Sự nghèo nàn của thuyết sử luận - Chương 3: Phê phán những luận thuyết phản tự nhiên luận (Phần 3)
22. LIÊN MINH TỘI LỖI VỚI THUYẾT KHÔNG TƯỞNG
Mill cũng đã từng công nhận rằng có một sự đối lập rõ rệt giữa cái tôi gọi là “công nghệ phân mảnh” với cái tôi gọi là “thuyết sử luận”. “Có hai loại hình nghiên cứu xã hội học”, ông viết, “ở loại thứ nhất, câu hỏi được đặt ra là,... chẳng hạn, trong điều kiện xã hội hiện thời, điều gì sẽ xảy ra nếu... quyền đầu phiếu phổ thông được mang ra áp dụng?... Nhưng còn một loại câu hỏi thứ hai nữa... Trong đó... câu hỏi được đặt ra không phải về kết quả của một nguyên nhân cho sẵn trong một nhà nước xã hội nhất định nào đó, mà đâu là những nguyên nhân đã khiến nảy sinh... các nhà nước xã hội nói chung?” (Xem J. S. Mill, Logic, cuốn VI, Chương X, mục 1). Nếu coi những “Nhà nước Xã hội” của Mill tương ứng chính xác với cái ta vẫn gọi là các “giai đoạn lịch sử” thì rõ ràng sự phân biệt của ông giữa “hai loại hình nghiên cứu xã hội học” sẽ phải tương ứng với sự phân biệt của chúng ta giữa cách tiếp cận của công nghệ phân mảnh với cách tiếp cận của thuyết sử luận; và rồi điều này thậm chí còn được bộc lộ rõ rệt hơn nếu ta xét kĩ đến cách mà Mill mô tả “loại hình nghiên cứu xã hội học thứ hai” mà ông (dưới ảnh hưởng của Comte) tuyên bố rằng ưu việt hơn hẳn loại hình thứ nhất, và ông mô tả nó như sự áp dụng cái ông gọi là “phương pháp lịch sử”.
Như phần trên đã nói rõ (mục 1, 17 và 18), thuyết sử luận không đối lập với quan điểm “duy hành động”. Ta có thể thậm chí diễn giải xã hội học sử luận xem nó như một loại công nghệ (như Marx quan niệm) giúp “rút ngắn và làm dịu bớt những cơn đau đẻ” của một giai đoạn lịch sử mới. Thực sự là trong cách Mill mô tả phương pháp lịch sử, ta có thể nhận ngay ra ý tưởng này, và ở đó, nó được trình bày hệt như cách Marx trình bày (Logic, cuốn VI, Chương X, mục 8. Câu nói tương tự của Marx (được nhắc đến cả ở mục 17 ở trên) được trích từ “Lời nói đầu” viết cho lần xuất bản thứ nhất của bộ Tư bản): “Phương pháp được đặc tả ở đây chính là phương pháp cần được sử dụng trong việc tìm kiếm phát hiện... những quy luật... tiến bộ của xã hội. Từ nay, với sự trợ giúp của phương pháp này, ta không những có thể nhìn sâu vào tương lai lịch sử của loài người mà còn xác định được đâu là những phương tiện nhân tạo có thể sử dụng để... đẩy nhanh sự tiến bộ tự nhiên, nếu đó là sự tiến bộ có lợi... (Nhận xét trên cho thấy quan điểm Không Tưởng của Mill đã cho phép ông tránh được việc coi “sự có lợi” đồng nghĩa với “sự tiến bộ”; thế có nghĩa là, mặc dù vẫn là người xem trọng sự tiến bộ, Mill đã không ủng hộ thứ luận thuyết đạo đức sử luận (xem mục 19) như kiểu Spencer và Engels đưa ra (và thứ luận thuyết của C. H. Waddington ngày nay); xem cuốn Science and Ethics (Khoa học và đạo đức) của ông) Những chỉ dẫn thực tiễn dựa trên một thứ ngành bậc cao hơn cả của môn xã hội học tư biện kiểu ấy tạo nên bộ phận cao sang nhất và hữu ích nhất của Nghệ thuật chính trị.”
