Tự do lựa chọn: Một bản tuyên ngôn cá nhân - Chương 2: Tính chuyên chế của các biện pháp kiểm soát (Phần 2)

Tự do lựa chọn: Một bản tuyên ngôn cá nhân - Chương 2: Tính chuyên chế của các biện pháp kiểm soát (Phần 2)

KẾ HOẠCH KINH TẾ TẬP TRUNG

Khi đi qua các nước kém phát triển, hết lần này đến lần khác chúng tôi nhận ra rằng có sự tương phản nổi bật giữa một bên là các sự kiện theo hình dung của các trí thức nơi đó cũng như của nhiều trí thức ở phương Tây và bên kia là các sự kiện diễn ra trong thực tế.

Trí thức nơi đâu cũng mặc định rằng chủ nghĩa tư bản tự do kinh doanh và thị trường tự do là các phương tiện khai thác bóc lột quần chúng, trong khi hoạch định kinh tế tập trung là làn sóng của tương lai, đưa đất nước đi vào con đường phát triển kinh tế nhanh chóng. Chúng tôi chưa thể nào quên được một trong những lời quở trách gay gắt mà chúng tôi nhận được từ một chủ doanh nghiệp nổi tiếng, rất thành công, và vô cùng triết lý người Ấn Độ - thoạt nhìn ông giống như hình mẫu mà chủ nghĩa Mác xít dùng làm biếm họa, một nhà tư bản to béo –khi ông phản ứng lại nhận xét của chúng tôi rằng [hình ảnh của] ông chính xác là bản phê phán về kế hoạch tập trung chi tiết của Ấn Độ. Ông nói với chúng tôi bằng một thái độ không chút mảy may nghi ngờ rằng chính phủ của một quốc gia nghèo như Ấn Độ cần phải kiểm soát nhập khẩu, hoạt động sản xuất trong nước, và phân bổ đầu tư – và, tuy không nói ra, cần phải ban cho ông những ưu đãi đặc biệt trong tất cả các lĩnh vực nhờ đó sự sung túc của ông được tạo ra - để đảm bảo rằng các ưu tiên xã hội được đặt lên trên các nhu cầu ích kỷ của cá nhân. Có thể thấy, ông chỉ đơn giản nhắc lại quan điểm của các giáo sư và các trí thức khác ở Ấn Độ cũng như nhiều nơi khác.

Thực tế diễn ra rất khác. Ở bất kỳ nơi đâu chúng ta tìm thấy sự hiện diện đáng kể của yếu tố tự do cá nhân, hay cho phép các công dân bình thường được quyền cải thiện tiện nghi vật chất theo ý muốn của mình, hay có sự hiện diện rộng khắp của niềm tin về tiến bộ trong tương lai, thì đó chính là nơi mà chúng ta cũng sẽ nhận ra rằng hoạt động kinh tế được tổ chức chủ yếu thông qua thị trường tự do. Ở bất kỳ nơi đâu mà nhà nước kiểm soát chi tiết các hoạt động kinh tế của người dân, hay những nơi theo chế độ kế hoạch hóa kinh tế tập trung đến từng chi tiết, những người dân bình thường nơi đó sẽ phải gánh chịu các xiềng xích chính trị, có mức sống thấp, và córất ít quyền lực để kiểm soát vận mệnh của chính mình. Nhà nước có thể thịnh vượng và tạo ra nhiều thànhtích ấn tượng. Các tầng lớp đặc quyền có thể tận hưởngđầy đủ các tiện nghi vật chất. Songnhững người dân bình thường chỉ là những công cụ được sử dụng vì các mục đích của nhà nước, và lợi ích mà họ nhận lại chỉ ở mức vừa đủ để khiến họ trở nên ngoan ngoãn và làm việc ở mức chăm chỉchấp nhận được.

Ví dụ rõ ràng nhất là sự tương phản giữa Đông Đức và Tây Đức, trước đây hai khu vực này đều là một phần của một quốc gia thống nhất, về sau chúng bị phân tách bởi những thăng trầm trong chiến tranh. Những con người chung một dòng máu, cùng nền văn minh, và có cùng trình độ kỹ nghệ cũng như kiến ​​thức, song sinh sống trên hai miền lãnh thổ tách biệt. Khu vực nào đã phát triển thịnh vượng? Khu vực nào đã dựng lên một bức tường để chia cắt người dân? Và khu vực nào ngày nay phải canh giữ bằng quân đội vũ trang, hỗ trợ bởi chó dữ, thiết lập các bãi mìn, và những thiết bị quỷ quái tương tự nhằm dập tắt ý đồ của các công dân dũng cảm và tuyệt vọng sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình để rời khỏi thiên đường cộng sản nơi đây và tìm tới địa ngục tư bản ở phía bên kia bức tường?

Ở một phía bức tường, đường phố rực rỡ ánh sáng và các cửa hàng vui vẻ, nhộn nhịp người qua lại. Một số đang mua sắm các món hàng đến từ khắp nơi trên thế giới. Một số khác thì đi tới các rạp chiếu phim hoặc những nơi giải trí khác. Họ có thể tự do mua sắm các tờ báo và tạp chí thể hiện rất nhiều ý kiến khác nhau. Họ nói chuyện với nhau hoặc với người lạ về chủ đề bất kỳ và thể hiện rất nhiều ý kiến ​​mà chẳng thèm nhìn trước ngó sau. Chỉ cần đi bộ vài trăm mét, bỏ ra một giờ đồng hồ xếp hàng, điền vào các tờ khai và chờ nhận lại hộ chiếu, và giống như chúng tôi, bạn sẽ được qua phía bên kia bức tường. Ở đó, các đường phố dường như vắng tanh; thành phố xám xịt và u ám; các rạp hàng trưng bày kỳ cục; những tòa nhà cáu bẩn. Những tàn tích thời chiến vẫn chưa được sửa chữa sau hơn ba thập kỷ. Dấu hiệu duy nhất của sự vui tươi hay hoạt động duy nhất mà chúng tôi tìm thấy trong chuyến viếng thăm ngắn ngủi tới Đông Berlin này là một trung tâm giải trí. Một giờ ở Đông Berlin là đủ cho bạn hiểu lý do tại sao các nhà chức trách lại dựng lên bức tường.

Thật kỳ diệu khi Tây Đức – quốc gia bại trận và bị tàn phá - đã trở thành một trong những nền kinh tế mạnh nhất trên lục địa châu Âu trong vòng chưa đầy một thập kỷ. Đó chính là phép lạ của thị trường tự do. Ludwig Erhard là một nhà kinh tế đồng thời cũng là Bộ trưởng Kinh tế Đức. Vào chủ nhật, ngày 20 tháng 6, năm 1948, ông công bố một loại tiền mới, chính là đồng Mark Đức ngày nay, và đồng thời bãi bỏ hầu hết các chính sách kiểm soát về tiền lương và giá cả. Ông đưa ra chính sách vào ngày chủ nhật, bởi như ông thường nói là văn phòng của các cơ quan toàn quyền chiếm đóng của Mỹ, Anh và Pháp đóng cửa vào ngày hôm đó. Các văn phòng này có thái độ ủng hộ các chính sách kiểm soát, thế cho nên ông tin chắc rằng nếu ông hành động khi các cơ quan này mở cửa, các nhà chức trách chiếm đóng sẽ yêu cầu ông rút lạichính sách. Các biện pháp của ông mang lạihiệu quả ấn tượng. Chỉ trong vài ngày các cửa hàng chất đầy hàng hóa. Trong vòng vài tháng, nền kinh tế Tây Đức sôi động hẳn lên.

