác nhau. Liệu cuộc sụp đổ tiền tệ là nguyên nhân hay là kết quả của sự sụp đổ nền kinh tế? Liệu Fed có khả năng ngăn chặn sự sụp đổ tiền tệ hay không? Hay nó vẫn sẽ xảy ra bất chấp những nỗ lực của Fed - như nhiều nhà quan sát tại thời điểm đó đã kết luận? Liệu cuộc suy thoái có thực sự bắt đầu từ Mỹ và lan rộng ra nước ngoài hay không? Hay các tác động xuất phát từ bên ngoài khiến cuộc suy thoái ở Mỹ lẽ ra đã có thể diễn biến nhẹ nhàng hơn nhưng cuối cùng đã biến thành một cuộc suy thoái trầm trọng?

Nguyên nhân hay kết quả

Bản thân Fed đã thực sự thể hiện được vai trò của mình. Hội đồng quản trị Fed đã tự nhận định về năng lực to lớn của mình trong báo cáo thường niên năm 1933 như thế này, "Khả năng của các Ngân hàng Dự trữ Liên bang trong việc đáp ứng các nhu cầu rất lớnvề tiền mặttrong thời gian cuộc khủng hoảng diễn ra đã chứng minh tính hiệu quả của hệ thống tiền tệ quốc gia hoạt động theo Đạo Luật Dự trữ Liên bang. . . . Khó lòng để có thể mà nói được trong giai đoạn nào của cuộc suy thoái thì Fed không nên theo đuổi một chính sách mua vào trên thị trường mở tự do."4

Sự sụp đổ của hệ thống tiền tệ vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả của sự sụp đổ nền kinh tế. Nó chủ yếu bắt nguồn từ chính sách Dự trữ Liên bang, và rõ ràng nó khiến nền kinh tế suy sụp hơn so với khi không có chính sách này. Tuy nhiên, khi sự sụp đổ nền kinh tế đã diễn ra thì nólại khiến tình trạng suy sụp của hệ thống tiền tệ trở nên tồi tệ hơn. Các khoản vay ngân hàng có lẽ đã là những khoản vay "tốt" nếu như cuộc suy thoái diễn ra nhẹ nhàng hơn, nhưng cuối cùng đã biến thành những khoản vay "xấu" trong bối cảnh nền kinh tế suy thoái nghiêm trọng. Nhiều trường hợp vỡ nợ đãlàm suy yếu ngân hàng cho vay, và tình trạng này càng khiến người gửi tiền muốn rút tiền ồ ạt. Kinh doanh thất bát, sản lượng giảm, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng – tất cả đã thúc đẩy tâm lý bất an và sợ hãi. Mong muốn chuyển đổi sang các tài sản sang loại có thanh khoản nhất, tiền tệ, và sang các hình thức tiền tệ an toàn nhất, tiền mặt, trở nên phổ biến. "Phản hồi" là một đặc tính phổ biến của một hệ thống kinh tế.

Các bằng chứng cho đến nay  đủ để kết luận rằng Fed không chỉ nắm giữ trọng trách được luật pháp giao phó nhằm ngăn chặn sự sụp đổ của hệ thống tiền tệ, mà đáng lẽ ra nó đã có thể ngăn chặn cuộc sụp đổ nếu như nó sử dụng một cách khôn ngoan những quyền hạn được cấp theo Đạo luật Dự trữ Liên bang. Những người bảo vệ Fed đã đưa ra hàng loạt các lý do. Nhưng không có lý do nào thực sự nghiêm túc. Khôngcó  lý do nào biện minh hợp lý cho sự thất bại của Fed trong việc thực hiện nhiệm vụ mà những người sáng lập thành lập nên Fed đặt ra. Fed không chỉ có sức mạnh để ngăn chặn sự sụp đổ tiền tệ, mà trước đó nó còn biết cách sử dụng quyền lực đó như thế nào. Vào các năm 1929, 1930, 1931, Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York liên tục kêu gọi Fed tham gia vào hoạt động mua trên thị trường mở với quy mô lớn, một hành động quan trọng mà lẽ ra Fed nên thực hiện nhưng cuối cùng họ đã không làm vậy. Đề xuất của New York đã bị bác bỏ không phải bởi nó được chứng minh là lạc lối hay không khả thi mà là vì cuộc tranh giành quyền lực bên trong Fed, điều này khiến các Ngân hàng Dự trữ Liên bang khác và Hội đồng thống đốc ở Washington không chấp nhận vị thế lãnh đạo của New York. Lựa chọn thay thế đã chứng tỏ năng lực lãnh đạo bối rối và thiếu quyết đoán của Hội đồng quản trị Fed. Những tiếng nói hiểu biết bên ngoài Fed cũng kêu gọi hành động đúng đắn. Một nghị sĩ bang Illinois, AJ Sabath, nói giữa nhà Trắng, "tôi nhấn mạnh rằng thẩm quyền của Fed là làm giảm khủng hoảng tài chính và thương mại." Một số học giả phê bình - bao gồm cảKarl Bopp, nhân vật sau này trở thành người đứng đầu Ngân hàng Dự trữ Liên bang Philadelphia – cũng bày tỏ đồng quan điểm. Trong một cuộc họp của Fed, thời điểm mà lệnh mua trên thị trường mở năm 1932 đã được phê duyệt dưới áp lực trực tiếp từ Quốc hội, Ngài Ogden L. Mills, với tư cách là Bộ trưởng Tài chính kiêm thành viên của Hội đồng thống đốc, đã phát biểu để giải thích cho lá phiếu ủng hộ của mình cho hành động này, "Để một hệ thống ngân hàng trung ương khổng lồ nắm giữtới 70% lượng vàng dự trữ mà không thực hiện các bước tích cực trong tình hình như vậy dường như là điều không tưởng và không thể tha thứ." Tuy nhiên, đó chính xác là cách Fed xử lý trong hai năm trước đó và họ vẫn tiếp tục hành xử như vậy sau khi Quốc hội trì hoãn phiên họp trong vài tháng sau đó, cũng như trong cuộc khủng hoảng ngân hàng bị đẩy lên đến tột đỉnhvào hồi tháng 3 năm 1933.6

