Sự nghèo nàn của thuyết sử luận - Chương 4: Phê phán những luận thuyết duy tự nhiên luận (Phần 2)

Sự nghèo nàn của thuyết sử luận - Chương 4: Phê phán những luận thuyết duy tự nhiên luận (Phần 2)

28. PHƯƠNG PHÁP QUY GIẢN, KIẾN GIẢI NHÂN QUẢ. TIÊN ĐOÁN VÀ TIÊN TRI

Xét ở phần quan trọng nhất thì phép phê phán của tôi đối với luận thuyết về những định luật lịch sử về sự nối tiếp nhau vẫn chưa đủ sức thuyết phục. Tôi đã cố chứng minh rằng những “chiều hướng” hay “xu hướng” mà các nhà sử luận nhận ra được trong sự nối tiếp nhau của các sự kiện gọi là lịch sử không phải là những định luật, mà nếu có là cái gì đó, thì đó là những xu thế. Và rồi tôi đã vạch rõ vì sao một xu thế, ngược lại với một định luật, không thể được dùng làm cơ sở cho những tiên đoán khoa học.

Đối với ý kiến phê phán trên thì Mill và Comte - hai nhân vật theo tôi là duy nhất xét ở khía cạnh này trong số các nhà sử luận - chắc chắn vẫn sẵn sàng phản đối. Mill xem chừng cũng đã chấp nhận rằng có sự nhầm lẫn nào đó nhất định giữa định luật và xu thế. Nhưng hẳn ông thể nào cũng nhắc ta chớ quên rằng chính ông cũng đã từng phê phán những kẻ đánh đồng một cách nhầm lẫn một “tính chất không thay đổi của sự nối tiếp nhau trong lịch sử” với một định luật đích thực của tự nhiên; chớ quên rằng chính ông cũng đã thận trọng nhấn mạnh rằng kiểu tính chất không thay đổi như thế “chỉ có thể là một định luật thường nghiệm” (một thuật ngữ có phần nào lẫn lộn); và rằng chớ nên coi nó là chắc chắn trước khi nó được quy về vị thế của một định luật tự nhiên đích thực, “thông qua phép suy diễn mang tính tiên nghiệm để thấy được sự trùng hợp của nó với bằng chứng lịch sử”. (Các lời trích dẫn này đều được trích từ Mill, Logic, cuốn VI, chương X, mục 3. Tôi cho cụm từ “định luật thường nghiệm” mà Mill dùng để gọi một định luật có cấp dộ khái quát hóa thấp là một cụm từ rất không thích hợp, vì tất cả các định luật khoa học đều mang tính thường nghiệm cả: tất cả chúng đều được công nhận hoặc bác bỏ dựa trên cơ sở của những bằng chứng thường nghiệm (Để biết về những “định luật thường nghiệm” của Mill, xin xem thêm sđd, cuốn III, chương VI và cuốn VI, chương V, mục 1). Cách phân biệt của Mill đã được C. Menger chấp nhận, và ông này cũng đã đối lập những “định luật chính xác” với những “định luật thường nghiệm”; xem The Collected Works, tập II, từ trang 38 và từ trang 259)

Và rồi Mill hẳn phải nhắc ta nhớ rằng ông đã thậm chí xác lập được một “quy tắc mang tính bắt buộc, theo đó không bao giờ được mang bất cứ một phép khái quát hóa nào từ trong lịch sử để áp dụng cho khoa học xã hội trừ phi phải chỉ ra được những lí do đầy đủ cho việc làm đó” (Xem Mill, sđd, cuốn VI, chương X, mục 4. Xem thêm Comte, Cours de philosophie positive, IV, trang 335) - tức là, thông qua việc suy diễn được nó từ một số định luật tự nhiên đích thực nhất định, mà những định luật này phải được xác định một cách độc lập (những định luật mà Mill nghĩ đến chính là những định luật “nhân bản”, tức là những định luật của tâm lí học). Phương pháp quy giản những phép khái quát hóa lịch sử hay những phép khái quát hóa loại khác thành một tập hợp những định luật mang tính khái quát cao hơn đã được Mill gọi là “phương pháp diễn dịch ngược”, và rồi ông đã ra sức bảo vệ, xem nó như phương pháp xã hội học và phương pháp lịch sử duy nhất đúng đắn.