Thậm chí hai nước cộng sản là Nga và Nam Tư cũng cung cấp cho chúng ta một ví dụ tương phản tương tự, nhưng kém sắc nét hơn. Nga kiểm soát một cách chặt chẽ từ trung tâm. Họ không thể bãi bỏ hoàn toàn sở hữu tư nhân và thị trường tự do, song cố gắng hạn chế phạm vi ảnh hưởng của chúng nhiều nhất có thể. Nam Tư cũng đã bắt đầu gia nhập chung con đường. Tuy nhiên, sau khi quan hệ giữa Nam Tư dưới thời Tito và Nga dưới thời Stalin đổ vỡ, quốc gia này đã thay đổi đường đi của mình một cách mạnh mẽ. Họ vẫn là một nước cộng sản nhưng chủ ý thúc đẩy hoạt động phân cấp và  việc sử dụng các lực lượng thị trường. Phần lớn đất nông nghiệp thuộc sở hữu tư nhân, sản phẩm từ những vùng đất này được bán trên các thị trường tương đối tự do. Các doanh nghiệp nhỏ (có dưới năm nhân viên) có thể được sở hữu và điều hành bởitư nhân. Loại hình doanh nghiệp này đang phát triển nở rộ, đặc biệt là trong các lĩnh vực thủ công mỹ nghệ và du lịch. Các doanh nghiệp lớn hơn tồn tại dưới hình thức các hợp tác xã - một hình thức tổ chức kém hiệu quả song ít nhất nó cũng mang đến cơ hội phát huy tinh trần trách nhiệm và sự chủ động ở mỗi cá nhân. Các công dân Nam Tư không được tự do. Họ có mức sống thấp hơn nhiều so với công dân của nước Áo láng giềng hay các quốc gia phương Tây khác. Tuy nhiên, Nam Tư vẫn khiến cho các du khách tham quan đến từ Nga cảm giác đây là một thiên đường nếu như so sánh giữa hai quốc gia, như chúng ta tham quan Đông Đức vậy.

Ở Trung Đông, bất chấp những tuyên bố về triết lý và các chính sách xã hội chủ nghĩa cũng như sự can thiệp sâu rộng của chính phủ vào trong nền kinh tế, Isarel vẫn có một khu vực thị trường mạnh mẽ, đây chủ yếu là một hệ quả gián tiếp của việc coi trọng ngoại thương. Các chính sách xã hội chủ nghĩa của quốc gia này đã kìm hãm tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên người dân nơi đây lại được tận hưởng một nền chính trị tự do hơn cũng như một tiêu chuẩn sống cao hơn rất nhiều so với người dân Ai Cập - quốc gia đã phải chịu nhiều đau khổ từ một chế độ tập quyền chính trị nặng nề hơn rất nhiều và quốc gia này cũng áp đặt nhiều biện pháp kiểm soát cứng nhắc lên hoạt động kinh tế.

Ở vùng Viễn Đông, các quốc gia như Malaysia, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, và Nhật Bản đều dựa chủ yếu vào thị trường tư nhân và đang trên đà phát triển mạnh. Người dân của họ tràn đầy hy vọng. Một cuộc bùng nổ kinh tế đang diễn ra tại các nước này. Những con số ước tính đưa ra đều ở mức cao nhất, thu nhập bình quân đầu người hàng nămở các quốc gia  này hồi cuối những năm 1970 dao động từ khoảng 700 USD tại Malaysia đến khoảng 5.000 USD tại Nhật Bản. Ngược lại, Ấn Độ, Indonesia, và Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa đều chủ yếu dựa vào kế hoạch tập trung, và đã phải trải qua tình trạng nền kinh tế đình trệ cũng như các cuộc đàn áp chính trị. Thu nhập hàng năm tính theo đầu người ở những quốc này chưa đến 250 USD.

Những người trí thức biện hộ cho kế hoạch kinh tế tập trung đã ca ngợi Mao chủ tịch của Trung Quốc cho đến khi những người kế nhiệm Mao loan truyền về sự lạc hậu của Trung Quốc và than vãn về sự kém tiến bộ trong hai mươi lăm năm qua. Một phần trong kế hoạch hiện đại hóa đất nước của họ là để cho giá cả và thị trường đóng vai trò to lớn hơn. Những chiến thuật này sẽ giúp tạo ra lợi ích tương đối lớn từ trình độ kinh tế thấp như hiện nay của họ - giống như những gì Nam Tư đã làm. Tuy nhiên, cho đến chừng nào mà các biện pháp kiểm soát chính trị vẫn duy trì chặt chẽ đối với hoạt động kinh tế và sở hữu tư nhân vẫn bị giới hạn trong phạm vi hạn hẹp thì những lợi ích này sẽ vẫn bị hạn chế một cách đáng kể. Nhưng nếu để các sáng kiến ​​cá nhân vượt qua dù chỉ là phạm vi hạn chế này thôi cũng sẽ làm phát sinh các vấn đề chính trị mà chẳng sớm thì muộn sẽ dẫn đến nguy cơ tạo ra một động thái phản ứng có xu hướng độc đoán hơn. Kết quả trái ngược, tức sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản và  bị thay thế bằng một hệ thống kinh tế thị trường, dường như ít có khả năng xảy ra hơn;nhưng là những người luôn luôn lạc quan, chúng ta không thể loại trừ khả năng này một cách hoàn toàn. Tương tự như vậy, khi ngài Marshal Tito tuổi cao sức yếu mất đi, Nam Tư sẽ phải trải qua thời kỳ bất ổn chính trị mà có thể tạo ra một động thái phản ứng hướng tới chủ nghĩa độc đoán hơn nữa hoặc chiều hướng ít có khả năng hơn đó là sự sụp đổ của các cơ chế tập thể hiện tại.

Một ví dụ minh hoạ đặc sắc, đáng xem xét chi tiết hơn, đó là sự tương phản giữa những kinh nghiệm của Ấn Độ và Nhật Bản; so sánh Ấn Độ trong ba mươi năm đầu tiên sau khi giành được độc lập kể từ năm 1947 với Nhật Bản, nhưng không phải Nhật Bản ngày nay mà là trong ba mươi năm đầu tiên của thời kỳ Duy Tân Minh Trị kể từ năm 1867. Các nhà kinh tế và các nhà khoa học xã hội nói chung hiếm khi có thể tiến hành những thí nghiệm có kiểm soát, có ý nghĩa quan trọng để kiểm nghiệm các giả thuyết giống như trong các ngành khoa học vật lý. Tuy nhiên, kinh nghiệm thực tế đã cho kết quả rất gần với một thí nghiệm có kiểm soát mà chúng ta có thể vận dụng để kiểm tra tầm quan trọng của sự khác biệt trong cách thức tổ chức kinh tế.

