Sự nghèo nàn của thuyết sử luận - Chương 1: Những luận thuyết phản tự nhiên luận của thuyết sử luận (Phần 4)

Sự nghèo nàn của thuyết sử luận - Chương 1: Những luận thuyết phản tự nhiên luận của thuyết sử luận (Phần 4)

7. THUYẾT CHỦ TOÀN

Hầu hết các nhà sử luận đều tin chắc rằng còn phải có một lý do sâu sắc nào đó nữa khiến những phương pháp của vật lý học không áp dụng được cho các bộ môn khoa học xã hội. Họ lập luận rằng, cũng giống như đối với mọi khoa học “sinh học” khác, tức là mọi khoa học liên quan đến những vật thể sống, phải xem xét xã hội học trên quan điểm “chủ toàn” (holism) chứ không phải trên quan điểm nguyên tử luận; bởi vì không bao giờ được nhìn những đối tượng của xã hội học, tức là những nhóm xã hội, chỉ đơn giản như những cá nhân gộp lại. Nhóm xã hội không chỉ là toàn bộ các thành viên của nó, và cũng không chỉ là tổng của các mối quan hệ cá nhân tồn tại trong bất kỳ thời điểm nào giữa các thành viên của nó. Người ta nhận thấy điều đó ngay cả ở một nhóm chỉ gồm ba thành viên. Một nhóm do A và B thành lập sẽ khác về đặc tính so với một nhóm có cùng những thành viên như nhau nhưng do B và C thành lập. Qua đó có thể hiểu được vì sao người ta nói mỗi nhóm đều có một lịch sử riêng của mình, và vì sao người ta nói cấu trúc của nó phụ thuộc rất lớn vào lịch sử của chính nó (xem thêm mục 3 - Tính mới lạ ở trên). Một nhóm có thể vẫn lưu giữ được tính chất nguyên vẹn của mình nếu bị thiếu đi một vài thành viên không mấy quan trọng. Thậm chí vẫn có thể hình dung được rằng một nhóm có thể giữ được phần lớn bản sắc của mình ngay cả khi tất cả những thành viên ban đầu của nó được thay thế bằng những thành viên khác. Trong khi cùng những thành viên của một nhóm trước đó cũng vẫn có cơ tạo dựng một nhóm hoàn toàn khác hẳn, nếu thay vì lần lượt từng người tham gia vào nhóm ban đầu, họ lại cùng nhau thành lập một nhóm mới. Nhân cách của từng thành viên có thể ảnh hưởng lớn đến lịch sử và cấu trúc của nhóm, nhưng điều đó không ngăn được nhóm có một lịch sử và một cấu trúc riêng; điều đó cũng không ngăn được sự tác động mạnh mẽ của nhóm đến từng thành viên.

Mọi nhóm xã hội đều có những truyền thống, những thiết chế, những nghi lễ riêng. Thuyết sử luận tuyên bố rằng nếu muốn hiểu và cắt nghĩa được nhóm như nó đang tồn tại hiện nay, cũng như nếu muốn nắm bắt hay thậm chí đoán trước được sự phát triển tương lai của nó, ta cần phải thấu hiểu lịch sử cũng như những truyền thống và những thiết chế của nó.

Đặc tính chủ toàn của các nhóm xã hội - việc không thể cắt nghĩa những nhóm như vậy hoàn toàn chỉ bằng sự cộng gộp của các thành viên - đã khiến những nhà sử luận phân biệt rành mạch một bên là cái mới trong vật lí học, tức là cái mới chỉ bao hàm trong nó những cách kết hợp hay cách sắp đặt mới các yếu tố cấu thành cũ, và một bên là cái mới trong đời sống xã hội, là cái mới thực sự và không thể chỉ quy giản về thành cái mới trong cách sắp xếp. Bởi nhìn chung không thể giải thích cấu trúc xã hội như những sự kết hợp đơn giản các bộ phận hay các thành viên của chúng được, cho nên cũng không thể bằng phương cách đó mà cắt nghĩa những cấu trúc mới của xã hội.