Khởi nguồn của cuộc suy thoái

Bằng chứng khẳng định rằng cuộc suy thoái lây lan từ Mỹ sang phần còn lại của thế giới thay vì ngược lại đến từ sự biến động giá của vàng. Năm 1929, Hoa Kỳ áp dụng chế độ bản vị vàng tức là có một mức giá vàng chính thức ($ 20,67 trên một ounce vàng nguyên chất) mà chính phủ Mỹ sẽ mua hoặc bán vàng theo yêu cầu. Hầu hết các nước lớn khác lại áp dụng chế độ bản vị hối đoái vàng (gold-exchange standard), theo đó họ cũng quy định một mức giá chính thức cho vàng theo đơn vị tiền tệ của họ. Lấygiá vàng chính thức theo đơn vị tiền tệ của họ chia cho giá vàng chính thức của Hoa Kỳ sẽ cho tỷ giá chính thức, là mức giá cho đồng tiền của họ tính theo đô la. Họ có thể hoặc không mua và bán vàng tự do với mức giá chính thức, song họ cam kết giữ tỷ giá hối đoái cố định ở mức xác lập bởi giá vàng chính thức của hai nước bằng cách mua và bán USD theo nhu cầu tại mức tỷ giá. Theo hệ thống này, nếu người dân Hoa Kỳ, hoặc những người khác nắm giữ đồng đô la, chi tiêu (hoặc cho vay hoặc cho) ra nước ngoài một lượng đô la nhiều hơn lượng đô la mà những người nhận những đồng đô la này muốn chi tiêu (hoặc cho vay hoặc cho) vào Hoa Kỳ, thì những người nhận sẽ yêu cầu được nhận phần chênh lệch dưới dạng vàng. Vàng sẽ chảy từ Hoa Kỳ ra nước ngoài. Nếu lượng đô la mà những người nắm giữ ngoại tệ muốn chi tiêu (hoặc cho vay hoặc cho) vào nước Mỹ nhiều hơn so với  lượng đô la mà những người nắm giữ đồng đô la muốn chuyển đổi sang ngoại tệ để chi tiêu (hoặc cho vay hoặc cho) ra nước ngoài, tức là phần chênh lệch theo chiều hướng ngược lại, thì những người nắm giữ ngoại tệ sẽ thu phần đô la còn thiếu bằng cách mua chúng từ các ngân hàng trung ương của họ theo mức tỷ giá hối đoái chính thức. Các ngân hàng trung ương này lại nhận về phần đô la còn thiếu đó bằng cách gửi vàng cho Hoa Kỳ. (Tuy nhiên, hầu hết các giao dịch trên thực tế không thực sự liên quan đến việc vận chuyển vàng trên các tàu qua đại dương. Phần lớn vàng thuộc sở hữu của các ngân hàng trung ương nước ngoài đều được lưu trữ trong các két của Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York,"mang ký hiệu riêng" của quốc gia sở hữu nó. Quy trình chuyển giao chỉ đơn giản được thực hiện bằng cách thay đổi nhãn mác trên các két đựng vàng miếng trong tầng hầm sâu phía dưới tòa tháp ngân hàng tại số 33 phố Liberty trong khu vực Phố Wall.)

