Tự do lựa chọn: Một bản tuyên ngôn cá nhân - Chương 2: Quyền lực của thị trường (Phần 2)
HỢP TÁC THÔNG QUA TRAO ĐỔI TỰ NGUYỆN
“Tôi, chiếc Bút chì, và Phả hệ gia đình của tôi” [I, Pencil: My Family Tree] là một câu chuyện thú vị của Leonard E. Read miêu tả sinh động cách thức thúc đẩy tương tác giữa hàng triệu người thông qua trao đổi tự nguyện. Tác giả dùng lời kể của cậu bé “Bút Chì – một chiếc bút chì gỗ quen thuộc với tất cả các cô bé cậu bé và những người trưởng thành biết đọc biết viết”. Bút chì bắt đầu câu chuyện bằng một lời tuyên bố thú vị “Không một cá nhân nào…biết cách làm ra tớ.” Sau đó, cậu bé Bút Chì tiếp tục câu chuyện về những vật liệu cần thiết để tạo ra mình. Đầu tiên, gỗ đến từ “cây tuyết tùng họ gỗ thớ mịn được chăm bón tại miền Nam California và Oregon.” Để đốn cây và chở đống gỗ về đường ray xe lửa cần đến “cưa, xe tải, dây thừng và vô số bánh răng.” Để có “cưa, xe tải, dây thừng và vô số bánh răng”, rất nhiều cá nhân đã tham gia vào công cuộc sản xuất “mỏ quặng, tôi thép hay áp dụng kĩ năng để làm cưa, làm rìu, chế tạo động cơ; sản xuất dây thừng bền bỉ nặng trĩu từ những cây gai dầu; sản xuất lều, giường, phòng ăn tập thể cho người đốn củi … đó là chưa kể đến hàng ngàn người đã tạo nên những chiếc cốc cà phê cho người đốn gỗ uống!”
Ngài Read tiếp tục câu chuyện với giai đoạn vận chuyển gỗ về nhà máy. Nhà máy tham gia vào công đoạn cắt gỗ thành từng tấm ván mỏng rồi vận chuyển từ California đến Wilkes-Barre nơi những chiếc bút chì được sản xuất. Đến đây, chúng ta mới chỉ tìm hiểu xong cách thức sản xuất vỏ gỗ của bút chì. Về phần lõi, lõi “chì” bên trong không hoàn toàn là chì. Để sản xuất lõi chì, công việc bắt đầu tại những mỏ graphit tại Ceylon. Sau các công đoạn vô cùng phức tạp, sản phẩm thu được sẽ là lõi chì nằm trong thân bút.
Ngoàn ra, bút chì còn bao gồm một miếng kim loại nhỏ - một miếng sắt bịt đầu gần chóp chế tạo từ đồng thau. “Hãy suy ngẫm về tất cả những người này”, cậu bé nói, “những người thợ mỏ đã đào kẽm, đồng, những người thợ rèn sở hữu những kĩ năng khéo léo để làm nên một miếng đồng thau sang bóng từ những sản phẩm thiên nhiên.”
“Cục tẩy”, như chúng ta thường gọi, trong giao thương có tên là “miếng nút”. Mọi người đều cho rằng tẩy được làm từ cao su. Thế nhưng Ngài Read chỉ ra rằng cao su chỉ được dùng làm chất kết dính. Thực chất, tẩy được làm từ “factice”, một sản phẩm giống như cao su, được hình thành từ phản ứng giữa tinh dầu của hạt cải dầu từ Đông Ấn (nay là Indonesia) với axit muối sunphua.
Sau tất cả những công đoạn này, cậu bé Bút Chì nói “Liệu còn ai còn thách thức câu khẳng định ban đầu của tớ, rằng không một cá nhân nào trên Trái Đất này biết cách làm ra tớ không?”
Trong số hàng nghìn người tham gia vào quá trình sản xuất bút chì, không ai tham gia chỉ vì anh ta muốn một cái bút chì. Một vài người trong số họ thậm chí còn chưa bao giờ nhìn thấy bút chì, còn không biết công dụng của nó là gì. Mỗi người làm việc để đạt được những sản phẩm và dịch vụ anh ta mong muốn – những sản phẩm và dịch vụ chúng ta sản xuất ra để có được “cái bút chì” chúng ta muốn. Mỗi lần đến cửa hàng mua một chiếc bút chì, chúng ta lại trao đổi một ít dịch vụ ta sản xuất với một ít dịch vụ mọi người sản xuất. Mỗi phần nhỏ ấy đã góp phần tạo nên chiếc bút chì.
Thậm chí việc sản xuất bút chì đã là cả một kỳ tích. Không ai có thể ngồi trong cơ quan trung ương chỉ đạo hàng nghìn người sản xuất bút chì. Hàng nghìn người ấy sống ở những vùng đất khác nhau, nói những thứ tiếng khác nhau và theo đuổi những tôn giáo khác nhau thậm chí còn đối nghịch nhau. Thế nhưng tất cả những khác biệt ấy không hề ngăn cản họ hợp tác với nhau sản xuất bút chì. Làm sao điều này có thể xảy ra? Adam Smith đã cho chúng ta câu trả lời từ hai trăm năm trước.
Vai trò cỦa giá cẢ
Tri kiến cốt lõi của Adam Smith trong cuốn “Nguồn gốc của cải các quốc gia” vô cùng đơn giản: trong nguyên tắc tự nguyện, giao thương đôi bên chỉ xảy ra khi cả hai đều có lợi. Hầu hết những nguỵ biện kinh tế bắt nguồn từ việc lờ đi nguyên tắc này bằng một giả định khác: có một chiếc bánh với kích thước cố định và một bên chỉ có thể kiếm lời trên sự thiệt hai của bên khác.