Tôi sẵn sàng công nhận rằng lời biện hộ trên đây của Mill không phải không có sức thuyết phục. Bởi một lẽ, nếu thành công trong việc quy giản một xu thế thành một tập hợp những định luật thì lúc đó chúng ta hoàn toàn có quyền sử dụng xu thế đó, giống như một định luật, làm cơ sở cho những tiên đoán. Lối quy giản này, hay lối diễn dịch ngược này, sẽ là một đóng góp lớn lao trong việc bắc chiếc cầu nối liền hai bờ vực vốn ngăn cách các định luật và các xu thế. Sức thuyết phục của lời biện hộ này càng trở nên hiển nhiên hơn nếu ta xét đến việc phương pháp “diễn dịch ngược” của Mill, được coi là một sự mô tả thỏa đáng (dù chỉ mang tính từng phần) cho phương pháp được mọi người sử dụng không chỉ trong các bộ môn khoa học xã hội mà trong mọi khoa học, trên một quy mô rộng lớn mà chính Mill cũng đã không hình dung nổi.

Dù thừa nhận những điều nói trên, tôi vẫn tin rằng ý kiến phê phán của tôi là không sai, và rằng sự nhầm lẫn cơ bản của thuyết sử luận giữa định luật và xu thế là một sự nhầm lẫn không thể bào chữa. Nhưng để chứng minh điều đó, ta cần phân tích một cách kĩ lưỡng phương pháp quy giản hay phương pháp diễn dịch ngược.

Ta có thể nói, ở mỗi thời điểm trong quá trình phát triển của mình, khoa học luôn phải đối đầu với các vấn đề, các bài toán. Nó không xuất phát từ những phép quan sát, hay từ “tập hợp các dữ kiện”, như một số nhà nghiên cứu về phương pháp những tưởng. Trước khi có thể thu thập các dữ kiện, ta phải có sẵn mối quan tâm đến một thể loại dữ kiện nào đó nhất định: vấn đề lúc nào cũng xuất hiện trước. Đến lượt mình, vấn đề có thể được gợi ý bởi những nhu cầu thực tiễn, hoặc bởi những niềm tin khoa học hay tiền khoa học, mà những niềm tin này vì lí do nào đó xem ra cần được xem xét lại.

Thế nhưng theo lẽ thường thì một vấn đề khoa học lại nảy sinh từ nhu cầu có được một lời kiến giải hay một lời giải thích. Theo Mill, ta phải phân biệt ra hai trường hợp chính: lời kiến giải về một sự kiện cá lẻ hoặc một sự kiện đặc thù riêng biệt, và lời kiến giải cho một sự lặp đi lặp lại theo trình tự hoặc theo một định luật. Mill phát biểu điều này như sau: “Người ta nói rằng, giải thích một thực kiện cá lẻ là chỉ ra được nguyên nhân sinh ra nó, tức là, đưa ra được định luật hoặc những định luật... mà sự xuất hiện của thực kiện ấy là một ví dụ. Chẳng hạn sẽ giải thích được một đám cháy lớn khi chứng minh được nó là hậu quả của việc một đống nhiên liệu lớn bị bén lửa; và cũng tương tự... người ta cho rằng giải thích... một định luật là chỉ ra được một định luật (hay những định luật) khác mà định luật đó là một trường hợp có thể được suy ra từ định luật (hay những định luật) kia” (Mill, sđd, cuốn III, chương XII, mục 1. Để hiểu thế nào là “nguồn suy” hay phép “diễn dịch ngược” mà

Mill gọi là những “định luật thường nghiệm”, xin xem thư mục đã dẫn, chương XVI, mục 2). Trường hợp kiến giải một định luật chính là trường hợp về sự “diễn dịch ngược”, và do đó rất quan trọng đối với nghiên cứu của chúng ta.

Xét về tổng thể thì cách kiến giải của Mill về một phép kiến giải, hay đúng hơn là về một phép kiến giải nhân quả, là hoàn toàn chấp nhận được. Nhưng đối với một số mục đích nhất định thì nó chưa đủ độ chính xác; và việc thiếu chính xác này lại đóng một vai trò quan trọng đối với câu chuyện mà ta đang bàn ở đây. Do đó tôi xin được trở lại vấn đề và vạch rõ sự khác biệt giữa quan điểm của Mill và quan điểm của tôi.