Ngược lại, thuyết sử luận nhấn mạnh rằng các cấu trúc vật lí có thể được giải thích chỉ như những “chòm cụm” tựa như chòm sao, hoặc chỉ như sự tổng hợp các thành phần với nhau kèm với hình thể hình học mà chúng có. Như Hệ Mặt Trời chẳng hạn; nghiên cứu lịch sử của Hệ Mặt Trời tuy cũng là điều hay, và tuy cũng làm sáng tỏ được phần nào hiện trạng của nó, nhưng theo một nghĩa nào đó, chúng ta đều biết rằng trạng thái này hoàn toàn độc lập với lịch sử của hệ thống. Cấu trúc của hệ cũng như sự vận động và phát triển tương lai của nó được xác định hoàn toàn bởi cấu hình hiện tại của các thành viên của nó. Nếu biết được vị trí, khối lượng và vận tốc tương đối của những thành viên vào một thời điểm bất kì thì ta lập tức có thể xác định chính xác những vận động trong tương lai của toàn hệ. chúng ta khỏi cần phải có thêm dữ kiện nào về tuổi tác các hành tinh hay về việc cái gì từ xưa đã thâm nhập vào hệ thống từ bên ngoài: mặc dù cũng đáng để quan tâm, nhưng lịch sử cấu trúc không đóng góp gì vào việc tìm hiểu hành trạng, cơ cấu và sự phát triển tương lai của hệ thống cũ. Rõ ràng là ở khía cạnh này thì cấu trúc vật lí khác một cách đáng kể so với cấu trúc xã hội; không thể hiểu cũng như không thể tiên đoán cấu trúc tương lai của xã hội nếu không nghiên cứu tỉ mỉ lịch sử của nó, kể cả khi đã hiểu toàn bộ “cấu hình” của nó trong một thời điểm nhất định.

Những nhận định trên chỉ ra một cách rõ ràng sự liên kết mật thiết giữa thuyết sử luận với lí thuyết duy sinh học hay duy hữu cơ về cấu trúc xã hội - tức là lí thuyết tìm cách diễn giải các nhóm xã hội như những cơ thể hữu cơ. Trên thực tế,quan điểm chủ toàn được coi như đặc trưng cho các hiện tượng sinh học nói chung, và cách tiếp cận chủ toàn được xem như cách tiếp cận không thể thiếu khi xét thấy lịch sử của nhiều cơ thể hữu cơ khác nhau đã ảnh hưởng ra sao đến hành trạng của chúng. Những luận cứ chủ toàn của thuyết sử luận do đó nghiêng về việc nhấn mạnh sự giống nhau giữa các nhóm xã hội và các cơ thể, mặc dù chúng không nhất thiết dẫn đến việc buộc phải chấp nhận một lí thuyết duy sinh học về cấu trúc xã hội. Cũng như vậy, lí thuyết quen thuộc về sự tồn tại một tinh thần nhóm với tư cách bệ đỡ của những truyền thống nhóm, mặc dù bản thân nó không nhất thiết phải là một bộ phận của luận cứ duy lịch sử, nhưng lại liên quan mậtthiết với quan điểm chủ toàn.

8. NHẬN THỨC TRỰC GIÁC

Trên đây ta đã chủ yếu bàn về một số nét đặc tính của đời sống xã hội, như tính mới mẻ, tính phức hợp, tính tổ chức, quan điểm chủ toàn và cách mà lịch sử đời sống xã hội được chia ra thành từng giai đoạn. Đó là những đặc trưng mà thuyết sử luận cho rằng đã khiến một số phương pháp điển hình của vật lí học không thể đem áp dụng được cho các bộ môn khoa học xã hội. Do đó, đối với nghiên cứu xã hội, người ta thấy cần có một phương pháp tiếp cận mang nhiều tính lịch sử hơn. Phần nào đó từ cách nghĩ phản khoa học luận của thuyết sử luận, ta cần cố gắng bằng trực giác tìm hiểu lịch sử của các nhóm xã hội khác nhau. Cách suy nghĩ này đôi lúc được phát triển thành một luận thuyết phương pháp luận rất gần gũi với thuyết sử luận, mặc dù nó không hẳn lúc nào cũng gắn liền với thuyết ấy.

Đó là luận thuyết cho rằng, trái với phương pháp của các bộ môn khoa học tự nhiên, phương pháp đặc thù của các bộ môn khoa học xã hội là phương pháp được đề ra dựa trên cơ sở một sự nhận thức gần gũi và thiết thực về các hiện tượng xã hội. Liên quan tới quan điểm này, người ta thường nhấn mạnh đến những nét đối lập và những sự tương phản sau đây. Vật lí học hướng đến mộtlời kiến giải mang tính nhân quả, còn xã hội học lại hướng đến sự nhận thức về mục đích và ý nghĩa. Trong vật lí học, các sự kiện được cắt nghĩa một cách chặt chẽ và mang tính định lượng với sự trợ giúp của những công thức toán học. Xã hội học thì tìm cách nắm hiểu các quá trình phát triển lịch sử dưới dạng định tính nhiều hơn, chẳng hạn dưới dạng những mục đích và khuynh hướng đối nghịch, hoặc dưới dạng “đặc điểm dân tộc” hay “tinh thần thời đại”. Do vậy mà tại sao trong khi vật lí học sử dụng những phép khái quát hóa mang tính diễn dịch thì nghiên cứu xã hội học chỉ có thể được tiến hành với sự trợ giúp của đầu óc tưởng tượng mang tính đồng cảm. Và đó cũng là lí do vì sao vật lí học có thể đạtđến những đặc tính giống nhau có giá trị hiệu lực một cách phổ quát và cắt nghĩa được mọi sự kiện đơn lẻ với tư cách như những ví dụ minh họa cho những đặc tính giống nhau ấy, trong khi xã hội học đành phải hài lòng với nhận thức trực giác về những sự kiện đơn lẻ và về vai trò của chúng trong những tình huống đặc thù, xảy ra giữa những mớ hỗn độn các quyền lợi, các khuynh hướng và các vận mệnh.

