Sự nghèo nàn của thuyết sử luận - Chương 4: Phê phán những luận thuyết duy tự nhiên luận (Phần 1)
27. CÓ ĐỊNH LUẬT TIẾN HÓA HAY KHÔNG? ĐỊNH LUẬT VÀ XU THẾ
Những luận thuyết của thuyết sử luận mà tôi vẫn gọi là “duy tự nhiên luận” có rất nhiều điểm chung với những luận thuyết phản tự nhiên luận của nó. Chẳng hạn, chúng đều bị ảnh hưởng của cách suy nghĩ chủ toàn và đều bắt nguồn từ việc ngộ nhận về những phương pháp của khoa học tự nhiên. Do chúng thể hiện một nỗ lực không đúng hướng trong việc sao chép y nguyên những phương pháp này, nên ta có thể coi chúng là những luận thuyết “duy khoa học” - theo cách hiểu của Giáo sư Hayek. (Xem F. A. Hayek, “Scientism and the Study of Society”, Economica, Bộ Mới, tập IX, nhất là ở trang 269, Hayek sử dụng thuật ngữ “duy khoa học” như một cái tên để gọi “sự bắt chước phương pháp và ngôn ngữ của khoa học một cách mù quáng”. Còn ở đây thì nó được sử dụng để chỉ việc bắt chước những gì mà một số người nhầm tưởng đó là phương pháp và ngôn ngữ của khoa học)
Chúng cũng đặc trưng cho thuyết sử luận không kém những luận thuyết phản tự nhiên luận của chủ thuyết này, mà có khi còn quan trọng hơn. Nhất là, niềm tin cho rằng nhiệm vụ của khoa học xã hội là phải bóc trần được định luật tiến hóa của xã hội nhằm đoán trước tương lai của nó (một quan điểm đã được trình bày ở hai mục 14 và 17), là niềm tin có thể được mô tả xem như học thuyết trung tâm của chủ thuyết duy lịch sử. Bởi vì, quan niệm như vậy về một xã hội đang vận động trải qua một loạt các giai đoạn sẽ khiến nảy sinh, một mặt, sự tương phản giữa một xã hội biến đổi và một thế giới vật chất bất biến, và từ đó nảy sinh quan điểm phản tự nhiên luận. Mặt khác, cũng chính cách nhìn ấy lại khiến nảy sinh niềm tin duy tự nhiên luận - và duy khoa học - vào cái gọi là “những định luật tự nhiên về sự nối tiếp nhau”, một thứ niềm tin mà vào thời của Comte và Mill dường như đã được khẳng định thông qua những dự báo thiên văn dài hạn, và gần đây hơn là thông qua thuyết Darwin.
Có thể nói được rằng cái mốt thịnh hành gần đây nhất của thuyết sử luận chẳng qua chỉ là một phần mốt thịnh hành của thuyết tiến hóa - một thứ triết lí có được uy thế phần lớn nhờ vào sự va đập phải nói là ngoạn mục giữa một giả thuyết khoa học xuất sắc về lịch sử các chủng loài động vật và thực vật khác nhau trên trái đất, và một lí thuyết siêu hình học xưa cũ mà nhân đây cũng phải nói rằng nó là một yếu tố của một niềm tin tôn giáo đã được xác lập. (Tôi nhất trí với Giáo sư Raven trong cuốn Science, Religion and the Future (1943) của ông khi ông gọi sự đụng độ này là “bão táp trong tách trà Tàu”; mặc dù sức mạnh của vài nhận định e có phần giảm sút do ông quá xem trọng đám hơi đang còn bốc lên từ miệng tách - tức là xem trọng những hệ thống triết học tiến hóa luận lớn do Bergson, Whitehead, Smuts và những người khác đề xuất)
Cái ta gọi là giả thuyết tiến hóa là sự kiến giải một loạt những quan sát sinh học và cổ sinh học - chẳng hạn như một số nét tương đồng nhất định giữa các chủng và các loài - thông qua việc mặc định về tổ tiên chung của những dạng sự sống được coi là có họ hàng với nhau. (Do e ngại khuynh hướng của các nhà tiến hóa luận luôn nghi ngờ bất cứ ai không cùng chia sẻ thái độ chân thành của họ đối với việc xem quá trình tiến hóa như “sự thách thức dũng cảm mang tính cách mạng đối với lối tư duy truyền thống” đều là những kẻ ngu dốt, nên tôi xin được tuyên bố ngay rằng bản thân tôi cũng coi thuyết Darwin hiện đại là cách cắt nghĩa thích đáng nhất đối với những thực kiện có liên quan. Lời tuyên bố của C. H. Waddington (Science and Ethics, 1942, tr.17) là một ví dụ rõ ràng về thái độ chân thành của các nhà tiến hóa luận.
Ông nói “ta phải chấp nhận sự định hướng của tiến hóa là đúng đắn, đơn giản chỉ bởi nó là đúng đắn”. Lời tuyên bố này còn minh họa cho sự thích hợp về lời nhận xét của Giáo sư Bernal sau đây đối với cuộc tranh luận xung quanh thuyết Darwin: “Không hề có chuyện... khoa học đã phải chiến đấu với một kẻ thù bên ngoài là Giáo hội, mà sự thể là chính Giáo hội... nằm trong lòng bản thân các nhà khoa học”)
Giả thuyết này không phải là một định luật phổ quát, mặc dù đi kèm với nó trong việc giải thích có một số định luật phổ quát về tự nhiên, như định luật di truyền, định luật phân li, định luật đột biến. Đúng ra thì nó mang đặc tính của một phát biểu ghi nhận cá biệt (đặc thù hay đơn lẻ) có tính lịch sử (nó có cùng một vị thế với phát biểu ghi nhận có tính lịch sử sau: “Charles Darwin và Francis Galton có chung một ông ngoại.”). Nếu nói giả thuyết tiến hóa không phải là một định luật tự nhiên phổ quát mà chỉ là một phát biểu lịch sử cá biệt (hay riêng biệt thì chính xác hơn) về tổ tiên của một số loài thực vật và động vật trên trái đất thì cách nói đó xem chừng có phần tối nghĩa, vì xưa nay người ta thường dùng thuật ngữ “giả thuyết” để mô tả vị thế của những định luật tự nhiên phổ quát. (Thậm chí một phát biểu ghi nhận kiểu như “Mọi động vật có xương sống đều có một cặp ông tổ bà tổ chung” cũng không phải là một định luật tự nhiên phổ quát, kể cả ở đây ta dùng từ “mọi”, bởi nó chỉ nói đến những động vật có xương sống hiện có trên trái đất chứ không nói về tất cả các cơ thể sống tồn tại ở mọi nơi mọi lúc cùng có cái thể tạng mà ta coi là đặc trưng cho lớp động vật có xương sống. Xem thêm cuốn “Logic phát kiến khoa học” của tôi, từ mục 14).