Theo những gì đoạn văn trên cho thấy, cái đánh dấu sự khác biệt giữa cách tiếp cận của tôi với cách tiếp cận của thuyết sử luận nằm ở việc nó là một thứ công nghệ phân mảnh chứ không phải ở việc nó là một thứ công nghệ. Trong chừng mực mà thuyết sử luận là một chủ thuyết thiên về công nghệ thì cách tiếp cận của nó không phải là cách tiếp cận phân mảnh mà là cách tiếp cận “chủ toàn”.
Cách tiếp cận của Mill rõ ràng là một cách tiếp cận chủ toàn khi ông giải thích thế nào là một “Nhà nước Xã hội” (hay một giai đoạn lịch sử): “Cái gọi là Nhà nước Xã hội”, ông viết, “... là nhà nước trong đó có sự xuất hiện đồng thời của các hiện tượng và các thực kiện quan trọng nhất của xã hội.” Ông nêu một số ví dụ về những thực kiện quan trọng như: “Thực trạng công nghiệp, thực trạng của cải vật chất và sự phân bố khối của cải ấy; sự phân chia xã hội thành các giai cấp, và những mối quan hệ giữa các giai cấp ấy với nhau; những tín ngưỡng cùng có chung...; hình thức chính phủ của các giai cấp ấy cũng như những luật lệ và phong tục quan trọng nhất của chúng.” Tóm lại, các xã hội được Mill mô tả một cách đặc trưng như sau: “Các nhà nước xã hội giống như... những thời đoạn khác nhau của thể tạng vật lí; chúng không phải là những điều kiện thuộc một hay một số ít các cơ quan hoặc các chức năng, mà là những điều kiện của toàn bộ cơ thể.” (Mill, sđd, phần 2 (những chữ in nghiêng là do tôi viết)).
Chính quan điểm chủ toàn là cái dựa vào đó để phân biệt một cách dứt khoát nhất thuyết sử luận với bất cứ loại công nghệ phân mảnh nào và khiến nó có khả năng liên kết với một số kiểu kĩ thuật chủ toàn hoặc Không Tưởng.
Hẳn đây là một liên minh có phần nào trái khoáy; bởi như ta biết (xem mục 15), có một sự xung đột rõ ràng giữa cách tiếp cận của người theo quan điểm sử luận với cách tiếp cận của kĩ sư xã hội hoặc của nhà công nghệ, nếu ta hiểu kĩ thuật xã hội là việc kiến tạo các thể chế xã hội trên cơ sở một sự hoạch định. Theo cách nhìn của thuyết sử luận, cách tiếp cận sử luận về căn bản đối lập với mọi thứ kĩ thuật xã hội, không khác gì cách tiếp cận của một nhà khí tượng học đối lập với cách tiếp cận của một thầy phù thủy hô phong hoán vũ; dựa trên cách nhìn đó, kĩ thuật xã hội (kể cả cách tiếp cận phân mảnh) bị các nhà sử luận công kích coi như một thứ kĩ nghệ Không Tưởng. (Xem các mục từ 15 đến 17; đặc biệt nên tham khảo cuốn Chủ nghĩa Xã hội, từ Không tưởng đến Khoa học (Socialism, Utopian and Scientific) của Engels). Bất chấp điều đó, chúng ta vẫn thấy thuyết sử luận rất thường xuyên liên kết với chính những ý niệm đặc trưng cho kĩ nghệ xã hội chủ toàn hay Không Tưởng, thể như ý niệm về “những đồ án thiết kế cho một trật tự mới” hay về “kế hoạch hóa tập trung”.
