Tất định luận và tự do lựa chọn - Chương 3: Hai khái niệm về tự do (Phần 3)

Tất định luận và tự do lựa chọn - Chương 3: Hai khái niệm về tự do (Phần 3)

Ý nghĩa “khẳng định” của từ “tự do” bắt nguồn ở mong ước từ phía con người cá nhân muốn làm chủ bản thân mình. Tôi mong muốn cuộc sống của tôi và các quyết định phụ thuộc vào bản thân tôi, chứ không phụ thuộc vào các thế lực ngoại tại dù là loại gì đi nữa. Tôi mong muốn được là công cụ cho những hành động do ý chí của bản thân tôi chứ không phải của những người khác. Tôi mong muốn được là chủ thể chứ không phải là khách thể; được xúc động bởi các lí lẽ, bởi các mục đích có ý thức, những thứ là của chính tôi chứ không phải là những nguyên nhân tác động đến tôi từ bên ngoài. Tôi mong muốn là một bản diện nào đó, chứ không phải là một phần tử vô diện mạo; một người tạo tác - ra quyết định chứ không phải chịu quyết định, tự hướng dẫn cho mình và không bị tác động bởi tự nhiên bên ngoài hay bởi những người khác, cứ như tôi là một đồ vật, hay một động vật, hay một kẻ nô lệ không có khả năng đóng vai một con người, nghĩa là có khả năng suy tưởng các mục đích và cách xử sự của chính mình rồi thực hiện chúng. Đây ít nhất cũng là bộ phận của điều mà tôi hàm ý, khi tôi nói rằng tôi là sinh vật có lí trí, và đó là lí do của tôi để phân biệt tôi như một con người với phần còn lại của thế giới. Trên hết cả, tôi mong muốn được ý thức về bản thân mình như một hữu thể có suy nghĩ, có ý chí, chủ động, chịu trách nhiệm về những lựa chọn của mình và có khả năng giải thích chúng bằng viện dẫn đến những ý tưởng và những mục đích của riêng tôi. Tôi cảm thấy tự do trong mức độ mà tôi tin điều ấy là đúng, và tôi bị làm nô lệ trong mức độ khiến tôi nhận ra rằng điều ấy không đúng. 

Cái tự do bao hàm việc làm ông chủ của bản thân mình, và cái tự do bao hàm việc không bị người khác ngăn chặn tôi lựa chọn, trong khi đối diện với điều này, có thể tưởng là những khái niệm không cách xa nhau lắm về mặt logic - không hơn gì các cách nói phủ định và khẳng định để nói cùng một thứ. Tuy nhiên, các ý kiến “khẳng định” và “phủ định” về tự do trong lịch sử đã phát triển theo các hướng bất đồng với nhau, không phải lúc nào cũng theo những bước đi được xã hội coi trọng một cách logic, cho đến khi rốt cuộc chúng đi tới xung đột trực tiếp với nhau.