Tri kiến của Adam Smith được thể hiện rõ ràng trong trao đổi giữa hai cá nhân. Nhưng để hiểu được bằng cách nào nguyên lý này giúp mọi người ở khắp nơi trên thế giới có thể hợp tác và đem đến lợi ích cho riêng họ thì khó hơn rất nhiều.
Hệ thống giá cả là một cơ chế cho phép thực hiện nhiệm vụ trên mà không cần đến định hướng trung tâm, không cần đối thoại, không cần thiện cảm của đôi bên. Dù mua bút chì hay bánh mì, bạn không cần bận tâm đến cách thức sản xuất bút chì, không cần biết lúa mì được trồng bởi một người da đen hay da trắng, bởi một người Trung Quốc hay Ấn Độ. Theo đó, hệ thống giá cả cho phép mọi người hợp tác hòa bình, mỗi người làm việc của mình và tôn trọng công việc của người khác.
Phát hiện thiên tài của Adam Smith nằm là ở chỗ ông chỉ ra các mức giá cả hình thành nhờ những giao dịch tự nguyện giữa người mua và người bán – nói ngắn gọn, trên một thị trường tự do - có thể điều phối hoạt động của hàng triệu cá nhân theo cách thức khiến cho mọi người cùng có lợi dù mỗi cá nhân tìm kiếm lợi ích riêng của mình. Ở thời điểm đó và có lẽ cả bây giờ, đây là một ý tưởng mới lạ, khi cho rằng trật tự kinh tế có thể là kết quả của một chuỗi hành động không định hướng của rất nhiều cá nhân trong quá trình theo đuổi lợi ích của riêng mình.
Hệ thống giá cả hoat động hiệu quả, tốt đến nỗi bình thường chúng ta không nhận ra sự tồn tại của nó. Chúng ta chỉ nhận ra tác dụng của hệ thống khi nó bị ngăn cản thực hiện chức năng của mình. Thậm chí mãi về sau, chúng ta cũng không phát hiện ra nguồn gốc của vấn đề.
Một ví dụ điển hình là hai lần tình trạng xếp hàng mua xăng dầu xuất hiện đột ngột: một lần vào năm 1974 sau sự kiện cấm xuất khẩu dầu của các nước OPEC; một lần vào mùa xuân và mùa hè năm 1979 sau cuộc cách mạng ở Iran. Trong hai trường hợp này, nguồn cung dầu thô ra nước ngoài đều bị xáo trộn đột ngột. Nghịch lý nằm ở chỗ: sự xáo trộn này không dẫn đến tình trạng đói xăng dầu tại Đức và Nhật Bản, hai quốc gia hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn xăng dầu nhập khẩu nhưng lại gây ra tình trạng đói xăng dầu tại Mỹ, một quốc gia gần như không nhập khẩu xăng dầu. Chỉ có một lý do lý giải duy nhất: hệ thống pháp luật thi hành bởi các cơ quan chính phủ ngăn cản hệ thống trọng giá thực hiện chức năng của mình. Giá cả ở một số khu vực bị quy định dưới điểm cân bằng giữa cung (lượng xăng dầu sẵn có ở trạm xăng) và cầu (lượng xăng dầu khách hàng sẵn sàng mua với mức giá nhất định). Nguồn cung trong nước được phân phối dựa trên mệnh lệnh thay vì dựa trên nhu cầu gia tăng thể thiện trong giá. Kết quả là một số nơi thừa xăng trong khi một số nơi khác thiếu hụt với những hàng dài chờ đợi. Trong nhiều thế kỉ, sự hoạt động trơn tru của hệ thống giá cả đã đảm bảo mọi khách hàng có thể mua xăng dầu với bất kỳ dung tích nào, ở bất cứ nơi đâu, một cách nhanh chóng và thuận tiện nhất. Nhưng giờ đây hệ thống ấy đã bị thay thế bởi hệ thống hành chính quan liêu.
Trong tổ chức hoạt động kinh tế, giá cả có ba chức năng chính: thứ nhất, truyền tải thông tin; thứ hai, cung cấp động lực để tìm kiếm và thực hiện những phương pháp sản xuất tận dụng nguồn tài nguyên sẵn có với chi phí thấp nhất nhưng lại mang đến hiệu quả giá trị cao nhất; thứ ba, phân bố thu nhập – xác định ai được hưởng bao nhiêu từ sản phẩm/dịch vụ. Thực tế, ba chức năng này có mối tương quan chặt chẽ với nhau.