Tôi nghĩ rằng đưa ra một lời giải thích theo lối nhân quả cho một sự kiện đặc thù nào đó có nghĩa là phải xuất phát từ hai loại tiền đề để suy diễn một phát biểu ghi nhận mô tả được sự kiện đó; tức là xuất phát từ một số định luật phổ quát và xuất phát từ một số ghi nhận đặc thù hay đơn lẻ mà ta có thể gọi chúng là những điều kiện riêng ban đầu. Chẳng hạn, ta có thể nói rằng ta đã đưa ra được một lời kiến giải mang tính nhân quả cho việc một sợi dây bị đứt nếu ta phát hiện thấy rằng sợi dây chỉ có thể treo được vật nặng 1 kg mà người ta lại treo vật nặng 2 kg lên đó. Nếu đem phân tích lời giải thích nhân quả này, ta thấy có hai thành phần tham gia vào đây:

(1) Một số giả thuyết mang đặc tính của những định luật phổ quát; trong trường hợp này đó có lẽ là: “Bất cứ sợi dây nào có cấu trúc c (được xác định thông qua vật liệu làm nên nó, độ dày của nó,.v..v.) đều tương ứng với một trọng lượng t đặc trưng, sao cho sợi dây phải đứt nếu ta treo lên đó một vật có trọng lượng vượt quá t”, và “Với bất cứ sợi dây nào có cấu trúc c, thì trọng lượng đặc trưng t là 1 kg”.

(2) Một số phát biểu ghi nhận riêng (đơn lẻ) - những điều kiện ban đầu - gắn với sự kiện đặc thù riêng đang được nói tới; trong trường hợp này coi như có hai phát biểu ghi nhận: “Đây là một sợi dây có cấu trúc c”, và “Vật được treo lên sợi dây này có trọng lượng là 2 kg”.

Như thế, ta có hai bộ phận cấu thành khác nhau, hai loại phát biểu ghi nhận khác nhau, gộp lại tạo thành một lời kiến giải mang tính nhân quả: (1) Những phát biểu ghi nhận phổ quát mang đặc tính những định luật; và (2) những phát biểu ghi nhận riêng liên quan đến trường hợp cụ thể, được gọi là những “điều kiện ban đầu”. Vậy là từ những định luật phổ quát (1) ta có thể suy ra, với sự trợ giúp của những điều kiện ban đầu (2), phát biểu ghi nhận riêng (3) như sau: “Sợi dây này sẽ đứt”. Ta còn có thể gọi kết luận (3) này là một dự đoán riêng.

Những điều kiện ban đầu (hoặc một cách chính xác hơn, tình huống được chúng mô tả) thông thường được gọi là nguyên nhân của sự kiện đang bàn đến, còn lời dự đoán (hay đúng ra là sự kiện được lời dự đoán mô tả) thì được gọi là kết quả; chẳng hạn, ta nói rằng việc treo một vật có trọng lượng 2 kg vào sợi dây chỉ đủ khả năng chịu được 1 kg là nguyên nhân, còn việc sợi dây đứt là kết quả. (Đoạn văn phân tích lời kiến giải nhân quả của một sự kiện riêng này gần như được sao chép nguyên văn từ mục 12 trong cuốn “Logic phát kiến khoa học” của tôi. Hiện tôi lại nghiêng về một định nghĩa của khái niệm “nguyên nhân'' dựa trên cơ sở ngữ nghĩa học của Tarski (mà tôi chưa được biết tới khi viết cuốn sách này) theo những hướng như sau: Sự kiện (riêng) A được gọi là nguyên nhân của sự kiện (riêng) B nếu và chỉ nếu xuất phát từ một tập hợp những phát biểu ghi nhận phổ quát đúng (những định luật của tự nhiên) người ta có thể suy ra một sự hàm nghĩa mang tính vật chất, trong đó những cái hàm nghĩa định ra A, còn những cái bị hàm nghĩa định ra B. Tưong tự, ta có thể định nghĩa khái niệm về một “nguyên nhân được chấp nhận về mặt khoa học”. Để hiểu rõ khái niệm ngữ nghĩa học về sự chỉ định, xin xem Carnap, “Introduction to Semantics” (1942). Xem ra có thể cải thiện định nghĩa nêu trên bằng việc sử dụng cái Carnap gọi là những “khái niệm tuyệt đối”. Để biết thêm một vài nhận xét lịch sử xung quanh vấn đề về nguyên nhân, xin xem chú thích I của Chương 2 trong cuốn “Xã hội mở và những kẻ thù của nó” của tôi)