Hai đại diện tiêu biểu cho liên minh này là Plato và Marx. Plato có quan điểm yếm thế, ông tin rằng mọi biến đổi - hay hầu hết mọi biến đổi - đều dẫn đến suy vong; đó là định luật phát triển lịch sử theo quan điểm của ông. Theo đó, đề án thiết kế Không Tưởng của ông đưa ra là nhằm ngăn chặn mọi biến đổi (tôi bàn khá kĩ về điểm này trong cuốn “Xã hội mở và những kẻ thù của nó”); đó là một đề án “tĩnh” theo cách gọi ngày nay.
Ngược với Plato, Marx là người lạc quan và có khả năng (như Spencer) là môn đồ của một thứ học thuyết đạo đức mang tính sử luận. Do đó, đề án thiết kế Không Tưởng của ông hướng về một xã hội đang phát triển hay một xã hội “động” chứ không phải một xã hội đông cứng. Marx đã tiên đoán và cố gắng tích cực thúc đẩy một hướng phát triển mà giai đoạn tột cùng của nó là một xã hội Không Tưởng lí tưởng, ở đó không còn áp bức chính trị hoặc kinh tế: nhà nước lúc này bị tiêu vong, mỗi người đều được tự do góp sức theo năng lực và hưởng thụ theo nhu cầu.
Không còn nghi ngờ gì nữa, khâu mạnh nhất trong khối liên minh giữa thuyết sử luận với chủ thuyết Không Tưởng chính là cách tiếp cận chủ toàn mà cả hai đều sử dụng. Thuyết sử luận quan tâm đến sự phát triển, không phải của những khía cạnh trong đời sống xã hội, mà của “xã hội như một chỉnh thể”; còn kĩ nghệ Không Tưởng thì cũng không khác gì, cũng mang tính chủ toàn, cả hai đã không tính đến một điều quan trọng sẽ được xác định trong mục tiếp theo, đó là: “những chỉnh thể” hiểu theo nghĩa này không bao giờ có thể là đối tượng của nghiên cứu khoa học. cả hai đều không thỏa mãn với việc “hàn nối từng phần” và “gỡ rối dần dần”: họ muốn sử dụng những phương pháp triệt để hơn. Và rồi cả nhà sử luận lẫn nhà Không Tưởng đều dường như bị kích động và đôi khi thực sự hoảng sợ trước kinh nghiệm về một sự biến đổi của môi trường xã hội mà họ đã phải kinh qua (một sự trải nghiệm thường là kinh hoàng và đôi khi được mô tả như một “sự đổ vỡ của xã hội”). Do đó, cả hai đều muốn cố gắng duy lí hóa sự biến đổi đó, một bên thì tìm cách đưa ra những lời tiên tri về tiến trình phát triển xã hội, một bên thì bằng cách khẳng định rằng sự biến đổi đó cần được kiểm soát chặt chẽ và toàn bộ, hoặc thậm chí cần được ngăn chặn hoàn toàn. Việc kiểm soát phải được tiến hành hoàn hảo, không có kẽ hở, bởi ở bất cứ khâu nào của đời sống xã hội nếu không được kiểm soát chặt chẽ đều có nguy cơ tàng ẩn những lực lượng hiểm ác sẵn sàng gây ra những biến đổi khó lường.