Truyền tải thông tin
Giả sử nhu cầu bút chì tăng lên, vì bất kể lý do gì, chẳng hạn như bùng nổ tỉ lệ sinh làm tăng tỉ lệ nhập học. Những cửa hàng bán lẻ nhận thấy rằng họ đang bán được nhiều bút chì hơn trước và đặt hàng mua nhiều bút chì hơn từ những nhà bán buôn. Nhà bán buôn sẽ đặt hàng mua nhiều bút chì hơn từ nhà sản xuất. Nhà sản xuất sẽ nhập nhiều nguyên liệu hơn để làm bút chì như gỗ, đồng thau, đá graphite. Để thu hút những nhà cung cấp nguyên liệu sản xuất nhiều hơn, nhà sản xuất bút chì sẽ phải đề nghị trả giá cao hơn. Giá càng cao sẽ càng thu hút các nhà cung cấp tăng nhân công đáp ứng nhu cầu. Để có nhiều công nhân hơn, họ sẽ phải đề nghị nâng mức lương hoặc cải thiện điều kiện làm việc tốt hơn. Theo cách này, những gợn sóng sẽ được lan tỏa thành những vòng tròn rộng hơn, truyền tải thông tin đến mọi nơi trên thế giới rằng nhu cầu bút chì đang tăng cao. Hay chính xác hơn, những gợn sóng sẽ truyền thông tin tới các nhà máy, rằng sức cầu cho những sản phẩm họ sản xuất đang tăng cao vì những nguyên do mà có lẽ họ không biết hoặc chẳng cần biết làm gì.
Hệ thống giá cả chỉ truyền tải những thông tin quan trọng đến những người thích hợp. Những nhà sản xuất gỗ không cần quan tâm rằng nhu cầu mua gỗ tăng do bùng nổ tỉ lệ sinh hay do phải điền thêm14,000 mẫu biểu của các cơ quan nhà nước bằng bút chì. Họ thậm chí không cần biết nhu cầu dùng bút chì đang tăng. Họ chỉ cần biết đang có người sẵn sàng trả gỗ giá cao và mức giá này có thể sẽ duy trì đủ lâu để khiến cho việc đầu tư đáp ứng lượng cầu là xứng đáng. Cả hai loại thông tin đều được cung cấp bởi giá cả thị trường – loại thứ nhất là giá bán hiện tại và loại thứ hai là giá chào cho đơn giao hàng tương lai.
Truyền tải thông tin chỉ hiệu quả khi thông tin đến đúng nơi đúng chỗ. Hệ thống giá cả giải quyết vấn đề này hoàn toàn tự động. Những người truyền thông tin có động lực và năng lực để tìm ra người có nhu cầu sử dụng thông tin. Những người có nhu cầu sử dụng thông tin có động lực và có năng lực để tiếp nhận thông tin ấy. Ví dụ, nhà sản xuất bút chì chắc chắn sẽ giữ liên lạc với những nhà cung cấp gỗ anh ta hay giao dịch. Đồng thời, anh ta cũng luôn cố gắng tìm những nhà cung cấp khác có thể đề xuất cho anh ta một sản phẩm gỗ tốt hơn với mức giá thấp hơn. Tương tự như vậy, nhà sản xuất gỗ sẽ giữ liên lạc với khách hàng của anh ta và luôn luôn cố gắng tìm những khách hàng mới. Mặt khác, những cá nhân hiện tại không tham gia vào hoạt động này và cũng không có ý định tham gia trong tương lai sẽ không hứng thú về thông tin giá gỗ và đương nhiên, sẽ lờ nó đi.
Ngày nay, việc truyền tin qua giá sản phẩm đã được đơn giản hóa rất nhiều nhờ các thị trường có tổ chức và những phương tiện truyền thông chuyên dụng. Xem thông tin báo giá được xuất bản hàng ngày (như trên tờ Thời báo Phố Wall) trở thành một thói quen không thể thiếu, ấy là chưa kể đến vô số những ấn phẩm thương mại chuyên ngành khác. Những thông tin giá cả ấy hầu như phản ánh tức thì những gì đang xảy ra trên thế giới. Ví dụ, nếu có một cuộc cách mạng xảy ra ở một đất nước xa xôi nào đó; đất nước này là nhà sản xuất đồng vô cùng lớn hay vì một vài lý do nào đó mà việc sản xuất đồng bị gián đoạn, thì mức giá hiện tại của đồng sẽ tăng lên ngay lập tức. Để tìm hiểu xem các chuyên gia dự đoán nguồn cung của đồng sẽ bị ảnh hưởng bởi tin này trong bao lâu, bạn có thể kiểm tra giá cho giao dịch trong tương lai trên cùng một trang báo.
Thậm chí, một số độc giả chỉ quan tâm tới bảng báo giá trên tờ Thời báo Phố Wall và sẵn sàng lờ đi cả tất cả các mục còn lại. Thời báo Phố Wall không cung cấp thông tin vì lòng tốt hay vì nhận thấy tầm quan trọng của việc báo giá trong nền kinh tế. Đúng hơn, tờ báo quyết định cung cấp thông tin báo giá chỉnh là bởi chức năng của hệ thống giá cả đã hoạt động rất hiệu quả. Cụ thể, tờ báo nhận thấy rằng có thể tăng tổng lượng phát hành, qua đó mang lại lợi nhuận, bằng cách xuất bản những bảng báo giá. Những thông tin này được đưa đến tờ báo thông qua những tín hiệu giá cả khác.
Giá cả không đơn thuần truyền tải thông tin từ người mua cuối cùng đến nhà bán lẻ, nhà bán buôn, nhà sản xuất và chủ sở hữu các tài nguyên, nó còn truyền tải thông tin theo một cách khác. Giả sử một vụ cháy rừng hoặc một vụ đình công làm giảm nguồn cung cấp gỗ. Giá gỗ sẽ tăng lên. Điều này ra dấu cho các nhà sản xuất bút chì rằng họ phải sử dụng ít gỗ hơn thì mới có lợi. Có thể, họ sẽ không thể sản xuất nhiều bút chì như trước nữa trừ khi họ có thể tăng giá bút chì mà vẫn bán được hàng. Việc thu hẹp hoạt động sản xuất bút chì sẽ làm cho giá bán lẻ tăng cao. Giá bút chì tăng cao báo tin cho người sử dụng cuối cùng biết rằng mình sẽ phải dùng bút chì cho đến mẩu cuối cùng trước khi vứt đi hoặc chuyển sang dùng bút máy. Một lần nữa, anh ta không cần biết tại sao bút chì trở nên đắt đỏ hơn mà đơn giản chỉ cần biết vậy thôi.