Một cách thức làm sáng tỏ điều này là dưới dạng thức của đà phát triển độc lập, là thứ mà phép ẩn dụ của việc tự làm chủ đòi hỏi, lúc ban đầu có lẽ hoàn toàn vô hại. “Tôi làm chủ bản thân tôi”; “Tôi không là nô lệ cho ai cả”; nhưng liệu tôi có thể không là nô lệ cho bản tính (giống như những người theo Plato hay Hegel vẫn thường hay nói) hay không? Hay là nô lệ cho những đam mê “không kiềm chế được” của chính tôi? Liệu những người ấy có không là vô số những giống loài thuộc một chi họ “nô lệ” đồng nhất - một số có tính chính trị hay luật pháp, số khác mang tính đạo đức hay tinh thần, hay không? Liệu có chăng những người chưa từng có trải nghiệm giải phóng bản thân khỏi tình trạng nô lệ tinh thần, hay nô lệ cho bản tính, và không trải qua quá trình trở nên có ý thức được, một bên là cái ngã (self) vượt trội lên, và bên kia là thứ gí đó ở bên trong nó, bị buộc phải phục tùng? Cái ngã vượt trội lên ấy sau đó theo những cách khác nhau đồng nhất hóa với lí trí, với cái “bản tính cao hơn” của tôi, với cái ngã biết tính toán và nhằm mục đích thỏa mãn những gì mang tính chung cuộc, với cái ngã “đích thực”, hay “lí tưởng”, hay “tự trị” của tôi, hay với cái ngã “trong thể tốt đẹp nhất của nó”; cái ngã ấy sau đó tương phản với xung động phi lí tính, với những khao khát không được kiểm soát, với cái bản tính “thấp kém” của tôi, với việc theo đuổi những thú vui tức thời, với cái ngã “kinh nghiệm” hay “bản địa” của tôi, bị cuốn theo mỗi cơn bùng phát khao khát và đam mê, cần phải giữ trong kỉ luật nghiêm khắc nếu cái ngã ấy có khi nào vươn tới được chiều cao đầy đủ của bản tính “đích thực” của nó. Lúc này thì hai cái ngã có thể được trình bày như bị phân cách bởi một khoảng cách thậm chí còn rộng hơn nữa; cái ngã đích thực có thể được cảm nhận như thứ gì đó rộng hơn cái cá nhân (như từ ngữ thông thường được hiểu), như cái “toàn thể” mang tính xã hội của nó mà cá nhân là một phần tử hay một phương diện: một bộ tộc, một sắc tộc, một giáo hội, một nhà nước, cái xã hội to lớn của những người sống và những người chết và những người còn chưa sinh ra. Cái thực thể ấy sau đó được đồng nhất như cái ngã “đích thực” mà bằng cách áp đặt ý chí đơn nhất của nó mang tính tập thể, hay tính “hữu cơ”, lên các thành viên cứng đầu của nó, nó sẽ đạt được tự do của chính nó, và do đó là cái tự do “cao hơn” của những người cứng đầu ấy. Hiểm họa của việc sử dụng những ẩn dụ hữu cơ để biện minh cho việc một số người ép buộc những người khác nhằm mục đích nâng mức tự do cho họ lên “cao hơn”, đã được vạch ra thường xuyên. Thế nhưng ép buộc người ta nhân danh mục tiêu nào đó (ví dụ như công bằng hay sức khỏe chung) mà nếu người ta được khai minh hơn thì ắt cũng sẽ theo đuổi nó, nhưng chưa theo đuổi vì còn bị mù quáng hay ngu tối hay đồi bại, được chúng ta thừa nhận là chuyện khả dĩ và đôi lúc có thể biện minh được; chính việc thừa nhận này của chúng ta khiến cho cái thứ ngôn ngữ ấy có được vẻ thật khả tín như vậy. Điều này làm cho tôi dễ dàng cảm thấy như là mình ép buộc những người khác vì chính họ, vì lợi ích của họ chứ không phải lợi ích của tôi. Sau đó thì tôi tự cho là tôi biết họ đích thực cần thứ gì một cách rõ ràng hơn là họ tự biết. Chuyện này nhiều nhất là dẫn tới đòi hỏi rằng họ không nên cưỡng lại tôi, nếu họ cũng có lí tính và khôn ngoan như tôi và hiểu được lợi ích của họ như tôi hiểu. Nhưng tôi còn có thể tự cho mình đi xa hơn thế nữa. Tôi có thể tuyên bố rằng họ thực sự quyết tâm đạt tới cái mà họ cưỡng lại ở trong trạng thái mông muội của họ, bởi có một thực thể huyền bí ở bên trong họ - ý chí duy lí tiềm tàng của họ, hay mục tiêu “đích thực của họ - và dẫu cho mọi người vẫn tin vào những gì họ cảm nhận, họ làm, họ nói một cách công khai, thì cái thực thể ấy mới là cái ngã thực sự của họ, cái ngã nghèo nàn mang tính kinh nghiệm ở trong không gian và thời gian có thể không biết gì hay biết rất ít về cái ngã thực sự này; và rằng cái linh hồn bên trong ấy mới là cái ngã duy nhất xứng đáng được chú ý tới những mong ước của nó.140 Một khi tôi giữ quan điểm ấy là tôi ở trong trạng thái làm ngơ với những mong ước thực sự của người ta hay của xã hội, sẵn sàng bắt nạt, đàn áp, hành hạ họ nhân danh và thay mặt cho những cái ngã “thực sự” của họ, là tôi ở trong tình trạng biết chắc rằng bất cứ thứ gì là mục đích đích thực của con người (hạnh phúc, thực hiện nghĩa vụ, sáng suốt, một xã hội công bằng, tự thỏa mãn) đều phải đồng nhất với tự do của người ấy - lựa chọn tự do của cái ngã “đích thực” của anh ta, mặc dù cái ngã ấy thường lặn chìm và không biểu lộ rõ ràng.