Có một sự tương đồng trong tám thập kỷ giữa hai quốc gia. Về mọi khía cạnh khác, hai nước đã đang trong những hoàn cảnh tương đồng ở thời điểm bắt đầu của các thời kỳ chúng ta so sánh. Cả hai đều là các quốc gia có nền văn minh cổ đại và một nền văn hóa tinh tế, phức tạp. Mỗi nước đều có lực lượng dân số được phân tầng cao. Nhật Bản theo cấu trúc phong kiến ​​với các daimyos (lãnh chúa phong kiến) và các nông nô. Ấn Độ có một hệ thống giai cấp cứng nhắc với các giáo sĩ (Brahman) thuộc tầng lớp trên và các tiện dân, được thực dân Anh gọi là "đẳng cấp ngoài lề," (scheduled caste) ở dưới cùng.

Cả hai nước đều trải qua một thời kỳ thay đổi chính trị to lớn cho phép chuyển đổi mạnh mẽ các cơ cấu chính trị, kinh tế và xã hội. Ở cả hai nước, một nhóm các lãnh đạo có năng lực và tận tâm đã lên nắm quyền. Họ thấm nhuần niềm tự hào dân tộc và quyết tâm đưa nền kinh tế đang ở trạng thái trì trệ trở thành một nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng, để quốc gia của họ có thể sánh vai với các cường quốc.

Hầu hết các điểm khác biệt có lợi đều nghiêng về phía Ấn Độ hơn là Nhật Bản. Các quy định trước đây của Nhật Bản đã cách ly gần như hoàn toàn đất nước này với phần còn lại của thế giới. Thương mại và giao thương quốc tế chỉ giới hạn trong chuyến viếng thăm một lần trong một năm từ một chiếc tàu Hà Lan. Một vài người phương Tây được phép ở lại quốc gia này song bị giới hạn trong một vùng đất nhỏ trên một hòn đảo ở cảng Osaka. Hơn ba thế kỷ thực hiện chính sách bế quan tỏa cảng đã khiến Nhật Bản không hay biết gì về thế giới bên ngoài, về nền khoa học và công nghệ ở một phương Tây xa xôi, và gần như không người dân Nhật Bản nào có thể nói hoặc đọc một ngoại ngữ nào khác ngoài tiếng Trung Quốc.

Ấn Độ đã may mắn hơn rất nhiều. Quốc gia này đã đạt được mức tăng trưởng kinh tế đáng kể vào thời điểm trước chiến tranh thế giới I. Tình trạng tăng trưởng này chuyển sang trạng thái đình trệ trong khoảng thời gian giữ hai cuộc thế chiến do đất nước này phải tham gia cuộc đấu tranh giành độc lập từ thực dân Anh nhưng không thành. Những thành tựu cải tiến trong giao thông vận tải đã chấm dứt nạn đói cục bộ mà trước đó đã từng là một thảm họa tái diễn theo chu kỳ. Nhiều người trong số các nhà lãnh đạo của họ đã được đào tạo tại các nước phương Tây tân tiến, đặc biệt là ở Anh. Trong thời kỳ cai trị của mình, Anh Quốc đã để lại quốc gia này một đội ngũ công chức trình độ cao và được đào tạo bài bản, các nhà máy hiện đại, cũng như một hệ thống đường sắt tuyệt vời. Không có thứ gì trong số những điều tốt đẹp này tồn tại ở Nhật Bản vào năm 1867. Ấn Độ lạc hậu về công nghệ so với phương Tây, tuy nhiên sự khác biệt này kém xa rất nhiều khi so sánh Nhật Bản tại thời điểm năm 1867 với các nước tiên tiến của thời bấy giờ.

Các nguồn lực tài nguyên của Ấn Độ cũng lớn hơn nhiều so với Nhật Bản. Lợi thế tài nguyên duy nhất mà Nhật Bản có là biển, tạo điều kiện thuận lợi cho vận tải và mang lại một nguồn cung hải sản dồi dào. Quan trọng hơn cả là, lãnh thổ Ấn Độ rộng gần gấp chín lần lãnh thổ Nhật Bản, và phần lớn lãnh thổ Ấn Độ là những vùng đất ở độ cao trung bình,  có thể tiếp cận.Trong khi lãnh thổ của Nhật Bản chủ yếu là núi cao; quốc gia này chỉ có một dải đất hẹp có khả năng sinh sống và canh tác dọc bờ biển.

Cuối cùng, Nhật Bản phải tự dựa vào chính mình. Không có nguồn vốn nước ngoài nào đầu tư vào Nhật Bản; không chính phủ nước ngoài hay tổ chức nước ngoài ở các nước tư bản chủ nghĩa nào thành lập các định chế để thực hiện trợ cấp hoặc cho vay lãi suất thấp đối với Nhật Bản. Họ đã tự dựa vào nguồn vốn của chính mình để phát triển kinh tế đất nước. Vận may mắn duy nhất đã đến với họ. Trong những năm đầu sau cuộc Duy Tân Minh Trị, châu Âu đã phải trải qua những vụ mùa thu hoạch tơ lụa thất bát, và điều này đã giúp cho Nhật Bản kiếm  nhiều ngoại tệ hơn bằng cách xuất khẩu tơ lụa nhiều hơn mức bình thường. Ngoài may mắn đó, không còn nguồn vốn đáng kể nào khác dù là ngẫu nhiên hay nằm trong kế hoạch.

Ấn Độ ở tình trạng tốt hơn nhiều. Kể từ khi giành được độc lập vào năm 1947, quốc gia này đã nhận được một lượng khổng lồ các nguồn lực từ phần còn lại của thế giới, chủ yếu dưới dạng quà tặng. Dòng chảy này vẫn tiếp tục cho đến ngày hôm nay.

Mặc dù có nhiều hoàn cảnh tương đồng giữa Nhật Bản năm 1867 và Ấn Độ năm 1947,  nhưng kết quả lại khác xa nhau rất nhiều. Nhật Bản tháo dỡ cấu trúc phong kiến ​​và mở rộng cơ hội kinh tế và xã hội cho tất cả các công dân của mình. Vận mệnh của người dân bình thường đã được cải thiện nhanh chóng, ngay cả khi dân số bùng nổ. Nhật Bản đã trở thành một cường quốc đáng nể trọng trên chính trường quốc tế. Tuy không trao toàn bộ quyền tự do chính trị và tự do cá nhân cho người dân, nhưng quốc gia này đã có một bước tiến lớn trên con đường đó.

Ấn Độ rao giảng rất nhiều về việc xóa bỏ các rào cản đẳng cấp nhưng những tiến bộ thực tế đạt được thì rất ít. Khoảng cách thu nhập và chênh lệch giàu nghèo giữa một nhóm nhỏ so với phần lớn người dân, thay vì thu hẹp lại, ngày một lớn hơn. Dân số bùng nổ, giống như bối cảnh ở Nhật Bản tám thập kỷ trước đó, trong khi sản lượng kinh tế bình quân đầu người không hề tăng. Chỉ số này gần như đứng yên.