Bất cứ điều gì ngăn giá cả tự do phản ánh lượng cung cầu sẽ cản trở việc truyền tải thông tin chính xác. Độc quyền tư nhân - một nhà sản xuất hoặc một nhóm nhà sản xuất kiểm soát một loại hàng hóa nhất định - là một ví dụ điển hình. Độc quyền không ngăn cản việc truyền tải thông tin thông qua hệ thống giá cả nhưng nó lại bóp méo thông tin. Việc giá dầu tăng gấp bốn lần vào năm 1973 xảy ra bởi các hành vi của liên minh các nước xuất khẩu dầu mỏ đã truyền đi thông tin vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, thông tin truyền đi lại không phản ánh việc đột ngột giảm nguồn cung hay một phát kiến mới bất ngờ về tương lai nguồn cung hay bất kì đặc điểm tự nhiên, kĩ thuật nào liên quan đến sự sẵn có của dầu thô và của những nguồn năng lượng khác. Đơn giản, nó chỉ truyền đi thông tin rằng một nhóm các nước đã thành công trong việc thống nhất điều tiết giá và chia sẻ thị trường xuất khẩu dầu thô.
Đến lượt Chính phủ Mỹ, việc họ kiểm soát giá dầu và các dạng năng lượng khác đã ngăn cản thông tin về ảnh hưởng của liên minh OPEC được truyền tải chính xác tới những người tiêu dùng xăng dầu. Chính phủ Mỹ quyết định ngăn chặn tăng giá, tránh xảy ra tình trạng người tiêu dùng phải tiết kiệm, hạn chế sử dụng xăng dầu. Để làm được điều này, Chính phủ đã chỉ đạo Cục Năng lượng (cơ quan này đã chi 10 tỉ USD cùng với 20.000 nhân viên tuyển thêm vào năm 1979) thực hiện phân phối nguồn cung xăng dầu khan kiếm. Tuy nhiên, tất cả những việc làm ấy chỉ củng cố thêm sức mạnh cho liên minh OPEC và tăng thêm nhân tố mệnh lệnh hành chính trong nước Mỹ.
Nói đến việc bóp méo hệ thống giá cả, không chỉ tư nhân mà ngày nay chính phủ cũng trở thành một nguồn cơn chính can thiệp vào hệ thống thị trường tự do, bằng cách: (i) áp đặt thuế quan xuất nhập khẩu và những rào cản khác trong giao thương quốc tế; (ii) can thiệp tới giá lao động, bao gồm cả tiền công (xem Chương 2); (iii) áp đặt những quy định lên những ngành nhất định (xem Chương 7); (iv) áp dụng chính sách tài khoá và tiền tệ, dẫn đến lạm phát bất thường (erratic inflation) (xem Chương 9) và rất nhiều kênh tác động khác nữa.
Một trong những tác động ngược của lạm phát bất thường chính là làm gián đoạn hệ thống truyền tin qua giá cả. Nếu giá gỗ tăng, những nhà sản xuất gỗ sẽ không thể biết nguyên nhân tăng giá là do lạm phát tăng hay nhu cầu tăng hay nguồn cung giảm. Thông tin quan trọng cho việc tổ chức hoạt động sản xuất chính là các mức giá tương đối. Giá tương đối là giá của sản phẩm này so với giá của sản phẩm khác. Lạm phát tăng cao, đặc biệt là khi biến động lớn, khiến thông tin này trở nên chìm nghỉm và chẳng còn ý nghĩa gì nữa.
Đông lực khuyến khích
Việc truyền thông tin hiệu quả và chính xác chỉ có ý nghĩa khi thông tin đến được tay những người thích hợp, những người có động cơ để hành động và hành động một cách đúng đắn dựa trên thông tin đó. Ví dụ, khi nhận được thông tin nhu cầu gỗ tăng cao, nếu như nhà sản xuất gỗ không có động lực tăng cường sản xuất thì thông tin không có ý nghĩa gì. Một ưu điểm trong hệ thống giá cả tự do là thông tin giá cả bao giờ cũng cung cấp cả động cơ và phương tiện để hành động dựa trên thông tin ấy.
Chức năng này của giá cả có quan hệ mật thiết với chức năng thứ ba của nó là xác định phân phối thu nhập. Chúng ta không thể giải thích chức năng động lực khuyến khích mà không nhắc đến chứng năng phân phối thu thập của giá cả. Thu nhập của nhà sản xuất là khoản chênh lệch giữa doanh thu hàng hóa và chi phí sản xuất bỏ ra. Anh ta sẽ phải cân bằng doanh thu và chi phí sao cho để sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm chi phí bỏ ra thêm ít hơn doanh thu tăng thêm. Mức giá cao hơn sẽ giúp cho khoảng chênh lệnh cận biên này lớn hơn.