Tất nhiên, một sự kiến giải nhân quả kiểu như vậy chỉ được coi là khoa học khi những định luật phổ quát được trắc nghiệm và được xác chứng một cách kĩ lưỡng, và chỉ khi ta có được một số bằng chứng độc lập nào đó chứng thực cho nguyên nhân, tức là cho những điều kiện ban đầu.

Trước khi đi vào phân tích sự kiến giải nhân quả về những sự lặp đi lặp lại theo trình tự hay những định luật, cần lưu ý rằng có rất nhiều điều nảy sinh từ phép phân tích của chúng ta đối với sự kiến giải những sự kiện đơn lẻ. Một trong những điều đó là ta không bao giờ có thể nói về nguyên nhân và kết quả một cách tuyệt đối, mà chỉ có thể nói rằng một sự kiện là một nguyên nhân của một sự kiện khác - kết quả của nó - chiếu theo một hay một số định luật phổ quát nào đó. Tuy nhiên, những định luật phổ quát này thường chẳng có gì đặc sắc (như trong ví dụ trên của chúng ta) nên ta cứ chiếu lệ xem như chúng là đúng thay vì sử dụng chúng một cách có ý thức. Điều thứ hai là, việc sử dụng một lí thuyết để tiên đoán một sự kiện riêng nào đó thật ra chỉ là một khía cạnh khác của việc sử dụng lí thuyết đó để giải thích một sự kiện như vậy. Và bởi ta trắc nghiệm một lí thuyết bằng cách so sánh những sự kiện được tiên đoán với những sự kiện thực sự quan sát thấy cho nên phép phân tích của chúng ta cũng sẽ chỉ ra được việc các lí thuyết đã được trắc nghiệm như thế nào. Tùy vào mối quan tâm của mình mà chúng ta sử dụng một lí thuyết hoặc với mục đích kiến giải, hoặc với mục đích tiên đoán, hoặc với mục đích trắc nghiệm; nó phụ thuộc vào câu hỏi liệu những phát biểu ghi nhận nào ta coi đã chỉn chu, không có vấn đề gì, và những phát biểu ghi nhận nào ta coi là còn phải tiếp tục phê phán, tiếp tục phải trắc nghiệm (Xem mục 29).

Phép kiến giải nhân quả đối với một sự lặp đi lặp lại theo trình tự, được một định luật phổ quát mô tả, khác với phép kiến giải nhân quả đối với một sự kiện cụ thể riêng. Thoạt nhìn thì mọi người đều tưởng sự thể là như nhau, và rằng thứ định luật có liên quan ở đây phải được suy ra (1) từ một vài định luật tổng quát, và (2) từ một số điều kiện đặc thù nhất định tương ứng với những điều kiện ban đầu, nhưng không mang tính cụ thể riêng biệt, và phải liên quan đến một loại tình huống nhất định. Tuy nhiên điều này không áp dụng được ở đây, bởi những điều kiện đặc thù (2) phải được phát biểu một cách tường minh khi trình bày định luật mà ta đang muốn giải thích; vì nếu không, định luật này sẽ mâu thuẫn với (1) ngay tức khắc. Chẳng hạn, với sự hỗ trợ của thuyết Newton, nếu muốn giải thích định luật theo đó mọi hành tinh đều chuyển động trên các quỹ đạo ê-lip, trước tiên, khi trình bày định luật này, ta phải phát biểu một cách tường minh những điều kiện mà nếu tuân theo đó ta có thể khẳng định giá trị hiệu lực của định luật, có lẽ ít nhất phải dưới dạng “Nếu một số lượng nào đó các hành tinh, nằm tại các vị trí đủ xa nhau sao cho lực hút giữa chúng là rất nhỏ, chuyển động quay quanh một mặt trời có khối lượng lớn hơn rất nhiều, thì lúc này mỗi hành tinh sẽ chuyển động tương đối trên một đường ê-lip so với Mặt Trời với cùng một tiêu điểm. Nói cách khác, việc trình bày định luật phổ quát mà ta cố gắng giải thích phải hàm chứa trong nó tất cả những điều kiện về tính có giá trị hiệu lực của nó, bởi nếu không thế ta không thể khẳng định được tính phổ quát của nó (hoặc tính không lệ thuộc, theo cách nói của Mill). Do vậy, việc kiến giải nhân quả một sự lặp đi lặp lại theo trình tự là việc suy diễn một định luật (có hàm chứa cả những điều kiện nhằm duy trì sự lặp đi lặp lại theo trình tự đó), xuất phát từ một tập hợp những định luật khái quát hơn đã được trắc nghiệm và được thừa nhận một cách độc lập.