Một sự móc nối khác giữa nhà sử luận và nhà Không Tưởng nằm ở chỗ cả hai đều tin rằng những mục đích hay cứu cánh của họ không phải là chuyện để mang ra bàn cãi, hoặc không xuất phát từ quyết định mang tính luân lí, mà dường như họ đã phát hiện ra chúng một cách khoa học thông qua các lĩnh vực nghiên cứu của mình (ở điểm này, họ khác với kĩ nghệ gia và kĩ sư áp dụng phương pháp phân mảnh, cũng ngang như khác với người kĩ sư vật lí). Cả nhà sử luận lẫn nhà Không Tưởng đều tin rằng họ có thể chỉ ra được đâu là mục đích hay cứu cánh của “xã hội”; chẳng hạn bằng cách xác định những khuynh hướng lịch sử của nó hay bằng cách chẩn định “những nhu cầu của thời đại của họ”. Do đó họ có xu hướng tiếp nhận một thứ luận thuyết đạo đức mang tính sử luận nào đó (xem mục 18). Không ngẫu nhiên khi hầu hết các tác giả bênh vực cho “kế hoạch hóa” Không Tưởng nói với chúng ta rằng lập kế hoạch là một việc làm không tránh khỏi, chiếu theo xu thế phát triển của xã hội; và rồi chúng ta buộc phải lập kế hoạch, dù muốn hay không. (Chẳng hạn có thể tham khảo cuốn Con người và xã hội của K. Mannheim, trang 6 (và nhiều chỗ khác), trong đó người ta nói với chúng ta rằng “Từ nay không còn gì phải lựa chọn 'giữa lập kế hoạch hay không lập kế hoạch’ mà chỉ phải lựa chọn ‘giữa kế hoạch khả quan và kế hoạch tồi' mà thôi”; hoặc như cuốn The Planning of Free Societies của F. Zweig, trang 30, trong đó người ta đã trả lời cho câu hỏi xã hội nào tốt hơn giữa một xã hội có kế hoạch và một xã hội không có kế hoạch rằng vấn đề này không cần được đặt ra, bởi vì nó đã được chúng ta giải quyết thông qua việc chỉ đạo quá trình phát triển hiện tại của lịch sử).
Cùng một dòng mạch ấy của thuyết sử luận, các tác giả này phê phán đối thủ của mình là lạc hậu và tin rằng nhiệm vụ chính của họ là “xoá bỏ những thói quen tư duy cũ kĩ và tìm ra những chìa khoá mới để nhận thức thế giới đang đổi thay”(K. Mannheim, sđd, trang 33; câu sau đó được trích dẫn ở trang 7, cùng sách). Họ khẳng định rằng “không thể tác động đến, hay thậm chí không thể làm chệch hướng” xu thế biến đổi của xã hội, chừng nào ta chưa loại bỏ được cách tiếp cận phân mảnh hoặc loại bỏ được lối cư duy “gỡ rối dần dần”. Nhưng ở đây ta có thể nghi ngờ liệu cái thứ “tư duy ở trình độ lập kế hoạch” mới mẻ đó có thực sự là mới mẻ như họ tuyên bố hay không, bởi nói thẳng ra, hình như quan điểm chủ toàn luôn đặc trưng cho một lối tư duy rất xưa cũ, ít nhất cũng đã có từ thời Plato (không khác Comte là mấy, K. Mannheim phân biệt ba trình độ khác nhau trong sự phát triển của tư duy: (1) thử sai hoặc tình cờ phát hiện, (2) phát minh, (3) lập kế hoạch [sđd, trang 150]. Tôi không đồng tình chút nào với học thuyết của ông vì cho rằng chính phép thử sai mới là cái gần gũi hơn cả với phương pháp của khoa học so với bất kể “trình độ” nào khác. Có một lí do nữa để coi cách tiếp cận chủ toàn trong khoa học xã hội là cách tiếp cận mang tính tiền khoa học, đó là, nó có chứa một yếu tố cầu toàn. Tuy nhiên, một khi đã nhận ra rằng không thể tạo dựng một thiên đường ở cõi trần gian mà mọi việc chỉ có thể được cải thiện chút đỉnh, chúng ta sẽ biết chắc rằng mình có khả năng cải thiện chúng nhưng chỉ từng tí một mà thôi). Theo quan điểm riêng của mình, tôi thấy có thể đưa ra không ít luận cứ vững chắc để chứng minh cho cách suy nghĩ chủ toàn (dù về “xã hội” hay về “tự nhiên”), cách tư duy còn lâu mới đại diện được cho một trình độ phát triển cao hay trình độ phát triển gần đây của tư duy, mà nó chỉ đặc trưng cho một giai đoạn tiền khoa học.
Nguyên tác: The poverty of historicism, Karl Popper (Routledge, 1974)
Bản dịch: NXB Tri thức, Chu Lan Đình dịch.