Nhìn chung, sản xuất càng nhiều thì chi phí sản xuất càng cao. Nhà sản xuất sẽ phải tìm đến nguồn gỗ khó tiếp cận hơn hoặc ờ các địa điểm kém thuận lợi hơn: anh ta phải thuê ít công nhân hơn hoặc trả lương cao hơn để thu hút những người thợ lành nghề đang tham gia vào các hoạt động sản xuất khác. Nhưng giờ đây, giá bán hàng tăng cao cho phép nhà sản xuất chi trả những chi phí đó. Từ đó, có thể thấy rằng thông tin giá tăng cung cấp cả động lực và phương tiện cho chủ doanh nghiệp mở rộng sản xuất.
Giá cả không chỉ cung cấp động lực để sản xuất đáp ứng nhu cầu thị trường mà còn cung cấp động lực để tìm ra những phương thức sản xuất hiệu quả nhất. Giả sử một loại gỗ, vì một lý do nào đó, trở nên hiếm hơn và đắt hơn những loại gỗ khác. Nhà sản xuất bút chì sẽ nhận ra thông tin này khi thấy giá nhập loại gỗ đó tăng cao. Do thu nhập của nhà sản xuất được xác định dựa trên sự chênh lệch giữa doanh thu và chi phí, anh ta có lý do để hạn chế sử dụng loại gỗ này. Lấy một ví dụ khác, chi phí có giảm hay không nếu như người thợ mộc sử dụng cưa tay thay vì cưa máy? Điều này còn phụ thuộc vào giá của cưa tay và cưa máy, số lao động cần thiết để vận hành mỗi loại máy, và mức tiền công trả cho mỗi loại lao động. Doanh nghiệp chế biến gỗ sẽ có động cơ để tích luỹ kiến thức chuyên ngành và kết hợp nó với thông tin giá cả để giảm thiểu tối đa chi phí sản xuất.
Một ví dụ thú vị nữa về sự tinh vi của hệ thống giá cả. Năm 1973, nhóm Liên minh Dầu lửa OPEC tăng giá dầu. Sự kiện này mang lại lợi thế chút ít cho cưa tay do làm tăng chí phí vận hành cưa máy. Nếu như ví dụ này nghe có vẻ cường điệu thì hãy xem xét ảnh hưởng của sự kiện này tới việc sử dụng xe tải chạy xăng vs. xe tải chạy dầu diesel để vận chuyển gỗ từ rừng tới nhà máy.
Hãy xem xét ví dụ này chi tiết hơn. Giá dầu thô tăng cao do hành động của OPEC làm tăng chi phí sản xuất của những sản phẩm sử dụng nhiều xăng dầu tăng cao hơn so với những sản phẩm sử dụng ít xăng dầu. Người tiêu dùng vì thế có động lực chuyển từ sản phẩm sử dụng nhiều xăng dầu sang loại sử dụng ít xăng dầu. Ví dụ rõ ràng nhất là người tiêu dùng có xu hướng chuyển sử dụng những chiếc ô tô lớn sang những chiếc xe nhỏ hơn và từ việc sưởi ấm bằng dầu sang bằng than hoặc gỗ. Ngoài ra tăng giá xăng còn gây ra những tác động xa xôi hơn trong tương lai: ví dụ làm giá gỗ tăng (do chi phí sản xuất gỗ tăng cao hơn hoặc do nhu cầu sử dụng gỗ nhiều hơn như là một nguồn năng lượng thay thế). Giá gỗ tăng khiến giá bút chì tăng; từ đó khách hàng sẽ sử dụng tiết kiệm bút chì! Và còn vô số những ảnh hưởng đa dạng khác nữa.
Chúng ta đã thảo luận về động lực khuyến khích của giá cả đối với nhà sản xuất và người tiêu dùng. Tuy nhiên, giá cả cũng tạo ra động lực khuyến khích đối với người lao động và chủ sở hữu các nguồn lực sản xuất khác. Nhu cầu sử dụng gỗ tăng cao có xu hướng khiến lương của thợ đốn củi cũng tăng cao. Đây là dấu hiệu cho thấy thị trường có nhu cầu lớn đối với lực lượng lao động ở lĩnh vực này. Việc tăng lương đóng vai trò là tác nhân thúc đẩy công nhân hành động. Một vài công nhân, bình thường thờ ơ với nghề đốn gỗ hoặc đang làm những công việc khác thì giờ đây có thể sẽ chọn đốn gỗ làm nghề. Nhiều người trẻ bước vào thị trường lao động có thể quyết định trở thành thợ đốn gỗ. Tuy nhiên, nếu có sự can thiệp của chính quyền (thông qua quy định về mức lương tối thiểu) hay của công đoàn (thông qua các quy định hạn chế tham gia thị trường lao động), loại thông tin này có thể sẽ bị biến dạng trong quá trình truyền tải hoặc các cá nhân có thể bị ngăn cản tự do hành động dựa trên loại thông tin đó (xem Chương 8).
Thông tin về giá cả thị trường - dù là giá nhân công, giá thuê nhà đất, hay lợi tức từ nguồn vốn khi sủ dụng cho các mục đích khác nhau – không phải yếu tố duy nhất quyết định cách thức sử dụng một nguồn lực nhất định. Thậm chí, thông tin giá cả không phải là yếu tố quan trọng nhất trong việc quyết định cách thức sử dụng, chẳng hạn, lao động của ai đó. Quyết định sử dụng nguồn lực còn phụ thuộc vào mối quan tâm và khả năng cụ thể của mỗi người – thứ mà nhà kinh tế học vĩ đại Alfred Marshall gọi là tổng thể ưu nhược điểm của mỗi công việc, dưới cả giác độ tài chính và phi tài chính. Sự hài lòng trong công việc có thể sẽ bù đắp cho mức lương thấp. Trong khi lương cao lại có thể bù đắp cho một công việc nhạt nhẽo.