Nếu giờ đây mang so sánh quan điểm của ta về kiến giải nhân quả với quan điểm của Mill ta sẽ thấy không khác nhau nhiều nếu xét đến việc quy giản các định luật thành các định luật có mức độ khái quát cao hơn, tức là đến việc giải thích những sự lặp đi lặp lại theo trình tự trên cơ sở tính nhân quả. Nhưng khi Mill thảo luận về phép kiến giải nhân quả đối với những sự kiện cụ thể đơn lẻ, ta lại không thấy có sự phân biệt rõ ràng giữa (1) những định luật phổ quát và (2) những điều kiện đặc thù ban đầu. Điều này chủ yếu là do Mill đã tỏ ra thiếu rành mạch khi sử dụng thuật ngữ “nguyên nhân” khi ông hiểu đôi lúc đó là những sự kiện cụ thể đơn lẻ, đôi lúc lại là những định luật phổ quát. Ta hãy xem điều đó ảnh hưởng thế nào đến việc giải thích hay việc quy giản các xu thế.

Xét về mặt logic thì việc giải thích hoặc quy giản các xu thế là một việc không có gì phải băn khoăn. Chẳng hạn, hãy giả sử ta phát hiện thấy mọi hành tinh đều đang ngày càng tiến gần vào Mặt Trời. Hệ Mặt Trời như vậy phải là một hệ động lực học theo nghĩa của Comte. Nó hẳn phải trải qua một quá trình phát triển hay hẳn phải có một lịch sử, với một xu thế xác định. Vật lí học Newton có thể dễ dàng cắt nghĩa xu thế bằng việc giả định (ta có cơ tìm được bằng chứng độc lập về điều này) rằng không gian giữa các hành tinh có chứa đầy một loại vật chất trơ, chẳng hạn một loại khí nào đó. Giả định này hẳn sẽ là một điều kiện đặc thù ban đầu mà ta cần phải cộng thêm vào với những điều kiện ban đầu thông thường vốn cho ta biết vị trí và tốc độ của các hành tinh tại một thời điểm cho trước. Nếu điều kiện ban đầu mới này vẫn trường tồn qua thời gian, ta hẳn sẽ nhận ra một sự thay đổi hay một xu thế mang tính hệ thống, vậy, nếu ta tiến lên coi sự thay đổi là cái gì đó rất có ý nghĩa, thì nó sẽ phải có tầm ảnh hưởng đáng kể đến lĩnh vực sinh học và đến lịch sử của muôn loài trên trái đất, bao gồm cả lịch sử nhân loại. Điều đó cho thấy về nguyên tắc vì sao ta đã có thể cắt nghĩa được một vài xu thế tiến hóa và lịch sử nhất định nào đó - thậm chí cả vài “xu thế chung”, tức là những xu thế không hề mất đi trong suốt quá trình tiến hóa mà ta đang xem xét. Rõ ràng những xu thế như vậy có nhiều nét tương tự với những tựa-định-luật về sự nối tiếp nhau (như sự luân chuyển của bốn mùa trong năm chẳng hạn) đã được nhắc đến ở mục trước, chỉ có điều khác là những xu thế này mang tính “động lực học”. Do đó, chúng hẳn phải tương tự, thậm chí gần gũi hơn so với những tựa- định-luật “tĩnh”, với ý niệm mơ hồ của Comte và Mill về những định luật mang tính tiến hóa và lịch sử về sự nối tiếp nhau. Vậy là nếu có lí do chính đáng để giả định về sự trường tồn của những điều kiện ban đầu quan yếu, thì tất nhiên ta cũng có quyền giả định rằng những xu thế hoặc những “tựa-định-luật mang tính động lực học” như vậy cũng sẽ trường tồn, và rồi giống như những định luật, chúng được mang ra sử dụng làm cơ sở cho các phép tiên đoán.