Nếu cuộc suy thoái bắt nguồn từ nước ngoài trong khi nền kinh tế Mỹ vẫn tiếp tục giai đoạn giãn nởthêmmột khoảng thời gian nữa, thì tình trạng kinh tế xấu đi ở nước ngoài sẽ làm giảm xuất khẩu của Mỹ và, bằng cách hạ thấp chi phí của hàng hóa nước ngoài sẽ khuyến khích nước Mỹ nhập khẩu. Kết quả là lượng đô la dùng để chi tiêu (hoặc cho vay hoặc cho) ra nước ngoài sẽ lớn hơn lượng đô la nước tiếp nhận muốn đưa vào sử dụng tạiHoa Kỳ và vàng sẽ chảy ra khỏi Hoa Kỳ. Dòng vàng chảy ra khỏi nước Mỹ sẽ làm giảm lượng vàng dự trữ của Fed. Và do đó sẽ buộc Fed  phải cắt giảm số lượng tiền. Đó là cách mà một hệ thống tỷ giá hối đoái cố định lan truyền áp lực giảm phát (hoặc lạm phát) từ nước này sang nước khác. Nếu đây đúng là diễn tiến của các sự kiện thì Fedhoàn toàn đúng khi tuyên bố rằng hành động của mình là đểphản ứng lại với những áp lực đến từ bên ngoài.

Ngược lại, nếu cuộc giảm phát bắt nguồn từ Hoa Kỳ, ảnh hưởng ban đầu sẽ là lượng đô la mà những người nắm giữ muốn chi tiêu ra nước ngoài sẽ giảm đi và những người nắm giữ ngoại tệ sẽ tăng nhu cầu đối với đồng đô la để có thể chi tiêu vào Hoa Kỳ. Bối cảnh này sẽ tạo ra một dòng vàng chảy vào Hoa Kỳ. Điều này sẽ mang đến áp lựckhiến các nước khácphải cắt giảm lượng tiền của họ và đó là cách ngăn chặn tình trạng giảm phát của Mỹ lan truyền sang những nước này.

Các dữkiện cung cấp cho ta một câu chuyện rất rõ ràng. Kho vàng của Mỹ tăng trong hai năm đầu của thời kỳ suy thoái, từ tháng 08 năm 1929 đến tháng 08 năm 1931; đây là bằng chứngcho thấy Hoa Kỳ là khởi nguồn của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu. Nếu như Fedtuân theo các quy định chế độ bản vị vàng, thì lẽ ra nó phải phản ứng với dòng vàng chảy vào trong nước bằng cách tăng lượng tiền. Thay vào đó, trên thực tế Fed lạigiảm lượng tiền đi.

Khi tình trạng suy thoái tiếp tục kéo dài và lây lan sang các nước khác, điều tất yếu xảy ra đó làHoa Kỳ cũng phải gánh chịu những ảnh hưởng phản xạ ngược trở lại– đây là một ví dụ khác minh hoạ cho đặc tính phản hồi khá phổ biến trong bất kỳ nền kinh tế phức tạp nào. Cỗ xe suy thoái mang tính quốc tế không dừng lại ở một chỗ. Pháp đã tích lũy một lượng lớn vàng như là kết quả của việc trở lại với chế độ bản vị vàng kể từ năm 1928 tại một mức tỷ giá hối đoái mà đồng franc đã bị định giá thấp. Do đó, quốc gia này có nhiều việc phải làm để chống trả với áp lực giảm phát đến từ Hoa Kỳ. Nhưng Pháp lại tiến hành chính sách giảm phát mạnh mẽ hơn so với Hoa Kỳ; và quốc gia này không chỉ bắt đầu gia tăng thêm kho vàng khổng lồ của họ, mà vào nửa cuối năm 1931, còn bòn rút vàng từ Hoa Kỳ. Phần thưởng tai hạicho việc dẫn đầu phong trào của quốc gia này là,trong khi nền kinh tế Mỹ đã chạm đáy và ngừng mọi thanh toán bằng vàng kể từ tháng 3 năm 1933, thì nền kinh tế Pháp tiếp tục dò đáy cho tới tận tháng 04 năm 1935.