Phân phối thu nhập
Như chúng ta đã biết, thu nhập của mỗi cá nhân được xác định bởi mức chênh lệch giữa doanh số bán hàng hóa dịch vụ và chi phí phải bỏ ra khi sản xuất hàng hóa và dịch vụ đó. Chi phí bao gồm những chi phí trực tiếp trả cho các nguồn lực sản xuất mà chúng ta sở hữu như chi phí nhân công, chi phí sử dụng nhà đất và những chi phí vốn khác. Đối với chủ doanh nghiệp, ví dụ như nhà sản xuất bút chì, những chi phí này chỉ khác về hình thức chứ không phải thực chất. Thu nhập của chủ doanh nghiệp sản xuất bút chì cũng phụ thuộc vào độ lớn những nguồn lực họ sở hữu và mức giá mà thị trường trả cho các dịch vụ được tạo ra từ những nguồn lực đó; trong trường hợp này, nguồn lực anh ta sở hữu có thể chủ yếu là khả năng tổ chức doanh nghiệp, điều phối các nguồn lực doanh nghiệp sử dụng, quản lý rủi ro và v.v. Người chủ này cũng có thể sở hữu một số nguồn lực sản xuất khác được sử dụng trong doanh nghiệp; trong trường hợp này, một phần thu nhập của anh ta sẽ đến từ việc thị trường định giá các dịch vụ được cung cấp bởi các nguồn lực đó như thế nào. Tương tự như vậy, sự xuất hiện của những công ty hợp doanh hiện đại cũng không làm thay đổi bản chất vấn đề. Chúng ta vẫn nói “thu nhập của doanh nghiệp” hoặc “hoạt động kinh doanh” tạo ra thu nhập. Đó là một cách nói ẩn dụ. Công ty hợp doanh là trung gian giữa chủ sở hữu, là những cổ đông, và những nguồn lực không phải là vốn của cổ đông, tức những dịch vụ được mua bằng vốn của cổ đông. Chỉ con người mới có thu nhập. Họ kiếm thu nhập dựa trên những nguồn lực họ sở hữu bất kể dạng thức như cổ phiếu doanh nghiệp, trái phiếu, đất đai hay năng lực cá nhân.
Ở những quốc gia như Mỹ, nguồn lực sản xuất lớn nhất chính là khả năng sản xuất của mỗi cá nhân – cái mà các nhà kinh tế học gọi là “vốn nhân lực”. Khoảng ba phần tư tổng thu nhập nước Mỹ đến từ những giao dịch dưới dạng tiền trả cho nhân viên (bao gồm tiền công, tiền lương cùng với các khoản phụ cấp khác). Gần một nửa phần còn lại nằm dưới dạng thu nhập của những chủ sở hữu nông trại hoặc những chủ sở hữu doanh nghiệp phi nông nghiệp. Phần thu nhập dạng này bao gồm những khoản trả cho dịch vụ năng lực cá nhân và cho vốn sở hữu.
Tích luỹ vốn vật lực - như nhà máy, hầm mỏ, cao ốc văn phòng, trung tâm mua sắm; đường quốc lộ, đường tàu lửa, sân bay, ô tô, xe tải, máy bay, tàu thủy; đập nước, nhà máy lọc dầu, nhà máy phát điện; nhà cửa, tủ lạnh, máy giặt, v.v. và v.v. - đóng vai trò then chốt trong việc phát triển kinh tế. Nếu không tích luỹ, nền kinh tế phát triển mà chúng ta thừa hưởng ngày nay sẽ không bao giờ tồn tại. Nếu nguồn vốn thừa hưởng không được duy trì, thành tựu gây dựng bởi một thế hệ có thể sẽ bị phung phí, tan thành mây khói bởi thế hệ tiếp theo.
Tuy nhiên, tích luỹ vốn nhân lực dưới dạng tăng cường tri thức/kĩ năng và nâng cao sức khỏe/tuổi thọ cũng đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Cả hai loại vốn này củng cố, bổ sung lẫn nhau. Vốn vật lực nâng cao năng suất của con người bằng cách cung cấp những cho con người công cụ để làm việc. Trong khi con người có khả năng phát minh ra những loại vốn vật lực mới, học cách sử dụng chúng và tìm cách tận dụng chúng hiệu quả nhất; con người cũng có khả năng tổ chức sử dụng cả vốn nhân lực và vốn vật lực ở phạm vi rộng hơn và quy mô lớn hơn, nhờ đó làm tăng hiệu suất của vốn vật lực. Cả vốn nhân lực và vật lực đều phải được chăm sóc và được thay thế liên tục. Đối với vốn nhân lực, điều này thậm chí còn khó hơn và tốn kém hơn. Đó là lý do tại sao lợi tức thu được từ vốn nhân lực đã tăng lên nhanh chóng so với lợi tức thu được từ vốn vật lực.