Xem ra không có gì phải băn khoăn về việc những xu thế đã được giải thích (mà ta có quyền gọi như thế) hoặc những xu thế có vẻ như được giải thích là những cái đóng một vai trò quan trọng trong lí thuyết tiến hóa hiện đại. Ngoại trừ một số xu thế liên quan đến quá trình tiến hóa của một vài dạng sinh học như các loại vỏ sò và các loài tê giác thì có vẻ như một xu thế chung hướng tới một sự tăng trưởng về mặt số lượng và về mặt đa dạng sinh học trong những điều kiện môi trường liên tục thay đổi là có thể giải thích được dựa trên những định luật tiến hóa (kèm với những điều kiện ban đầu vốn được xem như một số giả định liên quan đến môi trường sống trên trái đất của các cơ thể, và vốn - cùng với các định luật - đã dẫn đến, chẳng hạn, sự vận hành của một cơ chế quan trọng được gọi là “chọn lọc tự nhiên”).

(Về những ý kiến bàn về các xu hướng tiến hóa, xin xem J. Huxley, Evolution (1942), Chương IX. Về những gì liên quan đến lí thuyết của Huxley về sự tiến bộ mang tính tiến hóa (sđd. Chương X), tôi có cảm tưởng rằng tất cả những gì ta có thể khẳng định một cách hợp lí là xu thế chung hướng đến một sự tăng lên của tính đa dạng trong các hình thái,.v..v., đã để ngỏ cho lời khẳng định rằng “tiến bộ” (định nghĩa của Huxley sẽ được bàn đến sau đây) đôi lúc xảy ra, đôi lúc lại không; rằng các quá trình tiến hóa của một số hình thái đôi khi mang tính tiến bộ, trong khi hầu hết thì không; rằng không có một lí do khái quát nào khiến ta phải kì vọng những hình thái sẽ xuất hiện trong tương lai buộc phải tiến bộ hơn (so sánh với lời khẳng định của Huxley - chẳng hạn như trong sđd, trang 571 - cho rằng chẳng may nếu loài người bỗng dưng biến mất thì khó có thể có sự xuất hiện tiếp đó của một dạng tiến bộ ở cấp độ cao hơn. Mặc dù những luận cứ của Huxley không thuyết phục được tôi, nhưng chúng lại mang một ngụ ý mà tôi sẵn sàng chấp nhận; cụ thể là, có thể nói rằng tiến bộ sinh học là một cái gì đó hoàn toàn ngẫu nhiên). Còn về định nghĩa của Huxley về sự tiến bộ mang tính tiến hóa với tính chất là sự tăng lên chung của tính hiệu quả sinh học, tức là với tính chất là sự tăng cường khả năng kiểm soát đối với môi trường và tăng cường tính độc lập đối với môi trường thì tôi lại cảm thấy như ông đã thực sự thành công trong việc thể hiện một cách thỏa đáng ý đồ của

rất nhiều nhân vật trước đó đã từng sử dụng thuật ngữ này. Hơn nữa, tôi công nhận là việc định nghĩa các hạng từ không hề mang tính nhân bản định tâm [xem con người là trung tâm]; nó không hàm chứa sự đánh giá. Tuy thế, việc gọi sự tăng trưởng của tính hiệu quả hay của khả năng kiểm soát là “tiến bộ” theo tôi đã là biểu hiện của sự đánh giá rồi; nó thể hiện niềm tin cho rằng tính hiệu quả hoặc khả năng kiểm soát là một cái gì đó tốt, và rằng việc phát triển của sự sống cũng như việc sự sống sau đó tiếp tục chinh phục vật chất vô tri vô giác là một việc làm đáng mong đợi. Nhưng chắc chắn là người ta có thể tiếp nhận những giá trị rất khác nhau. Do đó tôi nghĩ là lời khẳng định của Huxley rằng đã đưa ra được một “định nghĩa khách quan” cho sự tiến bộ mang tính tiến hóa - không vướng gì vào thuyết hình người và vào những phán định về giá trị - là một lời khẳng định không thể đứng vững (xem thêm sđd, trang 559; xem thêm cả trang 565 về ý kiến phản biện của Huxley đối với quan điểm của J. B. S. Haldane cho rằng ý niệm về tiến bộ là một ý niệm mang màu sắc nhân bản định tâm)).