Tác động đối với Fed

Một kết cục mỉa mai của chính sách tiền tệ ngoan cố mà Hội đồng quản trị Fed đưa ra bất chấp lời khuyên đúng đắn của Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York đó là Hội đồngđã giành chiến thắng tuyệt đối trong cuộc tranh giành quyền lực với Ngân hàng New York cũng như với các Ngân hàng Dự trữ liên bang khác. Người ta đã thêu dệt ra câu chuyệnhệ thống doanh nghiệp tư nhân, bao gồm cả hệ thống ngân hàng tư nhân, đã thất bại, và chính phủ cần có thêm sức mạnh để chống lại tính bất ổn mà người ta vẫn thường cáo buộc đối với thị trường tự do; nghĩa là sự thất bại của Fed đãtạo môi trường chính trị thuận lợi để Hội đồng quản trị Fed giành được quyền lực kiểm soát lớn hơn đối với các ngân hàng khu vực.

Một biểu tượng của sự thay đổi đó là việc Hội đồng quản trị Fed đã chuyển trụ sở văn phòng khiêm tốn trong tòa nhà Bộ Tài chính Mỹ đến một toà nhà riêng biệtkiến trúc kiểu Hy Lạp tráng lệ trên Đại lộ Constitution (sau này còn được bổ sung cải tạo thêm nhiều cấu trúc lớn nữa).

Mốc son cuối cùng đánh dấu thời kỳ chuyển đổi quyền lực đó là sự thay đổi đối vớitên gọi của Hội đồngquản trị và chức vụ của những người đứng đầu các ngân hàng khu vực. Trong giới ngân hàng trung ương,chức vụ cao quí nhấtlà Thống đốc (Governor), chứ không phải Chủ tịch (President). Từ năm 1913 đến năm 1935, người đứng đầu một ngân hàng khu vực được gọi "Thống đốc"; cơ quan trung ương ở Washington được gọi là "Hội đồng quản trịFed"; và chỉ có Chủ tịch của Hội đồng mới được gọi là "Thống đốc"; các thành viên còn lại chỉ đơn thuần là "thành viên Hội đồngquản trịFed."  Đạo luật Ngân hàng năm 1935 đã thay đổi tất cả. Người đứng đầu các ngân hàng khu vực được gọi là "Chủ tịch" thay vì là "Thống đốc"; và danh xưng ngắn gọn "Hội đồng quản trị Fed" được thay thế bằng tên gọi cồng kềnh "Hội đồng Thống đốc của Fed," với mục đích duy nhất là để mỗi thành viên trong Hội đồngđều được chỉ định là “Thống đốc”.

Thật không may, sự gia tăng quyền lực, uy tín, và tiện nghi phòng ốc đã không đi kèm với sự cải thiện tương ứng trong hoạt động. Từ năm 1935 Fed đã đóng vai trò trụ cột - và góp phần đáng kể vào - cuộc suy thoái trong giai đoạn 1937-1938, tình trạng lạm phát trong và ngay sau chiến tranh, và một nền kinh tế theo chu kỳ đồ thị hình sin, với tình trạng lạm phát hết lên rồi lại xuống và tình trạng thất nghiệp lúc giảmlúc tăngmột cách tương ứng. Đỉnh và đáy tạm thời của chukỳ lạm phát này lại chạm một mức cao hơn và sâu hơn so với chu kỳ lạm phát trước, đồng thời tỷ lệ thất nghiệp trung bình cũng dần dần gia tăng. Fed đã lặp lại sai lầm mà họ mắc phải trong giai đoạn 1929-33 – đó là cho phép haythậm chí đẩy nhanh quá trình sụp đổ củahệ thống tiền tệ – nhưng sai lầm của họ diễn ra theo chiều ngược lại, đó là nuôi dưỡng tốc độ tăng trưởng số lượng tiền ở mức chóng mặt và do đó thúc đẩy lạm phát. Ngoài ra, họ vẫn tiếp tục đi từ thái cực này đến thái cực khác,tạo ra không chỉ các giai đoạnbùng nổ mà cả những giai đoạn suy thoái , có cái nhẹ nhàng, có cái khủng khiếp.

Từ góc nhìn của mình, Fed luôn luôn giữ một quan điểm nhất quán. Họ đổ lỗi mọi vấn đề cho những ảnh hưởng bên ngoài vượt quá tầm kiểm soát của họ và nhận mọi công trạng trong toàn bộ các tình huống thuận lợi. Từ đó,họ tiếp tục cổ súy cho câu chuyện thêu dệtrằng nền kinh tế tư nhân luôn bất ổn, trong khi chính hành vi của họmới đích thực là minh chứng cho việc chính phủ là nguồn cơn chính yếu cho tình trạng bất ổn của nền kinh tế.

Nguyên tác: Free to choose: A personal statement, Milton & Rose Friedman

Bản dịch: Tự do lựa chọn: một bản tuyên ngôn cá nhân, nhóm dịch giả gồm Đinh Tuấn Minh, Chu Diệu Hiền, Nguyễn Minh Huệ, Nguyễn Thùy Liên