Số lượng mỗi loại nguồn lực mỗi chúng ta sử hữu một phần đến từ sự ngẫu nhiên (chance), một phần là nhờ quyết định lựa chọn của bản thân hoặc của người khác. Ngẫu nhiên chúng ta nhận được loại gien nào đó và qua đó tác động đến thể lực và trí lực của mỗi người. Ngẫu nhiên chúng ta được sinh ra và lớn lên trong môi trường văn hóa và gia đình nào đó, từ đó ảnh hướng đến cơ hội phát triển thể lực và trí lực của chúng ta. Ngẫu nhiên cũng là nhân tố quyết định những nguồn lực nào chúng ta được thừa hưởng từ cha mẹ hoặc những mạnh thường quân khác. Và ngẫu nhiên cũng có thể phá huỷ hoặc bổ trợ những nguồn lực mà chúng ta có lúc khởi đầu. Nhưng lựa chọn cũng đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Lựa chọn của chúng ta về cách sử dụng các nguồn lực, làm việc chăm chỉ hay cầm chừng, làm công việc này hay công việc khác, tham gia dự án này hay dự án khác, tiêu tiền hay tiết kiệm, tất cả những điều này đều ảnh hưởng đến việc chúng ta sẽ làm tiêu tán hay phát triển những nguồn lực mà chúng ta sở hữu. Quyết định tương tự của các bậc cha mẹ, những nhà hảo tâm và thậm chí hàng triệu người không có mối liên hệ trực tiếp với chúng ta cũng có thể ảnh hưởng đến sự thừa kế của chúng ta.
Giá cả thiết lập bởi thị trường đối với các dịch vụ cung cấp bởi các nguồn lực của chúng ta cũng chịu sụ chi phối tương tự bởi cả sự ngẫu nhiên và sự lựa chọn. Ví dụ, Frank Sinatra là một người có tiếng nói ảnh hưởng rộng rãi ở thế kỉ XX tại Mỹ. Nếu như tình cờ, anh ta được sinh ra và lớn lên ở Ấn Độ, liệu tiếng nói ấy có tạo nên ảnh hưởng sâu sắc trong thế kỉ XX tại Ấn Độ? Kĩ thuật săn bắn và đặt bẫy được đánh giá cao vào thế kỉ XVIII và XIX tại Mỹ nhưng lại không có giá trị nhiều vào thế kỉ XX cũng ở Mỹ. Kĩ thuật của cầu thủ bóng chày đem lại thu nhập cao hơn nhiều so với kĩ thuật của cầu thủ bóng rổ vào những năm 1920; nhưng vào những năm 1970 thì lại ngược lại. Đây đều là những vấn đề liên quan đến sự ngẫu nhiên và sự lựa chọn. Ở những ví dụ này, sự lựa chọn được đưa ra bởi những khách hàng sử dụng dịch vụ là nguyên nhân chủ yếu xác lập các mức giá tương đối trên thị trường cho các hàng hoá và dịch vụ khác nhau. Tuy nhiên, giá cả các dịch vụ mà chúng ta cung cấp còn phụ thuộc cả vào những lựa chọn của riêng chúng ta như nơi chúng ta chọn để ổn định cuộc sống, cách chúng ta chọn sử dụng nguồn lực của chùng ta, đối tượng khách hàng chúng ta chọn, vân vân và vân vân.
Ở mọi xã hội, bất kể được tổ chức như thế nào, thì vẫn có sự bất mãn trong phân phối thu nhập. Mọi người đều thấy khó hiểu ở một điểm: tại sao thu nhập của chúng ta lại thấp hơn của người khác, những người có vẻ không xứng đáng với mức thu nhập ấy, hoặc tại sao chúng ta lại nhận được nhiều hơn người khác trong khi nhu cầu và khó khăn của họ cũng không kém gì. Những cánh đồng ở đằng xa lúc nào trông cũng xanh tươi hơn - vậy nên chúng ta thường đổ lỗi cho hệ thống hiện tại. Trong một hệ thống kinh tế chỉ huy, sự ghen ghét và sự bất mãn đều nhắm vào người cai trị. Trong một hệ thống thị trường tự do, sự ghen ghét và bất mãn ấy nhắm đến thị trường.
Hệ quả là đã rất nhiều nỗ lực được thực hiện nhằm tách biệt chức năng phân phối thu nhập với những chức năng khác của hệ thống giá cả (như chức năng truyền tin và cung cấp động lực khuyến khích). Trong những thập kỷ gần đây, tại Mỹ và những quốc gia vận hành chủ yếu dựa trên cơ chế thị trường, hoạt động chính phủ chủ yếu hướng vào thay đổi chức năng phân phối thu nhập của thị trường với mục đích tạo ra một hệ thống phân phối thu nhập công bằng hơn. Hiện tại, luồng ý kiến gây áp lực cho các chuyển động chính sách theo hướng này vẫn tiếp tục được đẩy mạnh. Xu hướng này sẽ được xem xét ở Chương 5.