Trên thực tế, tiêu chuẩn sống của nhóm một phần ba dân số nghèo nhất đã giảm sút. Sau khi thoát khỏi ách đô hộ của thực dân Anh, Ấn Độ đã tự hào là nền dân chủ lớn nhất trên thế giới, tuy nhiên có thời kỳ danh hiệu này đã mất đi và thay vào đó Ấn Độ lạc vào con đường độc tài, tiến hành hạn chế quyền tự do ngôn luận và báo chí. Hiện nayẤn Độ đang có nguy cơ rơi trở lại con đường đó một lần nữa.

Điều gì giải thích cho việc các kết quả của hai quốc gia này khác nhau đến vậy? Nhiều nhà quan sát cho rằng nguyên nhân là do sự khác nhau trong thể chế xã hội và các đặc điểm con người. Những điều cấm kỵ trong tôn giáo, hệ thống đẳng cấp xã hội, một triết lý mang nặng tính định mệnh – có thể nói tất cả những điều này đã giam hãm người dân Ấn Độ trong một chiếc áo chật hẹp. Người Ấn Độ được nhận xét là không gan dạ và biếng nhác. Ngược lại, người Nhật được ca ngợi với những đức tính như chăm chỉ, năng động, sẵn sàng đáp lại những ảnh hưởng từ thế giới bên ngoài, và cực kỳ khéo léo trong việc biến đổi những gì họ học hỏi được từ bên ngoài cho phù hợp với nhu cầu của bản thân họ.

Những mô tả này có thể đúng với người Nhật ngày nay. Nhưng người Nhật năm 1867 thì không như vậy. Một trong những người ngoại quốc đầu tiên đặt chân đến Nhật Bản đã viết rằng: "Chúng tôi không nghĩ rằng quốc gia này [Nhật Bản] sẽ có ngày trở nên giàu có. Họ chẳng được thiên nhiên ban tặng gì cả, ngoại trừ khí hậu, thói biếng nhác và ham hưởng thụ sẽ ngăn cản người dân Nhật Bản đến với con đường làm giàu. Người Nhật là một chủng tộc hạnh phúc, luôn bằng lòngvới những thứ ít ỏi họ có, thế cho nên họ sẽ chẳng bao giờ đạt được điều gì lớn hơn". Một người khác viết: "Trên vùng đất này, những nguyên lý, được thiết lập và công nhận ở phương Tây, dường như mất đi mọi điều tốt đẹp và sức sống vốn có của chúng; chúng có xu hướng lụi tàn và tha hóa."

Tương tự như vậy, những mô tả về người Ấn Độ có thể đúng với một số người Ấn Độ sống trên đất Ấn Độ ngày nay, thậm chí có thể đúng với hầu hết người Ấn Độ, nhưng chắc chắn không đúng với người Ấn đã di cư đi nơi khác. Ở nhiều nước châu Phi, ở Malaya, Hồng Kông, quần đảo Fiji, Panama, và gần đây nhất là Anh, có những nhà khởi tạo kinh doanh thành đạt người Ấn Độ, trong nhiều trường hợp họ thậm chí còn tạo thành trụ cột của tầng lớp nghiệp chức khởi tạo. Họ thường là các động lực khởi nguồn và thúc đẩy phát triển kinh tế. Chỉ tính riêng tại Ấn Độ, các ốc đảo doanh nghiệp, những người dám dấn thân, hình thành và tồn tại ở bất cứ nơi đâu có khả năng thoát khỏi bàn tay kiểm soát mang tính hủy diệt của chính phủ.

Trong mọi trường hợp, tiến bộ về kinh tế và xã hội không phụ thuộc vào đặc tính hoặc hành vi của quần chúng. Ở mỗi quốc gia đều xảy ra tình trạng một nhóm thiểu số bé nhỏ đề ra tiến độ và xác định tiến trình các sự kiện. Ở những nước phát triển nhanh nhất và thành công nhất, một số ít các cá nhân dám nghĩ dám làm và chấp nhận rủi ro đã tiến lên phía trước, tạo cơ hội cho những người đi sau làm theo, và cho phép đa số còn lại tăng năng suất lao động của họ.

Các đặc tính của người Ấn Độ mà nhiều nhà quan sát bên ngoài phàn nàn chỉ phản ánh chứ không phải là nguyên nhân dẫn đến sự thiếu tiến bộ. Nếu như làm việc chăm chỉ và chấp nhận rủi ro lại không hề được tưởng thưởng thì tình trạng lười biếng và thiếu động lực kinh doanh sẽ lan tràn. Một triết lý nặng tính định mệnh là một nguồn cơn dẫn đến trì trệ. Ấn Độ không thiếu người với những phẩm chất có thể châm ngòi và tiếp nhiên liệu cho sự nghiệp phát triển kinh tế như Nhật Bản đã từng trải qua sau năm 1867, hay có thể kể đến như những gì Tây Đức và Nhật Bản từng làm sau Thế chiến II. Trên thực thế, bi kịch thực sự của Ấn Độ là ở chỗ nó vẫn là một tiểu lục địa đông đúc với những người nghèo nhất trong khi đáng ra, như chúng ta vẫn hằng tin, nó có thể là một xã hội phát triển, mạnh mẽ, ngày càng thịnh vượng và tự do.

Gần đây, chúng ta bắt gặp một ví dụ thú vị về cách thức một hệ thống kinh tế ảnh hưởng đến các phẩm chất của người dân. Người Trung Quốc đã đổ xô tới Hồng Kông sống tị nạn sau khi những người cộng sản giành được quyền lực; những người này đã tạo ra một thời kỳ phát triển kinh tế ấn tượng cho Hồng Kông, hoàn toàn xứng đáng với danh hiệu về tinh thần sáng tạo, táo bạo, tiết kiệm, và chịu khó. Chính sách cho phép tự do di cư của Trung Cộng gần đây đã dẫn đến một thế hệ những người nhập cư mới - từ cùng nguồn chủng tộc, với cùng các truyền thống văn hóa cơ bản, song được nuôi dưỡng và định hình bởi ba mươi năm cầm quyền của chính quyền cộng sản. Chúng tôi nghe được từ một số công ty có thuê những người tị nạn nói rằng họ hoàn toàn khác so với những người trước đó nhập cư từ Trung Quốc vào Hồng Kông. Những người nhập cư mới thể hiện sự kém chủ động và muốn được nói chính xác họ phải làm gì. Họ thụ động và kém hợp tác. Không nghi ngờ gì, sau một vài năm lăn lộn trên thị trường tự do của Hồng Kông, những phẩm chất này sẽ bị thay đổi hoàn toàn.

Vậy điều gì giải thích cho những trải nghiệm khác nhau của Nhật Bản trong giai đoạn 1867-1897 và Ấn Độ từ năm 1947 đến nay? Chúng ta tin rằng lời giải thích cũng tương tự như đối với sự khác biệt giữa Tây Đức và Đông Đức, Israel và Ai Cập, Đài Loan và Trung Cộng. Nhật Bản chủ yếu dựa vào hợp tác tự nguyện và các thị trường tự do - theo mô hình của Anh trong cùng thời kỳ phát triển của mình. Ấn Độ thì dựa vào kế hoạch kinh tế tập trung - theo mô hình của Anh trong cùng thời kỳ phát triển của mình.