Nhưng chớ quên rằng ta thường xuyên sử dụng thuật ngữ này theo nhiều cách hiểu khác nhau, chẳng hạn, không có gì là không chính xác khi mô tả một chẩn đoán y học như một giả thuyết, mặc dù một thứ giả thuyết như vậy không hề mang đặc tính của một định luật phổ quát mà chỉ hoàn toàn mang đặc tính cá biệt và lịch sử. Nói cách khác, không được để việc mọi định luật tự nhiên đều là những giả thuyết khiến ta quên một điều rằng không phải mọi giả thuyết đều là định luật, và nhất là, các giả thuyết lịch sử nói chung không mang tính phổ quát mà chỉ là những phát biểu ghi nhận về một sự kiện đơn lẻ, hoặc về một số các sự kiện kiểu như vậy.
Vậy liệu có một định luật về tiến hóa hay không? Liệu có hay không một định luật khoa học theo cách T. H. Huxley hiểu khi ông viết: “... đúng là thiếu nhiệt tâm nếu một triết gia nào đó... còn không chịu tin rằng sớm muộn gì khoa học cũng sẽ có trong tay định luật tiến hóa của các hình thái hữu cơ - của trật tự bất biến của chuỗi xích dài những nguyên nhân và hệ quả mà từng mắt xích của nó là tất cả mọi hình thái hữu cơ, cổ xưa cũng như hiện đại...”? (Xem cuốn Lay Sermons của T. H. Huxley (1880), trang 214. Niềm tin của Huxley vào một thứ định luật tiến hóa được bộc lộ rất rõ thông qua thái độ phê phán quá khích của ông đối với ý niệm về một định luật về tiến bộ (không tránh khỏi). Điều này dường như có thể được giải thích như sau: Huxley không những chỉ phân biệt một cách rạch ròi giữa tiến hóa tự nhiên và tiến bộ, mà ông còn khẳng định (một cách đúng đắn theo tôi) rằng hai thứ đó chẳng liên quan đến nhau bao nhiêu. Tôi có cảm giác là cách phân tích rất thú vị của Julian Huxley về cái ông gọi là “sự tiến bộ mang tính biến hóa” (Evolution, 1942, từ trang 559) phần nào củng cố quan điểm này, mặc dù nhìn bề ngoài thì có vẻ như nó được đưa ra nhằm xác lập một mối liên kết giữa tiến hóa và tiến bộ. Vì ông công nhận rằng dù đôi khi tiến hóa có mang “tính tiến bộ”, nhưng thường thì không (về quan điểm này và về định nghĩa “tiến bộ” của Huxley, xin xem chú thích thứ năm của mục 28 sau đây). Mặt khác, việc nói mỗi sự phát triển “tiến bộ” đều có thể được coi là tiến hóa chẳng qua cũng chỉ là khuôn sáo; việc kế tiếp của những giống loài ưu trội được coi là một bước tiến bộ theo như ông hiểu chắc đơn giản chỉ có nghĩa là chúng ta thường quen dùng cụm từ “các giống loài ưu trội” để chỉ những giống loài thành công nhất, những giống loài “tiến bộ” nhất).
Tôi cho rằng phải trả lời câu hỏi trên là “Không”, và việc đi tìm định luật về “trật tự bất biến” đối với tiến hóa chắc chắn không thể nào là một việc làm khả dĩ trong lĩnh vực phương pháp khoa học, cũng như trong sinh học hay xã hội học. Những lí do tôi đưa ra là rất đơn giản. Quá trình tiến hóa của sự sống trên trái đất, hay của xã hội loài người, là một quá trình lịch sử chỉ có một. Ta có quyền mặc định rằng, một quá trình như vậy diễn ra phù hợp với mọi thứ định luật nhân quả, chẳng hạn như những định luật cơ học, hóa học, những định luật di truyền và phân li, những định luật chọn lọc tự nhiên,.v..v. Tuy nhiên, việc mô tả quá trình tiến hóa lại không phải là một định luật mà chỉ là một phát biểu ghi nhận cá biệt mang tính lịch sử.