Tôi cho rằng nên phân biệt ba biến thể khác nhau của luận thuyết về nhận thức trực giác. Biến thể thứ nhất khẳng định rằng một sự kiện xã hội được nhận biết khi được mang ra phân tích trên cơ sở những động lực đã khiến nó xảy ra, tức là khi biết rõ về những cá nhân và những nhóm tham gia, những mục đích, quyền lợi và năng lực cũng như sức mạnh của những cá nhân và nhóm đó. Những hành động của các cá nhân hoặc nhóm ở đây được hiểu trong mối quan hệ phù hợp với những mục đích do họ đặt ra - nhằm thúc đẩy lợi thế thực sự của họ, hay ít nhất nhằm thúc đẩy lợi thế mà họ tự cho là mình có. Trong trường hợp này, phương pháp của xã hội học được hình dung như một sự tái dựng mang tính tưởng tượng những hoạt động có lí tính hoặc không có lí tính, hướng đến một số mục đích nhất định.

Biến thể thứ hai đi xa hơn. Nó chấp nhận việc phân tích như trên là tất yếu, nhất là để hiểu được những hành động của cá nhân hoặc những hoạt động của nhóm. Nhưng để hiểu được cuộc sống xã hội thì còn cần nhiều hơn thế. Nếu muốn hiểu rõ ý nghĩa một sự kiện xã hội, chẳng hạn như một hành động chính trị, thì việc hiểu được vì sao nó xảy ra và xảy ra như thế nào trên tinh thần của thuyết cứu cánh là chưa đủ. Sâu hơn nữa, chúng ta còn phải hiểu được nó có ý nghĩa gì, sự xuất hiện của nó quan trọng như thế nào. “Ý nghĩa” và “tầm quan trọng” ở đây nghĩa là gì? Theo quan điểm của cái tôi mô tả là biến thể thứ hai, câu trả lời hẳn phải là: một sự kiện xã hội không chỉ gây ra một số ảnh hưởng nào đó, nó không chỉ sớm muộn dẫn đến những sự kiện khác, mà chính bản thân sự hiện diện của nó làm thay đổi giá trị tình huống của một loạt những sự kiện khác. Nó tạo ra một tình huống mới, đồng thời đòi hỏi một sự định hướng lại và diễn giải lại mọi đối tượng và mọi hành động thuộc một lĩnh vực. Để hiểu được một sự kiện, ví dụ như việc cải tổ toàn bộ quân đội ở một nước nào đó, ta hẳn phải phân tích rõ các ý đồ, các quyền lợi,.v..v. Nhưng ta không thể hiểu một cách đầy đủ ý nghĩa hay tầm quan trọng của hành động đó nếu không phân tích được giá trị tình huống của nó; các lực lượng quân sự của một nước khác, chẳng hạn, xưa thừa sức bao sân, nay đã hoàn toàn không còn phù hợp. Tóm lại, toàn bộ tình huống xã hội có thể đã thay đổi ngay cả trước khi xảy ra những thay đổi nhìn thấy trên thực tế, dù đó là những thay đổi về mặt vật chất hay thậm chí chỉ là những thay đổi về mặt tâm lí; bởi vì tình huống có thể đã thay đổi từ lâu trước khi sự thay đổi thực sự được ai đó nhận ra. Do đó, để hiểu được đời sống xã hội, ta phải tìm hiểu sâu hơn chứ không chỉ dựa vào việc phân tích những nguyên nhân và những kết quả nhìn thấy trên thực tế, tức là không chỉ dựa vào việc phân tích những động cơ, những quyền lợi và những phản ứng nhằm đáp lại các hành động. Phải tìm hiểu mỗi sự kiện với tư cách một nét đặc trưng nhất định trong cái toàn thể. Sự kiện có được tầm quan trọng là nhờ vào ảnh hưởng của nó đến cái toàn thể, và cũng do đó tầm quan trọng của nó một phần được xác định bởi cái toàn thể.