Chính phủ Minh Trị đã can thiệp bằng nhiều cách và đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển. Họ gửi nhiều người Nhật ra nước ngoài để đào tạo kỹ thuật. Họ nhập khẩu các chuyên gia nước ngoài. Họ thành lập các nhà máy tiên phong trong nhiều ngành công nghiệp và trợ cấp cho nhiều ngành nghề khác. Thế nhưng họ chưa bao giờ cố gắng kiểm soát tổng lượng đầu tư cũng như định hướng đầu tư hoặc cơ cấu sản lượng. Chính phủ vẫn chỉ duy trì sự quan tâm lớn đối với ngành đóng tàu và các ngành công nghiệp sắt thép mà họ cho là cần thiết để đảm bảo sức mạnh quân sự. Họ giữ lại những ngành công nghiệp này bởi chúng không hấp dẫn đối với doanh nghiệp tư nhân và đòi hỏi chính phủ phải trợ cấp đáng kể. Các khoản trợ cấp nàythực sự là một sự thất thoát tài nguyên đối với Nhật Bản. Chúng cản trở thay vì kích thích phát triển nền kinh tế Nhật Bản. Cuối cùng, một hiệ pước quốc tế đã cấm Nhật Bản trong ba thập kỷ đầu tiên sau thời kỳ Duy Tân Minh Trị không được áp đặt mức thuế quan lớn hơn mức 5%. Hạn chế này đã chứng tỏ nó mang lại lợi ích không hề nhỏ cho Nhật Bản, mặc dù nó đã bị phản đối vào thời điểm đó, và các loại thuế quan đã được nâng lên sau khi hiệp ước cấm đoán hết hiệu lực.

Ấn Độ đang theo đuổi một chính sách khác hoàn toàn. Các nhà lãnh đạo nơi đây đánh đồng chủ nghĩa tư bản với chủ nghĩa đế quốc, và cần tránh xa bằng mọi giá. Họ bắt tay vào một loạt các kế hoạch năm năm kiểu Nga trong đó vạch ra các chương trình đầu tư chi tiết. Một số lĩnh vực sản xuất chỉ dành riêng cho chính phủ; trong khi một số lĩnh vực khác thì cho phép các hãng tư nhân được phép hoạt động, song bắt buộc phải tuân thủ theo Kế hoạch. Thuế quan nhập khẩu và hạn ngạch kiểm soát nhập khẩu, chính sách trợ cấp kiểm soát xuất khẩu. Tự lực tự cường  trở thành lý tưởng. Không cần phải nói, những biện pháp này dẫn đến tình trạng thiếu ngoại hối. Đây là kết quả của chính sách kiểm soát ngoại hối chi tiết và sâu rộng – nguồn cơn chính cho sự thiếu hiệu quả và vì những đặc quyền đặc biệt. Tiền lương và giá cả cũng bị kiểm soát. Cần có giấy phép của chính phủ thì mới được xây một nhà máy sản xuất hoặc thực hiện bất kỳ hoạt động đầu tư nào khác. Các loại thuế nhan nhản khắp mọi nơi, trên giấy tờ thì rất chi li chặt chẽ, song thường bị trốn trên thực tế. Nạn buôn lậu, thị trường chợ đen, các giao dịch bất hợp pháp dưới mọi hình thức là những mảnh ghép phổ biến như các thứ thuế, vi phạm pháp luật xét theo mọi khía cạnh, song đóng một vai trò xã hội có giá trị, đó là ở một mức độ nào đó chúng bù đắp cho tính cứng nhắc của kế hoạch tập trung và cho phép những nhu cầu cấp bách được phép thỏa mãn.

Việc trông cậy vào cơ chế thị trường của Nhật Bản đã giải phóng các nguồn tài nguyên và sự khéo léo của con người kể cả dưới dạng tiềm ẩn hay tường minh. Nó đã ngăn chặn các nhóm lợi ích chống lại sự thay đổi. Nó buộc quá trình phát triển phải phù hợp với thử nghiệm khắc nghiệt về tính hiệu quả. Sự phụ thuộc vào các biện pháp kiểm soát của chính phủ Ấn Độ không khuyến khích sáng kiến ​​hoặc hướng chúng vào những kênh lãng phí. Nó bảo vệ các nhóm đặc quyền đặc lợi khỏi những tác động thay đổi. Nó thay thế tính hiệu quả thị trường bằng các quyết định quan liêu để làm tiêu chí lựa chọn ai được ai mất.

Kinh nghiệm ở hai quốc gia có hàng dệt may thủ công và hàng dệt may do nhà máy sản xuất cho ta ví dụ minh họa về sự khác biệt trong chính sách. Cả Nhật Bản tại thời điểm năm 1867 và Ấn Độ năm 1947 đều mở rộng sản xuất hàng dệt may trong nước. Tại Nhật Bản, cạnh tranh nước ngoài không có nhiều ảnh hưởng đối với ngành sản xuất lụa trong nước, có lẽ là nhờ lợi thế của Nhật Bản trong sản xuất tơ lụa thô lại càng được tăng cường bởi sự kiện mất mùa ở châu Âu, tuy nhiên nó đã xóa sổ nghề quay bông trong nước và sau đó là vải bông dệt tay. Ngành công nghiệp dệt may của Nhật Bản đã thực sự phát triển. Lúc đầu, họ chỉ sản xuất được các loại vải thô nhất và cấp thấp nhất, nhưng sau đó chuyển sang các loại cao cấp hơn và cuối cùng trở thành một ngành công nghiệp xuất khẩu chính.

Ở Ấn Độ, ngành dệt thủ công được trợ cấp và đảm bảo có một thị trường, bị cáo buộc là chậm chuyển đổi sang mô hình sản xuất nhà máy. Mô hình sản xuất nhà máy đang dần dần phát triển nhưng nó đã bị kìm hãm lại một cách có chủ ý để bảo vệ ngành dệt thủ công. Bảo vệ có nghĩa là mở rộng. Số lượng các khung dệt thủ công đã tăng gần gấp đôi từ năm 1948 đến năm 1978. Ngày nay, trong hàng nghìn ngôi làng trên khắp Ấn Độ, người ta có thể nghe âm thanh của những khung dệt tay từ sáng sớm cho đến đêm khuya. Ngành dệt thủ công không có gì là không tốt cả nếu như nó có thể cạnh tranh công bằng với các ngành công nghiệp khác. Tại Nhật Bản, một ngành dệt thủ công thịnh vượng, mặc dù có quy mô cực kỳ nhỏ vẫn còn tồn tại. Họ dệt loại lụa sang trọng cùng nhiều chất liệu khác nữa. Ở Ấn Độ, ngành dệt thủ công thịnh vượng là bởi nó được chính phủ trợ cấp. Trên thực tế, thuế được áp đặt lên những người cũng chẳng khấm khá gì hơn so với các thợ dệt thủ công để có thể nâng cao thu nhập cho các thợ dệt thủ công so với mức họ có thể nhận được trên thị trường tự do.