Những định luật phổ quát đưa ra những lời khẳng định liên quan đến một số trật tự bất biến nhất định, như Huxley đã nói, tức là liên quan đến toàn bộ mọi quá trình thuộc một thể loại nào đó; và mặc dù không có lí do gì để việc quan sát một trường hợp cá lẻ lại không khiến chúng ta phát biểu một định luật phổ quát, hoặc không có lí do gì ngăn cản ta chạm được đến chân lí nếu ta gặp may, nhưng rõ ràng là bất cứ định luật nào, dù được đưa ra theo lối ấy hay bất kể lối nào khác, đều phải được mang ra trắc nghiệm đối với những trường hợp mới trước khi được khoa học xem xét đến một cách nghiêm túc. Nhưng ta không thể hi vọng trắc nghiệm được một giả thuyết phổ quát cũng như tìm được một định luật tự nhiên mà khoa học chấp nhận một khi ta chỉ giới hạn vào phép quan sát hoặc vào một quá trình lịch sử duy nhất. Việc quan sát một quá trình lịch sử duy nhất cũng không giúp được ta dự đoán sự phát triển tương lai của nó. Việc quan sát thật kĩ lưỡng một con sâu róm đang phát triển cũng chẳng giúp được ta tiên đoán rồi nó sẽ biến thành con ngài. Để áp dụng quan điểm này cho lịch sử xã hội loài người - điều mà ta quan tâm chính ở đây - thì luận cứ mà ta dựa vào đã được H. A. L. Fisher phát biểu ra bằng những lời lẽ như sau: “Con người... đã nhận thức được từ trong lịch sử một mưu toan, một nhịp sống, một mô hình tiền định... Riêng tôi chỉ thấy được có sự nổi hiện này tiếp nối sự nổi hiện kia mà thôi..., chỉ thấy được một sự thực vĩ đại mà cứ theo đó - vì nó là sự thực duy nhất - thì không thể khái quát hóa được bất cứ cái gì...” (Xem H. A. L Fisher, History of Europe (Lịch sử Châu Âu), tập I, trang 7. Xem thêm F. A. von Hayek, sđd, Economica, tập X, trang 58, trong đó tác giả phê phán nỗ lực “tìm kiếm những định luật nơi mà xét theo tính chất tự nhiên của sự việc là không có quy luật, trong sự nối tiếp nhau của những hiện tượng lịch sử đơn nhất và cá biệt”)
Phản đối những lời lẽ trên bằng cách nào đây? Những người tin vào định luật tiến hóa thường đứng trên hai lập trường chính. Họ có thể (a) phủ nhận ý kiến của ta cho rằng quá trình tiến hóa là đơn nhất; hoặc (b) khẳng định rằng trong một quá trình tiến hóa, cứ cho là đơn nhất đi, ta vẫn có khả năng nhận ra được một xu thế, hay khuynh hướng, hay hướng đi, và rằng ta có quyền đưa ra một giả thuyết để ghi nhận xu thế này, và dùng kinh nghiệm tương lai để trắc nghiệm giả thuyết đó. Hai lập trường (a) và (b) không loại trừ nhau.
Lập trường (a) đưa ta ngược trở lại với một ý niệm có từ thời tối cổ - ý niệm cho rằng cái vòng đời sinh-ấu-nhi-thành-lãotử không chỉ đúng với từng cá thể của muôn thú và cây cỏ, mà còn đúng với các xã hội, với các chủng loài, thậm chí với “cả thế gian”. Học thuyết cổ xưa này đã được Plato sử dụng để lí giải sự suy tàn và sụp đổ của những thành bang Hi Lạp và của Đế chế Ba Tư. (Plato mô tả chu kì của Năm Tuế Sai (The Great Year) trong tác phẩm Chính trị (The Statesman), xuất phát từ giả định cho rằng chúng ta hiện đang sống trong mùa suy của Năm Tuế Sai, Plato đã áp dụng học thuyết này để giải thích quá trình tiến hóa của các thành bang Hi Lạp trong cuốn Nền Cộng hòa (The Republic), và giải thích về Đế chế Ba Tư trong cuốn Pháp luật (Laws))
Lí luận về vòng đời kiểu ấy còn thấy ở Machiavelli, Vico và Spengler, rồi gần đây còn được cả Giáo sư Toynbee sử dụng trong cuốn sách gây nhiều ấn tượng của ông có nhan đề Nghiên cứu Lịch sử (Study of History). Xét từ góc độ của luận thuyết này thì lịch sử luôn lặp đi lặp lại, và những dịnh luật về vòng đời của các nền văn minh, chẳng hạn, cũng có thể được nghiên cứu giống cách ta dùng để nghiên cứu vòng đời của một số chủng loài động vật. (Giáo sư Toynbee khăng khăng rằng phương pháp của ông là xuất phát từ việc nghiên cứu trên cơ cở thường nghiệm vòng đời 21 mẫu chuẩn của các chủng loài “nền văn minh” sinh học. Nhưng trong khi chấp nhận phương pháp này, ông dường như không chịu chút tác động nào của việc muốn dựa vào luận cứ của Fisher (được trích dẫn ở trên). Ít nhất, tôi không tìm thấy một dấu hiệu nào như vậy trong những bài bình luận của ông về luận cứ này, một luận cứ mà ông cố tránh xa, xem đó như sự biểu hiện cho “niềm tin của thế giới phương Tây hiện đại vào sự toàn năng của cái ngẫu nhiên” (xem A Study of History, tập V, trang 414). Tôi thì cho rằng cách đánh giá như thế là không sòng phẳng đối với Fisher, người đã phát biểu tiếp theo những dòng được trích dẫn ở trên như sau: “... Cái thực tế về những gì gọi là tiến bộ đã được in đậm trong những chương hồi của lịch sử. Nhưng tiến bộ lại đâu phải là một định luật của tự nhiên. Cái mà thế hệ đi trước giành được có thể bị chính thế hệ tiếp sau đánh mất”)