Tất cả những điều nói trên có vẻ đều chống lại chúng ta, và trên thực tế lại ủng hộ Mill và thuyết sử luận. Nhưng sự thể không phải vậy, có tồn tại những xu thế đã được giải thích thật, nhưng sự trường tồn của chúng lại phụ thuộc vào sự trường tồn của một số điều kiện đặc thù ban đầu nhất định (mà đến lượt chúng, những điều kiện đặc thù ban đầu này đôi khi cũng là những xu thế).

Rõ là Mill và những cộng sự theo thuyết sử luận của ông đã quên mất sự phụ thuộc của các xu thế vào những điều kiện ban đầu. Họ xử sự với các xu thế cứ như chúng là những thứ không bị lệ thuộc vào điều kiện, y như những định luật vậy. Vì lầm lẫn giữa định luật và xu thế (nếu đọc kĩ tác phẩm “Logic” của ông, cuốn III, Chương XVI, ta có thể thấy rằng trong trường hợp của Mill, chính sự nhầm lẫn này là nguyên nhân chủ yếu khiến ông tin vào sự tồn tại cái mà tôi gọi là những “xu thế tuyệt đối”) nên họ tin vào những xu thế không bị lệ thuộc vào điều kiện (và do đó mà mang tính khái quát); hay như ta có quyền nói là tin vào những “xu thế tuyệt đối” (có một số lí do về mặt logic để mô tả niềm tin vào một xu thế tuyệt đối như một thứ niềm tin phi khoa học hay siêu hình. Một xu thế kiểu như thế có thể được trình bày bằng một phát biểu tồn tại phi đặc thù hoặc mang tính khái quát theo kiểu “Có một xu thế như thế này hay có một xu thế như thế kia”, mà ta không thể mang ra trắc nghiệm, bởi ta chẳng quan sát được sự chệch hướng nào khỏi xu thế để dựa vào đó mà phủ bác lời phát biểu ghi nhận trên; vì ta luôn có quyền hi vọng rằng “về lâu dài”, những sự chệch hướng theo chiều ngược lại sẽ có thể cân bằng lại mọi sự); chẳng hạn tin vào một khuynh hướng lịch sử chung hướng tới sự tiến bộ - “một khuynh hướng hướng đến một tình trạng sung mãn và hạnh phúc hơn” - và rồi nếu cứ luôn viện vào sự “quy giản” những xu thế thành những định luật thì họ sẽ phải tin rằng chỉ từ những định luật phổ quát là có thể suy ngay ra được những xu thế này, chẳng hạn từ những định luật của tâm lí học (hoặc có thể từ những định luật của chủ thuyết duy vật biện chứng,.v..v.).

Ta có thể nói rằng đó chính là sai lầm chủ yếu của thuyết sử luận. “Những định luật phát triển” của nó hóa ra lại là những xu thế tuyệt đối; giống như những định luật, đó là những xu thế không phụ thuộc vào các điều kiện ban đầu và hướng chúng ta đến tương lai theo một hướng nhất định không ai cưỡng lại được. Chúng là nền tảng của những lời tiên tri phi điều kiện, đối lập với những tiên đoán khoa học có điều kiện.