Vào đầu thế kỷ XIX, Anh đã phải đối mặt với vấn đề giống hệt những gì mà Nhật Bản đã phải trải qua trong một vài thập kỷ sau đó và Ấn Độ trong hơn một thế kỷ sau đó. Ngành dệt công nghiệp đe dọa phá hủy ngành dệt thủ công thịnh vượng. Một ủy ban hoàng gia đã được bổ nhiệm điều tra về ngành này. Ủy ban đã công khai xem xét chính sách mà Ấn Độ theo đuổi: trợ cấp ngành dệt thủ công và đảm bảo thị trường cho ngành này. Họ bác bỏ chính sách này dựa trên lập luận rằng nó sẽ khiến vấn đề cơ bản, đó là tình trạng dư thừa thợ dệt thủ công, trở nên tồi tệ hơn – đây chính xác là những gì đã xảy ra ở Ấn Độ. Vương quốc Anh thông qua giải pháp tương tự như Nhật Bản – chính sách khắc nghiệt tạm thời nhưng suy cho cùng lại là giải pháp mang lại nhiều lợi ích khi để các lực lượng thị trường điều chỉnh.

Kinh nghiệm tương phản giữa Ấn Độ và Nhật Bản thật sự thú vị bởi chúng không chỉ đưa ra các kết quả khác nhau rõ nét từ hai phương pháp tổ chức kinh tế mà còn cho thấy giữa các mục tiêu theo đuổi và các chính sách được thông qua có mối quan hệ lỏng lẻo. Các mục tiêu của những nhà cai trị trong thời kỳ Duy Tân Minh Trị - những người tận tâm tăng cường sức mạnh và vinh quang cho đất nước của họ và cũng là những người ít đề cao giá trị của quyền tự do cá nhân – dường như đồng điệu với các chính sách của Ấn Độ hơn là với những chính sách mà Nhật Bản thực sự áp dụng. Các mục tiêu của các nhà lãnh đạo mới của Ấn Độ - những người đã hăng hái ủng hộ tự do cá nhân – lại dường như đồng điệu hơn với các chính sách của Nhật Bản so với những chính sách mà Ấn Độ thực sự áp dụng.

 

KIỂM SOÁT VÀ TỰ DO

Mặc dù Hoa Kỳ không áp dụng chế độ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, chúng ta đã đi rất xa trong năm mươi năm qua trên con đường mở rộng vai trò của chính phủ trong nền kinh tế. Sự can thiệp này rất tốn kém về mặt kinh tế. Những hạn chế đối với tự do kinh tế của chúng ta có nguy cơ đưa hai thế kỷ của những tiến bộ kinh tế đi đến hồi kết. Can thiệp cũng gây tốn kém về mặt chính trị. Nó đã hạn chế rất nhiều quyền tự do cá nhân (human freedom) của chúng ta.

Mỹ vẫn là một quốc gia tự do nổi bật - một trong những nước lớn tự do nhất trên thế giới. Tuy nhiên, theo lời trong bài phát biểu nổi tiếng của Abraham Lincoln "Ngôi nhà bị chia rẽ" (House Divided), "Một ngôi nhà mà bị chia rẽ thì không thể đứng được.... Tôi không mong ngôi nhà bị đổ, mà tôi hy vọng nó sẽ ngừng chia rẽ. Tất cả sẽ gộp thành một, đại diện cho tất cả, dù là nghiêng về bên nào." Chủ đề ông đang nói ở đây là về chế độ nô lệ. Những lời tiên tri của ông cũng ứng nghiệm đối với hành động can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế. Liệu khi hành động này tiến xa hơn, ngôi nhà chia rẽ của chúng ta có nghiêng về phía chủ nghĩa tập thể không. May mắn thay, bằng chứng cho thấy rằng công chúng đang dần nhận ra hiểm họa và quyết tâm ngăn chặn cũng như đảo ngược xu hướng đối với chính quyền ngày càng bành trướng.

Tất cả chúng ta đều bị ảnh hưởng bởi tình trạng hiện tại. Chúng ta có xu hướng coi tình trạng hiện tại như là cái gì đó đương nhiên, như là trạng thái tự nhiên của sự việc, đặc biệt là khi nó đã được định hình bởi một loạt các thay đổi nhỏ dần dần. Thật khó để có thể đánh giá hiệu ứng tích lũy to lớn nhường nào. Trí tưởng tượng của chúng ta cần phải thoát ra khỏi hoàn cảnh hiện tại và quan sát sự việc với đôi mắt không vướng bận. Đó là nỗ lực thật sự đáng làm. Kết quả có lẽ sẽ khiến bạn ngạc nhiên, nếu như không muốn nói là một cú sốc.

 

Tự do kinh tế

Một phần thiết yếu của tự do kinh tế là tự do lựa chọn cách sử dụng thu nhập của chúng ta: chúng ta chi bao nhiêu cho chăm sóc bản thân và bao nhiêu cho mua sắm các mặt hàng; tiết kiệm bao nhiêu và dưới hình thức nào; bao nhiêu để cho đi và cho ai. Hiện nay, hơn 40% thu nhập của chúng ta do chính phủ quyết định sử dụng thay cho chúng ta vào các việc ở toàn bộ các cấp liên bang, tiểu bang, và địa phương. Có một người đã từng đề xuất thêm một ngày nghỉ lễ toàn quốc, "Ngày Độc lập Cá nhân – vào ngày đó trong năm, chúng ta sẽ ngừng làm việc để trả cho các chi phí của chính phủ. . . và bắt đầu làm việc để trả cho các mặt hàng mà cá nhân chúng ta thỉnh thoảng lựa chọn theo nhu cầu cũng như mong muốn của chính chúng ta". Vào năm 1929, ngày nghỉ đó lẽ ra đã diễn ra vào ngày sinh nhật của Abraham Lincoln, tức ngày 12 tháng 2; thời nay, ngày đó có lẽ ra diễn ra vào ngày 30 tháng 5; nếu những xu hướng hiện tại tiếp diễn, vào khoảng năm 1988, ngày lễ đó có thể sẽ trùng với một Ngày Độc lập khác, ngày 4 tháng 7.

Tất nhiên, chúng ta cần nói thêm đôi điều về khoản thu nhập mà chính quyền thay mặt chúng ta chi tiêu. Chúng ta tham gia vào tiến trình chính trị dẫn đến khoản chi của chính quyền tương đương với số tiền bằng hơn 40% thu nhập của chúng ta. Nguyên tắc đa số là một phương cách cần thiết và đáng muốn, cho dù chúng ta không thấy thỏa mái lắm. Tuy nhiên, việc này rất khác so với kiểu tự do bạn có khi đi mua sắm tại một siêu thị. Khi bạn đi bỏ phiếu hằng năm, bạn gần như luôn luôn bỏ phiếu cho cả một gói thay vì những món hàng cụ thể. Nếu bạn thuộc phe đa số, bạn sẽ có được cả các món hàng mình thích lẫn những  món hàng mà bạn phản đối, song có thể coi như những món hàng bạn không thích là những thứ ít quan trọng hơn. Nói chung, kết quả cuối cùng thu về sẽ khác so với những gì bạn nghĩ bạn đã bỏ phiếu cho. Nếu bạn trong nhóm thiểu số, bạn phải tuân theo phiếu bầu của đa số và chờ tới lượt sau. Còn khi bạn lựa chọn hàng hóa trong siêu thị, bạn sẽ có đúng thứ bạn chọn, và tất cả mọi người cũng vậy. Thùng phiếu yêu cầu tuân thủ tuy không ép buộc; còn thị trường thì không ép buộc cũng như không yêu cầu tuân thủ. Đó là lý do tại thùng phiếu lại cần thiết, và có lẽ chỉ nên dùng cho, những quyết định đòi hỏi tính tuân thủ cao.