Luận thuyết này dẫn đến một hệ quả - dù những tác giả của nó khó lòng mà hình dung được - đó là, sự phản biện của chúng ta nếu chỉ dựa hoàn toàn trên tính đơn nhất của quá trình tiến hóa hay quá trình lịch sử sẽ không còn nhiều sức thuyết phục, vậy nên tôi không có ý phủ nhận rằng (và xin đồ chắc là trong câu trích dẫn ở trên, Giáo sư Fisher cũng không có ý đó) trên một vài bình diện, lịch sử đôi khi vẫn có thể tự lặp lại, và cũng không phủ nhận rằng tính tương đồng của một vài loại hình sự kiện lịch sử, chẳng hạn sự ra đời của những chế độ cường quyền ở Hi Lạp cổ đại và trong thời đại chúng ta, là rất có ý nghĩa đối với nhà nghiên cứu chuyên về quyền lực chính trị. (Trong sinh học, lập trường của mọi người cũng tương tự trong chừng mực có rất nhiều quá trình tiến hóa (tức là của các giống loài khác nhau) có thể được lấy làm cơ sở cho các phép khái quát hóa. Nhưng sự so sánh như thế về các quá trình tiến hóa chỉ dẫn được đến việc mô tả các loại hình của các quá trình tiến hóa mà thôi. Lập trường đối với lịch sử xã hội cũng thế. Ta có thể thấy rằng một vài loại hình sự kiện được tái lặp nơi này nơi kia, nhưng chẳng có định luật nào mô tả hoặc tiến trình của toàn bộ sự tiến hóa (chẳng hạn như định luật về các chu kì tiến hóa) hoặc tiến trình tiến hóa nói chung được suy ra từ một phép so sánh như thế cả)
Nhưng rõ ràng là tất cả những trường hợp lặp đi lặp lại này đều hàm chứa những hoàn cảnh và tình huống rất đa dạng, có thể gây một tác động đáng kể đến những bước phát triển tiếp theo. Do đó mà ta không có được một lí do có giá trị hiệu lực để mong chờ rằng bất kể một sự lặp đi lặp lại bề ngoài nào của sự phát triển lịch sử cũng sẽ cứ thế tiếp tục giống hệt nguyên mẫu của nó. Hiển nhiên là một khi ta tin vào một định luật về các chu kì sống có tính lặp đi lặp lại - một niềm tin được những tư biện mang tính loại suy mang lại, hay có lẽ được thừa hưởng từ Plato - thì ta luôn chắc chắn sẽ phát hiện được chứng cứ lịch sử của niềm tin ấy là bất cứ đâu. Nhưng đó chỉ là một trong nhiều trường hợp thuộc những lí thuyết siêu hình học có vẻ như được thực hiện khẳng định - những thực kiện mà nếu xem xét kĩ thì hóa ra lại là những thực kiện đã được chọn lựa dưới ánh sáng của chính những lí thuyết mà chúng là bằng chứng. (Về bất cứ một lí thuyết nào người ta cũng có thể nói rằng nó đúng với rất nhiều thực kiện: đó là một trong những lí do giải thích vì sao một lí thuyết được cho là được chứng thực chỉ khi ta không thể tìm được những thực kiện phủ bác nó, chứ không phải khi ta có thể tìm được những thực kiện ủng hộ nó, xem mục 29 sau đây và cuốn “Logic phát kiến khoa học” của tôi, nhất là Chương X. Một ví dụ minh họa cho thủ pháp được mang ra phê phán ở đây, theo tôi nghĩ, là công trình nghiên cứu có vẻ như thường nghiệm của Giáo sư Toynbee về chu kì sống của cái ông gọi là “các chủng loài nền văn minh” (xem chú thích ngay trước). Dường như ông đã quên mất một điều là, những gì được ông coi là các nền văn minh phải là những thực thể phù hợp với niềm tin tiên nghiệm của ông vào các chu kì sống. Chẳng hạn, Giáo sư Toynbee đã đối lập (sđd, tập I, các trang từ 147 đến 149) các “nền văn minh” của ông với các “xã hội nguyên thủy” nhằm xác lập học thuyết của ông cho rằng hai cái này không thể cùng “chủng” mặc dù cùng “phái”. Nhưng cái cơ sở duy nhất của sự phân loại này lại là một trực giác tiên nghiệm về tính chất tự nhiên của các nền văn minh. Có thể thấy được điều này khi ông lí luận rằng hai cái là rõ ràng khác hẳn nhau như lũ voi với lũ thỏ - một luận cứ mang tính trực giác rõ ràng yếu kém nếu ta xét đến trường hợp một con chó giống St. Bernard và một con chó giống Bắc Kinh. Nhưng toàn bộ câu hỏi (liệu hai cái đó có cùng chủng loài hay không) là câu hỏi đặt sai, bởi vì nó được đặt ra dựa trên cơ sở của phương pháp khoa học nhằm xem xét những xã hội như những thực thể vật lí hoặc sinh học. Mặc dù phương pháp này thường xuyên bị phê phán (xem, chẳng hạn, F. A. von Hayek, Economica, tập X, từ trang 41) nhưng những ý kiến phê phán lại chưa bao giờ nhận được một sự đáp lại thích đáng)
Quay sang bàn về lập trường (b), tức là bàn về niềm tin vào việc ta có thể nhận ra được, và loại suy được, xu thế hoặc hướng đi của một quá trình tiến hóa, ta có thể đưa ra nhận xét đầu tiên là, niềm tin này đã có ảnh hưởng và đã được sử dụng để chứng minh cho một số giả thuyết chu kì đại diện cho lập trường (a). Chẳng hạn như Giáo sư Toynbee đã phát biểu những quan điểm đặc trưng cho lập trường (b) để bênh vực lập trường (a) như sau: “Các nền văn minh không phải là những tình trạng tĩnh tại của xã hội mà là những vận động năng động mang tính tiến hóa. Chúng không những không thể đứng yên mà còn không thể đảo ngược hướng đi nếu không vi phạm bản thân định luật chuyển động của chúng...” (Toynbee, sđd, tập I, trang 176).
Ở đây ta có gần như toàn bộ các yếu tố thường thấy trong những phát biểu ghi nhận thuộc lập trường (b): ý niệm về tính năng động xã hội (ngược lại với tính tĩnh tại xã hội); về sự vận động tiến hóa của các xã hội (dưới tác động của các lực lượng xã hội); và về những hướng đi (những lộ trình, những tiến độ) của những vận động được cho rằng không thể đảo ngược nếu không vi phạm các định luật chuyển động. Tất cả những thuật ngữ viết nghiêng trên đây đều được mượn của vật lí học để dùng cho xã hội học, và việc tiếp nhận chúng đã dẫn đến một loạt những sự ngộ nhận hết sức ngây ngô, nhưng lại rất đặc trưng, cho việc sử dụng một cách sai lầm theo lối duy khoa học những ví dụ của ngành vật lí học và thiên văn học. Hẳn nhiên những sự ngộ nhận như vậy đã dẫn đến những thiệt hại nho nhỏ nằm ngoài những lĩnh vực nghiên cứu sử luận.