Dù chúng ta có cố gắng tới đâu và mong ước có được kết quả khác đi, việc tách biệt chức năng phân phối thu nhập của hệ thống giá cả gần như là điều không thể; làm sao giá cả có thể truyền thông tin và cung cấp động lực khuyến khích mà không tác động tới phân phối thu nhập. Nếu như mức giá cung cấp dịch vụ của một người không quyết định thu nhập của anh ta thì động lực nào thúc đẩy anh ta đi khảo sát giá cả, động lực nào thúc đẩy anh ta hành động dựa trên thông tin giá cả đó? Nếu thu nhập của Red Adair[1] không thay đổi kể cả khi anh ta thực hiện những nhiệm vụ nguy hiểm như đóng nắp giếng dầu đang tràn, tại sao anh ta phải nhận trách nhiệm nguy hiểm đó? Anh ta có thể thử làm một lần vì thấy thú vị. Nhưng điều gì sẽ khiến anh ta chọn đây là công việc chính của mình. Nếu thu nhập của bạn không thay đổi dù bạn có làm việc chăm chỉ thì tại sao bạn phải nỗ lực làm việc? Tại sao bạn phải nỗ lực tìm kiếm người mua trả giá cao nhất cho thứ bạn bán nếu như bạn không được lợi lộc gì từ việc này? Nếu không có phần thưởng cho việc tích luỹ vốn liếng, tại sao mọi người phải hoãn hưởng thụ thành quả lao động sang ngày mai trong khi họ hoàn toàn có thể thực hiện trong ngày hôm nay? Tại sao phải tiết kiệm? Làm thế nào các cá nhân lại tình nguyện tiết kiệm và gây dựng được nguồn vốn vật lực như hiện nay? Nếu như không có phần thưởng cho việc bảo tồn nguồn vốn, tại sao mọi người lại không tiêu tán hết lượng vốn tích luỹ hoặc được hưởng thừa kế? Nếu ngăn cản giá cả ảnh hưởng tới phân phối thu nhập, các chức năng khác cũng sẽ không thể thực hiện. Giải pháp cuối cùng là mệnh lệnh. Một cơ quan có thẩm quyền nào đó sẽ phải quyết định ai nên sản xuất cái gì với số lượng bao nhiêu. Một cơ quan nào đó sẽ phải quyết định ai quét đường phố, ai quản lý nhà máy, ai trở thành cảnh sát và ai trở thành thầy thuốc.
Mối quan hệ đan xen giữa ba chức năng này của hệ thống giá cả đã hiện diện theo những cách khác nhau ở những nước cộng sản. Tại các quốc gia này, toàn bộ hệ tư tưởng của họ đều dựa trên một lý lẽ trung tâm, đó là lao động bị bóc lột dưới chế độ tư bản và một xã hội ưu việt cần được xây dựng dựa trên một triết lý của Mác: “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”. Thế nhưng, việc không thể điều hành cả một nền kinh tế thuần túy dựa trên mệnh lệnh dẫn đến không thể tách biệt hoàn toàn thu nhập khỏi giá cả.
Các nguồn lực vật chất như đất đai, nhà cửa có thể là đối tượng bị nhòm ngó đầu tiên để bị chuyển đổi thành tài sản công. Kể cả như vậy, người dân vẫn thiếu động lực duy trì và cải thiện loại vốn vật lực này. Khi mọi người đều sở hữu một vật nghĩa là không ai sở hữu nó cả, và không ai có hứng thú trong việc duy trì và cải thiện nó. Đó là nguyên nhân khiến những tòa nhà tại Liên bang Xô-Viết – giống như những tòa nhà xã hội tại Mỹ - trở nên xập xệ chỉ trong vòng một năm hoặc hai năm sau xây dựng, là nguyên nhân khiến máy móc trong các xí nghiệp quốc doanh bao giờ cũng hỏng hóng và liên tục cần sửa chữa, là lý do người dân cần tìm đến chợ đen để bảo trì các phương tiện sản xuất sử dụng cho mục đích cá nhân.
Đối với nguồn vốn nhân lực, nhà nước cộng sản không có khả năng làm triệt để như đối với nguồn vốn vật lực mặc dù họ đã cố gắng tìm nhiều cách. Họ đã cho phép mọi người sở hữu thân thể mình ở một mức độ nào đó và cho phép mọi người đưa ra quyết định của riêng mình, cho phép giá cả ảnh hưởng và định hướng những quyết định đó và tác động đến cả thu nhập nhận được. Dĩ nhiên, họ đã can thiệp làm biến dạng các thông tin giá cả, khiến chúng không phải là giá cả thị trường tự do, nhưng kết cục là vẫn không thể loại trừ hoàn toàn các tác nhân thị trường.
Hệ quả tất yếu mà hệ thống kinh tế chỉ huy mang đến là hiệu suất thấp. Điều này dẫn đến các thảo luận giữa những nhà hoạch định chính sách Nga, Tiệp Khắc, Hungary, Trung Quốc về khả năng tận dụng nhiều hơn yếu tố thị trường trong việc tổ chức sản xuất. Tại hội nghị của các nhà kinh tế học đến từ cả các nước phương Đông và phương Tây, chúng ta được nghe bài phát biểu nổi tiếng của nhà kinh tế học Mác-xít người Hungary. Ông tự mình khám phá lại cho mình nguyên tắc bàn tay vô hình của Adam Smith – một thành tựu trí tuệ đáng ngợi khen dù là thừa thãi. Ông cố gắng để cải tiến nguyên tắc này để có thể sử dụng hệ thống giá cả cho mục đích truyền thông tin và tổ chức sản xuất hiệu quả nhưng không ảnh hưởng đến phân phối thu nhập. Khỏi cần phải nói, ông đã thất bại trên phương diện lý thuyết cũng giống như các nước cộng sản đã thất bại trên thực tế.
[1] Paul Neal "Red" Adair là một lính cứu hỏa giếng dầu người Mỹ. Ông trở nên nổi tiếng trên thế giới với tư cách là một nhà sáng tạo trong lĩnh vực chuyên môn cao và nguy hiểm là chữa cháy và đóng nắp các miệng xả giếng dầu, cả trên đất liền và ngoài khơi (ND).
Nguyên tác: Free to choose: A personal statement, Milton & Rose Friedman
Bản dịch: Tự do lựa chọn: một bản tuyên ngôn cá nhân, nhóm dịch giả gồm Đinh Tuấn Minh, Chu Diệu Hiền, Nguyễn Minh Huệ, Nguyễn Thùy Liên