Biến thể thứ ba của luận thuyết về nhận thức trực giác còn đi xa hơn nữa, ngoài việc hoàn toàn chấp nhận mọi cách nhìn của hai biến thể nói trên. Biến thể này cho rằng ngoài nguyên nhân phát sinh, hậu quả và giá trị tình huống ra, còn phải phân tích nhiều hơn nữa mới có thể hiểu hết được ý nghĩa và tầm quan trọng của một sự kiện xã hội. Ngoài những phép phân tích nói trên, còn cần phải phân tích những xu thế và những khuynh hướng khách quan, mang tính lịch sử (ví dụ như sự lớn mạnh hay suy yếu của một số truyền thống hoặc một số quyền lực) thịnh hành trong giai đoạn đang được nói đến, đồng thời phải phân tích cả sự góp mặt của sự kiện đang được bàn đến ấy vào tiến trình lịch sử trong đó những xu thế nói trên được bộc lộ. Chẳng hạn, để hiểu rõ vụ bê bối Dreyfus thì ngoài việc phân tích nguyên nhân, hậu quả và giá trị tình huống của sự việc ra, ta còn phải tìm hiểu kĩ những biểu hiện của cuộc đụng độ giữa hai khuynh hướng lịch sử trong quá trình phát triển của nền cộng hòa Pháp, khuynh hướng dân chủ và chuyên chế, tiến bộ và phản động.

Ở một mức độ nào đó, với việc chú trọng vào các xu thế hoặc khuynh hướng lịch sử, biến thể thứ ba của phương pháp nhận thức trực giác này có xu hướng muốn áp dụng phép loại suy từ một giai đoạn lịch sử này cho một giai đoạn lịch sử khác. Bởi mặc dù hoàn toàn nhận thức được sự khác biệt rất lớn giữa các giai đoạn lịch sử và biết rõ việc không một sự kiện nào có thể thực sự tự lặp lại trong một giai đoạn phát triển khác của xã hội, người ta vẫn sẵn sàng chấp nhận rằng những khuynh hướng giống nhau có thể được tái hiện vào những giai đoạn cách nhau rất xa, và trở thành những khuynh hướng chủ đạơ trong các giai đoạn đó. chẳng hạn người ta có thể cho rằng có những sự giống nhau giữa Hi Lạp trước Alexander và nước Đức trước Bismarck. Trong những trường hợp như vậy, phương pháp nhận thức trực giác đưa ra giả thuyết cho rằng chúng ta có quyền đánh giá ý nghĩa một số sự kiện nào đó bằng cách so sánh chúng với những sự kiện tương tự xảy ra trong những giai đoạn sớm hơn, cho phép ta dự báo được những bước phát triển mới - tuy phải luôn lưu ý một cách thích đáng đến những khác biệt không tránh khỏi giữa hai giai đoạn.

Với cách nhìn như vậy, phương pháp có khả năng nhận biết ý nghĩa của các sự kiện xã hội phải là một phương pháp vượt ra ngoài cách kiến giải mang tính nhân quả. Nó phải mang tính chủ toàn và phải hướng tới xác định vai trò của sự kiện trong một cấu trúc phức hợp - trong một toàn thể bao gồm cả những thời đoạn tiếp nối của một quá trình phát triển trải dài theo thời gian. Điều đó có thể cắt nghĩa vì sao biến thể thứ ba của phương pháp nhận thức trực giác có xu hướng dựa vào sự giống nhau giữa một cơ thể với một nhóm, và vì sao nó có xu hướng thiên về những ý niệm như kiểu tâm trí thời đại hay tinh thần thời đại, coi đó như sự khởi nguồn và là yếu tố dẫn dắt của mọi khuynh hướng hay xu thế lịch sử, những cái đóng một vai trò thực sự quan trọng trong việc xác định ý nghĩa các sự kiện xã hội.

Nhưng phương pháp nhận thức trực giác không chỉ ăn khớp với những ý niệm chủ toàn. Nó còn rất nhất quán với sự chú trọng của nhà sử luận vào tính mới mẻ; bởi bằng lí tính hay bằng quan hệ nhân quả, Không ai cắt nghĩa được tính mới mẻ, mà người ta chỉ có thể nắm bắt được nó bằng trực giác. Thêm vào đó, những gì được tranh luận xoay quanh các học thuyết sử luận duy khoa học luận sẽ cho ta thấy chúng có mối quan hệ mật thiết với cái gọi là “biến thể thứ ba” của phương pháp nhận thức trực giác, cùng với sự chú trọng của phương pháp này vào những khuynh hướng hoặc “xu thế” lịch sử (Có thể tham khảo thêm mục 16).

Nguyên tác: The poverty of historicism, Karl Popper (Routledge, 1974)

Bản dịch: NXB Tri thức, Chu Lan Đình dịch.