Chẳng hạn như trong kinh tế học, việc sử dụng thuật ngữ “động lực” (nay được thay bằng cụm từ thời thượng hơn là “động lực vĩ mô”) là một việc làm không có gì đáng trách cứ, và kể cả những người không thích từ ấy lắm cũng phải chấp nhận. Nhưng xét về nguồn gốc thì cách dùng này là xuất phát từ ý đồ của Comte, người muốn áp dụng sự khác biệt theo nghĩa vật lí giữa tĩnh học và động lực học cho xã hội học; và rõ ràng là ý đồ đó đã được đưa ra dựa trên một cơ sở rất sai lầm về mặt nhận thức.
Trên thực tế thì kiểu xã hội mà nhà xã hội học gọi là “tĩnh” lại hoàn toàn giống như những hệ thống mà nhà vật lí hẳn phải gọi là “động” (mặc dù “ổn định”). Hệ Mặt Trời là một ví dụ điển hình. Nó là nguyên mẫu của một hệ động lực học hiểu theo nghĩa vật lí học; nhưng vì nó có tính tái lặp (hoặc “ổn định”), vì nó không lớn lên hay phát triển, vì nó không biểu hiện một sự thay đổi nào về mặt cấu trúc (trừ những biến đổi không thuộc địa hạt của động lực học thiên thể mà do đó ở đây có thể được bỏ qua không tính đến), cho nên nó hẳn nhiên tương ứng với những hệ thống xã hội mà nhà xã hội học gọi là “tĩnh”. Nhận xét này là vô cùng quan trọng khi ta xét đến những đòi hỏi của thuyết sử luận, trong chừng mực mà sự thành công của những tiên đoán dài hạn của thiên văn học phụ thuộc hoàn toàn vào đặc tính lặp đi lặp lại (đặc tính tĩnh theo cách hiểu của nhà xã hội học) của Hệ Mặt Trời - phụ thuộc vào việc ở đây chúng ta có thể không tính đến bất cứ triệu chứng nào của một sự phát triển lịch sử. Do đó chắc chắn là sai lầm nếu ta giả định rằng những tiên đoán động lực học dài hạn ấy về một hệ ổn định lại xác định khả năng đưa ra những lời tiên tri lịch sử trên quy mô lớn đối với những hệ thống xã hội không ổn định.
Việc áp dụng cho xã hội những thuật ngữ khác những thuật ngữ nêu trên thuộc lĩnh vực vật lí học cũng hàm chứa những sự ngộ nhận rất giống thế. Thường thì việc áp dụng như vậy không có hại gì. Chẳng hạn như nếu ta mô tả những thay đổi trong tổ chức xã hội, những thay đổi về các phương pháp sản xuất,.v..v., xem chúng như những chuyển động, thì chẳng có gì hại. Nhưng phải ý thức được rằng thuần túy ta đang sử dụng một phép ẩn dụ, và là một phép ẩn dụ dễ gây nhầm lẫn. Bởi vì, trong vật lí học, khi nói về sự chuyển động của một vật thể hay một hệ thống các vật thể, ta không hề có hàm ý nói rằng vật thể hay hệ thống đó đang phải chịu một sự thay đổi nội tại hay bất kì một sự thay đổi mang tính cấu trúc, mà chỉ muốn nói rằng vị trí của nó thay đổi tương đối so với một hệ quy chiếu (được tùy chọn) nhất định nào đó mà thôi. Ngược lại với điều này, nhà xã hội học hiểu một “chuyển động [hay chuyển biến] của xã hội” là một sự thay đổi bên trong, hay một sự thay đổi nào đó về cấu trúc, vậy là một cách hiển nhiên, nhà xã hội học mặc định rằng một sự chuyển biến của xã hội phải được giải thích bằng các “lực tác động”, trong khi đó thì nhà vật lí mặc định rằng chỉ phải giải thích những thay đổi về chuyển động chứ không cần giải thích bản thân sự chuyển động. (Điều này xuất phát từ định luật quán tính. Để có được một ví dụ về việc sử dụng định luật Pythagoras trong một nỗ lực “duy khoa học” một cách tiêu biểu nhằm tính toán các “lực lượng chính trị”, xin xem lại ví dụ trong chú thích thuộc mục 20 - Lối tiếp cận công nghệ đối với xã hội học)
Những ý niệm về tốc độ của một sự chuyển biến xã hội, hay về đường đi của nó, về quỹ đạo của nó, về hướng đi của nó cũng chẳng gây tổn hại gì một khi chúng được sử dụng chỉ để dẫn dắt trực giác; nhưng nếu được đem sử dụng với ý đồ gì đó kiểu như những ý đồ muốn khoa học hóa mọi việc thì chúng đơn giản sẽ biến thành một thứ biệt ngữ duy khoa học, hoặc nói chính xác hơn là chúng sẽ biến thành một thứ biệt ngữ mang tính chủ toàn. Hẳn nhiên là, bất cứ kiểu thay đổi nào của một nhân tố xã hội đo đếm được - ví dụ như sự tăng dân số đều có thể được biểu diễn như một đường trên đồ thị, không khác gì đường đi của một vật thể đang chuyển động. Nhưng rõ ràng là một biểu đồ như vậy không hề mô tả cái mà mọi người vẫn hiểu là sự chuyển biến của xã hội - rõ ràng là một dân số ổn định vẫn có thể hứng chịu một biến động xã hội toàn diện. Tất nhiên là chúng ta có quyền và có thể kết hợp bất cứ một số lượng biểu đồ nào để tạo ra một biểu tả đa chiều. Nhưng không thể coi một biểu đồ kết hợp như vậy đại diện cho đường đi của một chuyển biến của xã hội được; nó không cho ta biết được gì nhiều hơn là sự tập hợp của những biểu đồ đơn lẻ; nó không hề diễn tả bất cứ một sự chuyển biến nào của “toàn thể xã hội”. Ý tưởng về sự