Thế còn đối với những ai nhận ra được những xu thế như vậy phải phụ thuộc vào một số điều kiện, và đang cố tìm để phát hiện và trình bày những điều kiện ấy một cách rành mạch thì sao đây? Về việc này tôi hoàn toàn không phản đối gì. Ngược lại: những xu thế như vậy là có thật. Do đó mà nhiệm vụ khó khăn của chúng ta là đem hết sức mình ra để làm sao giải thích được chúng, tức là để xác định được càng chính xác càng tốt những điều kiện khiến chúng trường tồn (xem mục 32). (Nếu ta thành công trong việc xác định được đầy đủ và hoàn toàn những điều kiện riêng D của một xu thế riêng X thì ta có thể phát biểu định luật phổ quát sau: “Hễ khi nào có được những điều kiện thuộc loại D thì lập tức sẽ có một xu thế thuộc loại X”. Ý niệm về một dạng định luật kiểu như vậy là không có gì đáng phản bác xét về mặt logic; nhưng nó khác rất xa so với ý niệm của Comte và Mill đối với một thứ định luật về sự nối tiếp nhau vốn đặc trưng cho diễn tiến chung của các sự kiện, giống như một xu thế tuyệt đối hay một định luật toán học về dãy số. Mặt khác, ta làm cách nào để xác định được rằng những điều kiện của chúng ta là những điều kiện đủ? Hoặc cũng một ý như thế: ta làm cách nào để trắc nghiệm được một định luật có dạng nêu trên (đừng quên rằng ta đang bàn về lập trường (b) của mục 27, vốn liên quan đến quan điểm cho rằng có thể trắc nghiệm được xu thế)? Để trắc nghiệm được một loại định luật như vậy ta cần phải nỗ lực một cách vất vả trong việc tạo ra những điều kiện trong đó định luật không áp dụng được; với mục đích đó ta phải cố chỉ ra rằng những điều kiện thuộc loại D là không đủ, và rằng kể cả với sự hiện diện của chúng, không phải lúc nào một xu thế thuộc loại X cũng xảy ra. Một phương pháp như thế (được phác họa trong mục 32) là không có gì đáng chê trách. Nhưng nó không áp dụng được cho những xu thế tuyệt đối của nhà duy lịch sử, bởi vì những xu thế này là những thứ song hành tất yếu và tồn tại ở mọi ngóc ngách của cuộc sống xã hội, và không thể bị loại bỏ bởi bất cứ sự can thiệp khả dĩ nào của các điều kiện xã hội (ở đây ta lại một lần nữa nhận thấy đặc tính “siêu hình” của niềm tin vào những xu thế không mang tính đặc thù, kiểu như những xu thế chung; những phát biểu ghi nhận thể hiện niềm tin này là những phát biểu không có khả năng được trắc nghiệm; xem lại chú thích trước)).

Điều quan trọng ở đây là, những điều kiện này rất dễ bị bỏ qua. Chẳng hạn có một xu thế hướng tới “sự tích lũy tư liệu sản xuất” (theo lời Marx). Nhưng ta hẳn khó mà kì vọng nó sẽ trường tồn trong một khối dân số đang giảm nhanh; và rồi sự giảm dân số này đến lượt mình rất có thể lại phụ thuộc vào những điều kiện siêu kinh tế, chẳng hạn phụ thuộc vào những phát minh ngẫu nhiên, hoặc có thể hình dung được khi có sự tác động trực tiếp về mặt tâm lí học (và có thể cả về mặt sinh hóa) của một môi trường công nghiệp. Trên thực tế có vô vàn những điều kiện khả dĩ; và để có thể khảo sát những khả năng này trong quá trình nghiên cứu nhằm tìm ra những điều kiện đích thực của một xu thế, ta liên tục buộc phải hình dung ra những điều kiện mà trong đó xu thế đang nói đến có thể sẽ biến mất. Nhưng đó lại chính là điều mà nhà sử luận không thể làm nổi. Nhà sử luận tin một cách tuyệt đối vào xu thế mà anh ta ưa chuộng nhất, còn những điều kiện trong đó xu thế này hẳn sẽ biến mất thì anh ta lại không bao giờ nghĩ đến. Ta có quyền nói rằng sự nghèo nàn của Thuyết sử luận chính là sự nghèo nàn của đầu óc tưởng tượng, của khả năng hình dung. Nhà sử luận không ngừng quở trách những kẻ không có khả năng hình dung được một thay đổi trong những thế giới nhỏ bé của họ; nhưng hình như chính bản thân nhà sử luận cũng chẳng có mấy đầu óc tưởng tượng, vì anh ta không sao hình dung được một sự biến đổi trong những điều kiện biến đổi.

Nguyên tác: The poverty of historicism, Karl Popper (Routledge, 1974)

Bản dịch: NXB Tri thức, Chu Lan Đình dịch.