Là người tiêu dùng, chúng ta thậm chí không có tự do lựa chọn cách chi tiêu phần thu nhập sau thuế của chúng ta. Chúng ta không được tự do mua cyclamates hoặc laetrile, và có lẽ cả saccharin. Bác sĩ của chúng ta không được phép tự do kê một số loại thuốc cho chúng ta, những loại thuốc theo ông là hữu dụng để điều trị các chứng bệnh cho chúng ta, mặc dù các loại thuốc này có thể vẫn được sử dụng rộng rãi ở nước ngoài. Chúng ta không được tự do mua một chiếc xe ô tô mà không có dây an toàn, dù là sau đó chúng ta vẫn có thể tự do lựa chọn có thắt dây an toàn hay không.

Một phần thiết yếu của tự do kinh tế là tự do sử dụng các nguồn lực mà chúng ta có sao cho phù hợp với các giá trị của chúng ta – tự do gia nhập bất kỳ ngành nghề nào, tham gia vào doanh nghiệp bất kỳ, mua và bán cho bất cứ ai, miễn là chúng ta làm vậy trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và không sử dụng vũ lực để ép buộc người khác.

Ngày nay, bạn không được tự do cung cấp dịch vụ của một luật sư, bác sĩ, nha sĩ, thợ sửa ống nước, thợ cắt tóc, thợ cải táng, hay tham gia vào một loạt các ngành nghề khác khi chưa xin được giấy phép hoặc giấy đăng ký từ một quan chức chính phủ. Bạn không được tự do làm thêm giờ theo các điều khoản thỏa thuận chung giữa bạn và chủ lao động của bạn, trừ khi những điều khoản này phù hợp với các đạo luật và các quy định đặt ra bởi một quan chức chính phủ.

Bạn không được tự do thành lập ngân hàng, tự do tham gia kinh doanh dịch vụ taxi, hay bán điện hoặc dịch vụ điện thoại, hoặc vận hành một tuyến đường sắt, một tuyến đường xe bus, hoặc một hãng hàng không mà không được sự cho phép từ một quan chức chính phủ.

Bạn không được tự do huy động vốn trên thị trường vốn trừ khi bạn hoàn thành những mẫu đơn kéo dài nhiều trang giấy mà SEC yêu cầu và trừ khi bạn thuyết phục được SEC rằng bản cáo bạch bạn đề xuất phát hành trình bày một bức tranh ảm đạm về triển vọng doanh nghiệp của bạn mà không một nhà đầu tư nào dám đầu tư vào dự án nếu họ đọc được bản cáo bạch theo nghĩa đen. Và chi phí để nhận được sự chấp thuận từ SEC có thể lên đến 100.000 USD – con số này chắc chắn khiến các doanh nghiệp nhỏ ái ngại, mà đấy lại là những doanh nghiệp mà chính phủ của chúng ta hứa hẹn trợ giúp.

Tự do sở hữu tài sản là một phần thiết yếu khác nữa của tự do kinh tế. Và phần lớn chúng ta đều có quyền sở hữu tài sản. Hơn nửa trong số chúng ta có nhà để ở. Nhưng nói đến máy móc, nhà xưởng, và các phương tiện sản xuất tương tự, tình hình hoàn toàn khác. Chúng ta tự nhận mình là một xã hội khuyến khích cá nhân tự do kinh doanh, là một xã hội tư bản chủ nghĩa. Nhưng xét trên khía cạnh quyền sở hữu doanh nghiệp, chúng ta có khoảng 46% là tỷ lệ sở hữu theo mô hình xã hội chủ nghĩa. Sở hữu 1% của một công ty có nghĩa là bạn có quyền nhận được 1% lợi nhuận của doanh nghiệp và phải chia sẻ 1% những tổn thất có thể lên toàn bộ giá trị cổ phiếu của bạn. Năm 1979, thuế thu nhập doanh nghiệp liên bang ở mức 46% trên tổng thu nhập có trị giá hơn 100.000 USD (giảm từ 48% trong những năm trước). Chính phủ liên bang có quyền thu về 46 xu từ mỗi đô la lợi nhuận, và chia sẻ 46 xu trên mỗi đô la thua lỗ (miễn là có một số khoản lợi nhuận trước đó đã được dùng để bù đắp cho những khoản thua lỗ này). Chính phủ liên bang sở hữu 46% mỗi doanh nghiệp - mặc dù không phải dưới hình thức cho phép chính phủ được biểu quyết trực tiếp về các hoạt động kinh doanh của công ty.

Chúng ta sẽ cần một cuốn sách dài hơn thế này rất nhiều mới có thể liệt kê đầy đủ toàn bộ các hạn chế về tự do kinh tế của chúng ta, chứ chưa nói gì đến việc mô tả chúng một cách chi tiết. Những ví dụ lấy ra ở đây đã được đơn giản hóa để thể hiện các biện pháp hạn chế này đã được mở rộng tràn lan khắp nơi như thế nào.

 

Tự do cá nhân

Các hạn chế về tự do kinh tế không tránh khỏi việc ảnh hưởng đến quyền tự do nói chung, bao gồm cả các lĩnh vực như tự do ngôn luận và báo chí.

Chúng ta hãy cùng xem xét những trích đoạn dưới đây của một lá thư được gửi đi vào năm 1977 bởiLee Grace, người sau này trở thành phó chủ tịch hiệp hội dầu khí. Đây là những gì ông đã viết liên quan đến hành lang pháp lý cho lĩnh vực năng lượng:

Như anh biết đấy, vấn đề thực sự không đơn thuần chỉ là giá của một nghìn mét khối mà là việc duy trì Tu chính án thứ nhất của bản Hiến pháp, tức việc bảo đảm quyền tự do ngôn luận. Với việc gia tăng số lượng các quy định, khi cái bóng của người anh cả phủ quá lớn trên vai chúng ta, chúng ta trở nên nhút nhát trong việc nói ra sự thật đồng thời niềm tin của chúng ta đối với sự giả dối và những việc làm sai trái cũng lớn dần lên. Nỗi sợ hãi đối với kiểm toán của IRS, tệ quan liêu nghẹt thở hay tình trạng quấy rối của chính phủ là vũ khí nguy hiểm chống lại tự do ngôn luận.