chuyển biến của bản thân xã hội - ý tưởng cho rằng xã hội, giống như một vật thể vật lí, có thể chuyển động như một toàn thể dọc theo một đường đồ thị nào đó nhất định và theo một hướng nào đó nhất định - chỉ là một sự nhầm lẫn mang tính duy toàn. (Ta có thể đánh giá được việc sử dụng những từ như “chuyển động”, “lực”, “hướng” đã tạo ra sự nhầm lẫn đến mức nào qua hi vọng của nhà sử học nổi tiếng người Mỹ là Henry Adams muốn xác định tiến trình lịch sử bằng cách cố định hai vị trí của hai điểm trên đường đồ thị của nó - một điểm được định vị ở thế kỉ 13 còn điểm kia nằm ở thời của ông. Ông tự nhận xét về đồ án của mình như sau: “Với hai điểm này... ông hi vọng sẽ phóng chiếu được những đường đồ thị tiến vô hạn về phía trước và lùi vô hạn về phía sau...”, bởi vì, ông lập luận “bất cứ một học sinh trung học nào cũng đều hiểu rằng con người, với tư cách là một lực, phải được đo đếm thông qua chuyển động xuất phát từ một điểm cố định” (The Education of Henry Adams, 1918, trang 434). Tôi xin trích dẫn Waddington (Science and Ethics, trang 17) như một ví dụ gần đây hơn, ông này nói: “Hệ thống xã hội là một cái gì đó mà sự tồn tại của nó phải bao hàm sự biến chuyển dọc theo một đường đồ thị tiến hóa...” và (trang 18) “tính chất của sự đóng góp của khoa học cho đạo đức học... là việc làm sao soi sáng được tính chất tự nhiên, đặc tính và hướng đi lên của quá trình tiến hóa của thế giới xét như một toàn thể...”)
Đặc biệt hơn cả, niềm hi vọng một ngày nào đó ta sẽ tìm ra những “định luật chuyển động của xã hội”, y như kiểu Newton đã tìm ra những định luật chuyển động của các vật thể vật lí, hoàn toàn chỉ là kết quả của những sự ngộ nhận nói trên. Bởi dù có hiểu theo cách nào đi nữa thì cũng không có thứ chuyển động nào của xã hội giống hoặc tương tự với chuyển động của các vật thể vật lí, cho nên chẳng thể có những định luật như vậy.
Nhưng mọi người có thể bẻ lại rằng, khó có thể nghi ngờ sự tồn tại của những xu thế hay khuynh hướng của sự biến đổi xã hội: bất cứ nhà thống kê học nào cũng đều tính toán được những xu thế như vậy.
Liệu có mang so sánh những xu thế này với định luật quán tính của Newton được không? Câu trả lời là: những xu thế thì có, hay nói chính xác hơn, sự mặc định về những xu thế thường là một công cụ thống kê hữu ích. Nhưng xu thế không phải là định luật. Một phát biểu khẳng định sự tồn tại một xu thế là một phát biểu tồn tại chứ không phải là một phát biểu phổ quát. Hơn nữa, một định luật phổ quát không hề khẳng định sự tồn tại, mà ngược lại, như đã được chỉ ra ở cuối mục 20, nó khẳng định rằng một cái gì đó hay một cái gì đó khác là không thể có. (Xem cuốn “Logic phát kiến khoa học” của tôi, mục 15, ở đó có nêu đầy đủ những lí do để xem những phát biểu tồn tại là những phát biểu siêu hình (theo nghĩa phi khoa học); xem thêm chú thích gần cuối của mục 28 dưới đây).
Còn một phát biểu khẳng định sự tồn tại của một xu thế tại một thời điểm nhất định và một địa điểm nhất định hẳn phải là một phát biểu cá biệt có tính lịch sử, chứ không thể là một phát biểu phổ quát. Tầm quan trọng thực tiễn của tình huống logic này là rất đáng kể: trong khi ta có quyền đưa ra những tiên đoán khoa học dựa trên cơ sở các định luật, thì ta lại không thể - dù nhà thống kê học có thận trọng đến đâu - đưa chúng ra chỉ dựa trên cơ sở sự tồn tại của các xu thế. Một xu thế (ta có thể vẫn coi sự tăng dân số như một ví dụ) đã tồn tại dai dẳng hàng trăm năm hoặc thậm chí hàng nghìn năm rất có thể thay đổi chỉ trong một thập kỉ, hay có khi còn nhanh hơn thế.
Điều quan trọng là cần phải nhận rõ rằng định luật và xu thế là hai cái khác hẳn nhau. (Tuy nhiên, một định luật lại có thể khẳng định rằng, trong một số hoàn cảnh nhất định (những điều kiện ban đầu) ta có thể tìm được một số xu thế nhất định; hơn nữa, khi đã giải thích một xu thế theo cách ấy thì người ta có thể phát biểu một định luật phù hợp với xu thế; xem chú thích cuối của mục 28).
Không còn nghi ngờ gì nữa, chính thói quen đánh đồng xu thế với định luật, cộng với phép quan sát các xu thế (chẳng hạn như tiến bộ kĩ thuật) bằng trực giác, đã truyền cảm hứng cho những luận thuyết trung tâm của chủ thuyết duy tiến hóa và chủ thuyết sử luận - những luận thuyết nói về những định luật bất biến của quá trình tiến hóa sinh học và về những định luật không thể đảo ngược của vận động xã hội. Và rồi cũng chính những nhầm lẫn và những trực giác như thế đã truyền cảm hứng cho học thuyết của Comte về các định luật của sự nối tiếp nhau - một học thuyết đến nay vẫn còn nhiều ảnh hưởng.