Nghịch lí này thường vẫn được phơi bày. Nói rằng tôi biết cái gì là tốt cho anh X trong khi chính anh ta lại không biết là một chuyện; thậm chí lờ đi những mong ước của anh ta về cơ sở cho chuyện này - và vì lợi ích của anh ta nữa; nhưng sẽ là chuyện rất khác khi nói rằng anh ta đã lựa chọn điều đó bằng chính hành động lựa chọn của mình (eo ipso), không phải thực sự có ý thức, không phải như anh ta vẫn tưởng là thế trong cuộc sống hằng ngày, mà là trong vai trò của anh ta như một cái ngã duy lí, cái ngã kinh nghiệm của anh ta có thể không biết cái ngã duy lí này - cái ngã “đích thực” nhận ra điều tốt và không thể hỗ trợ việc chọn lựa nó một khi nó bộc lộ. Cái việc thủ vai quái dị này bao gồm việc đặt ngang hàng cái mà anh X ắt sẽ lựa chọn nếu như anh ta là thứ gì đó mà anh ta không là, hay ít nhất cũng còn chưa là, với cái mà anh X quả thực đang tìm kiếm và lựa chọn, [việc thủ vai quái dị ấy] là thực chất của tất cả các lí thuyết chính trị về tự ý thức. Nói rằng tôi có thể bị ép buộc vì điều tốt cho bản thân tôi mà do tôi quá mù quáng không nhìn ra được, ấy là một chuyện: đôi khi điều này có thể có lợi cho tôi; nó quả thực có thể mở rộng phạm vi tự do của tôi. Nhưng là chuyện khác khi nói rằng nếu đấy là điều tốt cho tôi thì tôi không bị ép buộc, bởi vì tôi đã định như thế dẫu tôi có biết điều này hay không, và tôi có tự do (hay tự do “đích thực”) ngay cả trong lúc cái thân thể trần gian khốn khổ của tôi và cái đầu óc điên rồ của tôi gay gắt bác bỏ nó, và tranh đấu hết sức tuyệt vọng chống lại những người tìm cách áp đặt nó, dù họ có bác ái đến đâu đi nữa.

Biến đổi đầy ma thuật ấy, hay trò ảo thuật (mà William James đã nhạo báng thật đích đáng những người theo Hegel) chắc chắn có thể thực hiện được thật dễ dàng với khái niệm tự do “phủ định”, mà ở đó cái ngã không nên bị can thiệp không còn là cái cá nhân với những mong muốn và nhu cầu thực sự của nó như cảm nhận bình thường, nhưng lại là con người “đích thực” ở bên trong được đồng nhất với việc theo đuổi một mục tiêu lí tưởng nào đó mà cái ngã kinh nghiệm của anh ta không bao giờ nghĩ đến. Và, như trong trường hợp của cái ngã tự do [theo nghĩa] “khẳng định”, cái thực thể ấy có thể bị thổi phồng thành một thực thể siêu ngã nào đó - một nhà nước, một giai cấp, một quốc gia hay tiến triển của bản thân lịch sử, được xem như một chủ thể có thuộc tính “đích thực” hơn là cái ngã kinh nghiệm. Thế nhưng ý niệm tự do “khẳng định” như tự làm chủ với giả định của nó về con người bị phân cách chống lại bản thân mình, trên thực tế và như là vấn đề của lịch sử, của học thuyết cũng như của thực hành, đã khá dễ dàng góp phần vào việc tách đôi bản ngã: bản ngã siêu việt, kiểm soát vượt trội và bản ngã kinh nghiệm như một bó các khao khát và đam mê cần phải khép vào kỉ luật và bắt phải phục tùng. Chính cái sự kiện lịch sử ấy đã có uy thế đầy ảnh hưởng. Điều này chứng minh (nếu cần phải chứng minh cho một chân lí thật hiển nhiên đến thế) rằng các ý niệm về tự do nảy sinh trực tiếp từ những quan điểm về cái gì cấu thành một cái ngã, một bản diện, một con người. Việc thao túng định nghĩa con người đã quá đủ rồi, và tự do có thể bị nhào nặn để hàm nghĩa bất cứ thứ gì mà ngưòi thao túng mong muốn. Lịch sử mới đây chỉ làm cho nó quá rõ ràng là vấn đề không đơn thuần mang tính hàn lâm. 

Các hệ lụy của việc phân định giữa hai cái ngã sẽ còn rõ ràng hơn nữa nếu ta xem xét hai hình thức chủ yếu mà lòng khao khát được tự hướng dẫn - được hướng dẫn bởi cái ngã “đích thực” của một người - đã được thử thách về mặt lịch sử: thứ nhất là hi sinh bản thân để đạt được độc lập; thứ hai là tự ý thức, hay là tự đồng nhất mình với một nguyên tắc đặc thù hay một lí tưởng để đạt được cùng mục đích đó.

Nguồn: Tất định luận và tự do lựa chọn (Liberty, Nhà xuất bản Oxford University Press, 2002) của Isaiah Berlin, do dịch giả Nguyễn Văn Trọng dịch một cách đầy đủ và mạch lạc

Dịch giả:
Nguyễn Văn Trọng