Trong ấn bản ngày 31 tháng 10 [1977] của tờ US News & World Report, mục Washington Whispers đã viết như thế này, "các quan chức ngành công nghiệp dầu mỏ thừa nhận rằng họ đã nhận được tối hậu thư từ Bộ trưởng Năng lượng James Schlesinger yêu cầu: Ủng hộ việc ban hành loại thuế được đề xuất đối với mặt hàng dầu thô bởi cơ quan bộ – còn nếu không sẽ phải đối mặt với quy định khó khăn hơn và có khả năng là với biện pháp mạnh như chia nhỏ các công ty dầu mỏ. "

Nhận định của ông Bộ trưởng này được xác nhận rộng rãi bởi hành vi công khai của các quan chức ngành dầu mỏ. Bị thượng nghị sĩ Henry Jackson chất vấn gay gắt vì tội kiếm chác “lợi nhuận không minh bạch", không một thành viên nào trong nhóm các giám đốc điều hành ngành công nghiệp dầu mỏ đáp trả lại, thậm chí có người đã rời khỏi căn phòng và từ chối những lời chất vấn có tính chất lạm dụng đời tư hơn. Giám đốc điều hành các công ty dầu mỏ, trong những trao đổi riêng tư đã thể hiện họ mạnh mẽ chống lại  hệ thống kiểm soát phức tạp của liên bang hiện nay mà họ buộc phải tuân thủ hoặc với kế hoạch can thiệp ngày càng bành trướng của chính phủ do Tổng thống Carter đề xuất, song họ đã đưa ra những tuyên bố nhạt nhẽo về việc đồng thuận với các mục tiêu của chính sách kiểm soát.

Rất ít các doanh nhân nhìn nhận cái gọi là tiền lương tự nguyện và chính sách kiểm soát giá của Tổng thống Carter là một giải pháp hiệu quả và hấp dẫn để chống lại lạm phát. Tuy nhiên hết doanh nhân này đến doanh nhân khác, tổ chức kinh doanh này đến tổ chức kinh doanh khác đưa ra những lời có cánh về chương trình này, họ nói những điều tốt đẹp về nó, và hứa sẽ hợp tác. Chỉ một số ít, như cựu nghị sĩ, quan chức Nhà Trắng, và là thành viên nội các, Donald Rumsfeld có can đảm đứng lên công khai phản đối các chính sách này. Trong số này còn có cả George Meany, cựu giám đốc tám mươi tuổi khó tính của AFL-CIO.

Hoàn toàn hợp lý khi cho rằng mọi người đều phải gánh chịu một phí tổn nhất định để có được tự do ngôn luận thay vì là chỉ có nhóm thiểu số hoặc những người phê phán chính phủ phải gánh chịu chi phí này. Tuy nhiên, cái giá cũng phải hợp lý và cân xứng. Theo như lời phán quyết nổi tiếng của Tòa án Tối cao, đó là không nên tạo ra "hiệu ứng răn đe" đối với quyền tự do ngôn luận. Dù thế thì hiện nay, không nghi ngờ gì, những người điều hành kinh doanh đang bị đe dọa bởi hiệu ứng này.

"Hiệu ứng răn đe" không chỉ hạn chế trong số những người điều hành kinh doanh. Nó ảnh hưởng đến tất cả chúng ta. Chúng ta biết khá tường tận về cộng đồng học thuật. Nhiều người trong số các đồng nghiệp của chúng tôi tại các khoa kinh tế và khoa học tự nhiên nhận được các khoản cấp ngân sách từ Quỹ khoa học quốc gia; còn các đồng nghiệp trong lĩnh lực nhân văn thì nhận được khoản cấp ngân sách từ Quỹ quốc gia cho lĩnh vực nhân văn; tất cả những người giảng dạy tại các trường đại học công đều nhận một phần lương của họ từ các cơ quan nhà nước. Chúng ta tin rằng Quỹ khoa học quốc gia, Quỹ quốc gia cho lĩnh vực nhân văn, và các khoản trợ cấp thuế cho giáo dục đại học đều không đáng thành lập và cần được chấm dứt hoạt động. Đó chắc chắn chỉ là một quan điểm thiểu số trong cộng đồng học thuật, tuy nhiên nhóm thiểu số này lớn hơn rất nhiều các ý kiến công luận được tập hợp lại bởi ai đó về chủ đề này.

Báo chí phụ thuộc nhiều vào chính phủ - đây không chỉ là một nguồn tin tức chính thống mà còn ảnh hưởng tới vô vàn các vấn đề vận hành hằng ngày. Chúng ta hãy cùng xem xét một ví dụ nổi bật của Anh Quốc. Tờ London Times, một tờ báo lớn của nước Anh, nhiều năm trước đây đã từng bị một trong các liên đoàn của quốc gia này ngăn cản hoạt động xuất bản trong một ngày do định đăng một câu chuyện về nỗ lực của liên đoàn nhằm can thiệpvào nội dung của tờ báo. Sau đó, những xung đột với người lao động đã dẫn đến việc đóng cửa tòa báo hoàn toàn. Các liên đoàn nhắc tới ở đây có khả năng thực hiện quyền lực này bởi họ được chính phủ trao cho những đặc cách. Một Liên đoàn Báo chí Quốc gia ở Anh đang thúc đẩy việc tước bỏ giấy phép hành nghề của một số nhà báo và đe dọa tẩy chay các tờ báo thuê nhân viên không phải là thành viên của liên đoàn. Đây là những gì diễn ra ở một đất nước vốn là khởi nguồn của rất nhiều quyền tự do cho chúng ta.

Về vấn đề tự do tôn giáo, các nông dân vùng Amish ở Mỹ đã bị phong tỏa nhà cửa cùng các tài sản vì họ từ chối nộp thuế An Sinh Xã Hội với lý do tôn giáo (và họ cũng từ chối cả việc nhận các phúc lợi An Sinh Xã Hội nữa). Học sinh các trường Dòng bịquy kết là những học sinh lêu lổng khi vi phạm các đạo luật bắt buộc đến trường chỉ bởi vì các giáo viên của họ không có các giấy tờ cần thiết xác nhận rằng họ đáp ứng đầy đủ các qui định của chính phủ.

Mặc dù những ví dụ này chỉ đề cập đến bề nổi của vấn đề, song chúng cũng thể hiện được mệnh đề cơ bản đó là quyền tự do là một chỉnh thể thống nhất, bất cứ điều gì làm giảm sự tự do trong một khía cạnh của cuộc sống của chúng ta, thì nó sẽ có thể ảnh hưởng đến sự tự do trong các mặt khác.

Tự do không thể đòi hỏi một cách tuyệt đối. Chúng ta sống trong một xã hội phụ thuộc lẫn nhau. Một số biện pháp hạn chế đối với tự do của chúng ta là cần thiết để có thể tránh xảy ra các biện pháp hạn chế khác, thậm chí còn tệ hơn. Tuy nhiên, chúng ta đã vượt quá mức độ đó. Nhu cầu cấp thiết hiện nay là loại bỏ các biện pháp hạn chế, chứ không phải xây dựng thêm nữa.

Nguyên tác: Free to choose: A personal statement, Milton & Rose Friedman

Bản dịch: Tự do lựa chọn: một bản tuyên ngôn cá nhân, nhóm dịch giả gồm Đinh Tuấn Minh, Chu Diệu Hiền, Nguyễn Minh Huệ, Nguyễn Thùy Liên