Kể từ Comte và Mill, sự phân biệt giữa những định luật về sự cùng tồn tại (được coi như tương ứng với tĩnh học) và những định luật về sự nối tiếp nhau (được coi như tương ứng với động lực học) bắt đầu nổi tiếng, hiển nhiên được lí giải một cách hợp lí; tức là được xem như sự phân biệt giữa những định luật không liên quan đến thời gian và những định luật có sự can thiệp của thời gian (chẳng hạn những định luật có liên quan đến tốc độ). (Cũng nên nhớ rằng nền kinh tế cân bằng chắc chắn là một nền kinh tế mang tính năng động [hay mang tính động lực học] (hiểu theo nghĩa là “hợp lí”, trái với cách hiểu của Comte), mặc dù trong phương trình của nó không có yếu tố thời gian, bởi lý thuyết này không hề khẳng định rằng ở đâu đó có sự cân bằng; nó chỉ khẳng định rằng đi tiếp liền mỗi sự xáo trộn (mà những xáo trộn thì xảy ra bất kể lúc nào) đều có một sự điều chỉnh - thông qua một sự “dịch chuyển” [hay chuyển động] về phía cân bằng. Trong vật lí học, tĩnh học là lí thuyết về cân bằng chứ không phải về sự chuyển động về phía cân bằng; một hệ tĩnh học không hề chuyển động)
Nhưng điều này lại không hề đúng với tinh thần của Comte và của những người theo trường phái của ông. Khi nói đến những định luật về sự nối tiếp nhau, Comte nghĩ đến những định luật về một loạt những hiện tượng “động lực học” xảy ra theo trình tự chúng ta quan sát được. Thế nhưng điều quan trọng là phải nhận thấy rằng những định luật “động lực học” về sự nối tiếp nhau như Comte quan niệm là không hề tồn tại. Trong động lực học chắc chắn là không tìm thấy những thứ định luật như thế (tôi nói chính xác về môn động lực học). Trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, những gì xem ra gần gũi nhất với loại định luật này - và hẳn là Comte dựa vào đó - là những cái mang tính chu kì như sự luân chuyển của bốn mùa, của các tuần trăng, sự tái diễn của các kì nhật thực, hoặc có lẽ sự đung đưa của con lắc đồng hồ. Thế nhưng trong vật lí học thì những chu kì kiểu này lại được mô tả là mang tính động lực học (mặc dù ổn định), còn Comte lại hiểu là chúng mang tính “tĩnh” chứ không phải “động”; và bất luận thế nào thì ta cũng khó có thể xem chúng như những định luật (bởi chúng lệ thuộc vào những điều kiện đặc biệt chiếm ưu thế trong Hệ Mặt Trời, xem mục tiếp sau). Tôi xin được gọi đó là những “tựa định luật về sự tiếp nối nhau”.
Điểm mấu chốt ở đây là: mặc dù ta thừa sức có thể mặc định là sự nối tiếp nhau thực sự của các hiện tượng diễn ra tuân theo những định luật của tự nhiên, nhưng điều quan trọng là phải thấy rằng trên thực tế không có một chuỗi, cứ cho là gồm ba hay nhiều hơn ba, các sự kiện cụ thể mang tính nhân quả nào diễn ra tuân theo bất cứ một định luật đơn lẻ nào của tự nhiên. Nếu gió thổi rung cây rồi quả táo của Newton rơi xuống đất, thì chẳng ai dám phủ nhận việc những sự kiện ấy có thể được mô tả trên cơ sở của các định luật nhân quả. Nhưng không có một định luật đơn lẻ nào, chẳng hạn như định luật hấp dẫn, hay thậm chí một tập hợp hữu hạn đơn lẻ các định luật nào dùng để mô tả được sự nối tiếp nhau đích thực hoặc cụ thể của các sự kiện nối
kết với nhau theo luật nhân quả; ngoài lực hấp dẫn, ta còn phải tính đến những định luật giải thích áp suất của gió; những chuyển động nghiêng ngửa của cành cây; vết giập của cuống táo khi bị rụng; tất cả những thứ đó lại còn phải kèm theo với quá trình hóa học diễn ra ở vết giập nữa,.v..v. Ý tưởng cho rằng bất cứ một chuỗi hay một sự nối tiếp nhau nào của các sự kiện (ngoại trừ có lẽ những ví dụ như kiểu sự chuyển động của con lắc đồng hồ hay của Hệ Mặt Trời) đều có thể được mô tả hay giải thích thông qua chỉ một định luật hay một tập hợp hữu hạn định luật nào đó là một ý tưởng hoàn toàn sai lầm. Chẳng thể có các định luật về sự nối tiếp nhau, mà cũng chẳng thể có những định luật về tiến hóa.
Thế nhưng Comte và Mill lại hình dung những định luật lịch sử của họ như những định luật xác định một chuỗi sự kiện lịch sử theo trật tự xuất hiện trên thực tế của chúng. Ta có thể nhận thấy điều này qua cách Mill nói về một phương pháp “bao hàm việc thông qua nghiên cứu và phân tích những thực kiện chung của lịch sử nhằm nỗ lực khám phá bằng được định luật của sự tiến bộ; định luật này, một khi đã được xác lập, phải cho phép chúng ta tiên đoán được những sự kiện sẽ xảy đến trong tương lai, chẳng khác gì khi biết được một vài số hạng của một dãy vô hạn trong đại số học, ta sẽ có được khả năng khám phá ra nguyên tắc về tính lặp đi lặp lại theo trình tự trong sự cấu thành của dãy đó, và rồi tiên đoán được bất cứ số hạng nào còn lại của dãy nếu ta được hỏi” (Mill, Logic, cuốn VI, Chương X, mục 3. Để biết về lí thuyết “hiệu ứng lũy tiến” của Mill, xin xem thêm cuốn III, Chương XV, từ mục 2 trở đi).
Bản thân Mill cũng tự phê phán phương pháp này; nhưng qua ý kiến phê phán của mình (xem phần đầu của mục 28) Mill lại hoàn toàn thừa nhận khả năng khám phá được những định luật về sự nối tiếp nhau giống như những định luật về dãy số trong toán học, mặc dù ông vẫn thể hiện những mối ngờ vực không biết liệu cái “trật tự nối tiếp nhau mà... lịch sử bộc lộ cho ta thấy” có đủ “đồng đều một cách chuẩn xác” như đối với các dãy số toán học hay không. (Mill hình như đã bỏ qua một sự việc là, chỉ đối với những dãy số học và hình học đơn giản nhất mới có kiểu “một vài số hạng” là đủ để phát hiện ra “nguyên lý” của chúng. Không có gì khó trong việc tạo dựng những dãy số toán học phức tạp hơn trong đó dù có cả nghìn số hạng cũng không đủ để phát hiện ra quy luật của chúng - kể cả biết chắc rằng chúng có quy luật)
Vậy, ta đã thấy được rằng không thể có những định luật xác định sự nối tiếp nhau của một dãy các sự kiện “mang tính động lực học” kiểu như vậy. (Để biết về những gì gần gũi hơn cả với những định luật như vậy, xin xem mục 28, nhất là chú thích cuối cùng của mục này).
Mặt khác, rất có thể có những xu thế mang đặc tính “động lực học” ấy; chẳng hạn như sự tăng dân số. Vậy là ta có quyền nghi ngờ rằng khi nói tới những “định luật về sự nối tiếp nhau”, Mill đã nghĩ về những xu thế kiểu ấy. Và điều nghi ngờ này lại được chính Mill khẳng định khi ông mô tả định luật lịch sử của mình, ông xem nó như một xu hướng. Bàn về thứ “định luật” này, Mill thể hiện “niềm tin...” của mình “cho rằng xu hướng chung luôn tồn tại và sẽ tiếp tục tồn tại bất chấp những ngoại lệ tạm thời và không thường xuyên, một xu hướng tiến tới cái khả quan hơn - xu hướng tiến tới một trạng thái tốt đẹp và hạnh phúc hơn. Đó là... một định lí của khoa học” (tức là của khoa học xã hội). Việc Mill cứ cố chấp xoáy vào câu hỏi liệu “những hiện tượng của xã hội loài người” có quay vòng “trên một quỹ đạo” hoặc liệu chúng có chuyển động tịnh tiến theo “một đường đạn đạo” hay không là điều có liên quan mật thiết với sự nhầm lẫn cơ bản này giữa định luật và xu thế, cũng như với cái ý tưởng chủ toàn cho rằng xã hội có thể “chuyển động” với tư cách một toàn thể - cứ cho là giống như một hành tinh. (Xem Mill, phần đã trích dẫn, Mill phân biệt hai nghĩa của từ “tiến bộ”; theo nghĩa rộng, nó đối lập với sự biến đổi có tính chu kì nhưng không dẫn đến sự cải thiện; theo nghĩa hẹp, nó bao hàm cả sự cải thiện. Mill cho rằng sự trường tồn của tiến bộ hiểu theo nghĩa rộng là một vấn đề thuộc về phương pháp (tôi không hiểu rõ chỗ này), còn hiểu theo nghĩa hẹp thì là một định lý của xã hội học)
Để tránh mọi sự hiểu lầm, xin được nói thẳng là tôi hoàn toàn tin rằng cả Comte lẫn Mill đã có những đóng góp lớn lao cho nền triết học và cho phương pháp luận của khoa học. Đặc biệt, tôi đánh giá cao việc Comte đã chú trọng đến những định luật và đến tiên đoán khoa học, đánh giá cao ý kiến phê phán của ông đối với thứ lí thuyết duy bản chất về tính nhân quả; đánh giá cao học thuyết của ông và của Mill về tính thống nhất của phương pháp khoa học. Tuy nhiên, tôi cho rằng quan điểm của hai ông đối với những định luật lịch sử về sự nối tiếp nhau cũng không hơn bao nhiêu so với một tập hợp những ẩn dụ được mang ra áp dụng không đúng chỗ. (Trong phần lớn những bài vở mang tính sử luận và tiến hóa luận, ta thường khó mà phát hiện được phép ẩn dụ kết thúc ở đâu và lí thuyết nghiêm túc bắt đầu từ đâu. Và rồi thậm chí ta phải đối mặt với việc một số nhà sử luận không chịu hiểu là có một sự khác biệt giữa lí thuyết và phép ẩn dụ. Chẳng hạn hãy xem đoạn văn sau đây của nhà phân tâm học Karin Stephen: “Tôi thiết nghĩ, lời kiến giải hiện đại mà tôi đang cố đưa ra đây cũng chưa chắc đã hơn gì một phép ẩn dụ... Tôi cho rằng ta chẳng việc gì phải ngượng ngùng... vì thực ra thì mọi giả thuyết khoa học cũng đều chỉ dựa trên cơ sở của phép ẩn dụ. Lý thuyết sóng ánh sáng chẳng cũng thế cả mà thôi sao?...” (So sánh với tác phẩm Science and Ethics của Waddington, trang 80). Nếu phương pháp của khoa học chỉ là phương pháp duy bản chất, tức là phương pháp được xây dựng dựa trên cơ sở câu hỏi “là gì?” (xem lại mục 10). Và nếu lí thuyết sóng ánh sáng chỉ là lời khẳng định mang tính duy bản chất cho rằng ánh sáng chính là chuyển động sóng, thì lời nhận định trên hẳn là đúng. Nhưng sự thể lại không như thế: một trong những khác biệt chính giữa môn phân tâm học và lí thuyết sóng ánh sáng đó là: cái đầu vẫn còn mang nặng màu sắc duy bản chất và ẩn dụ, còn cái sau thì không)
Nguyên tác: The poverty of historicism, Karl Popper (Routledge, 1974)
Bản dịch: NXB Tri thức, Chu Lan Đình dịch.
