Sự nghèo nàn của thuyết sử luận - Chương 1: Những luận thuyết phản tự nhiên luận của thuyết sử luận (Phần 5)

Sự nghèo nàn của thuyết sử luận - Chương 1: Những luận thuyết phản tự nhiên luận của thuyết sử luận (Phần 5)

9. NHỮNG PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH LƯỢNG

Giữa những ý kiến bất đồng và tương phản nổi trội liên quan đến luận thuyết nhận thức trực giác thì sự tương phản sau đây hay được các nhà sử luận nhấn mạnh hơn cả. Người ta cho rằng trong vật lí học, các sự kiện được giải thích chặt chẽ và chính xác dựa trên cơ sở định lượng cùng với sự trợ giúp của các công thức toán học. Trái lại, xã hội học thường tìm hiểu quá trình phát triển lịch sử dựa trên cơ sở định tính nhiều hơn; chẳng hạn dựa vào những khuynh hướng và mục đích đối lập.

Không chỉ riêng các nhà sử luận đưa ra luận cứ chống lại khả năng áp dụng các phương pháp định lượng và toán học, mà trên thực tế, kể cả những cây bút có quan điểm phản sử luận đôi khi cũng chối bỏ những phương pháp như vậy. Nhưng một số trong những luận cứ thuyết phục nhất chống lại các phương pháp định lượng và toán học, những phương pháp bộc lộ rõ quan điểm tôi gọi là sử luận, là những luận cứ ta sẽ bàn đến sau đây.

Khi chúng ta cho rằng không thể áp dụng các phương pháp định lượng và toán học vào xã hội học thì lập tức sẽ có ý kiến phản đối gay gắt: thái độ của chúng ta có vẻ như đụng chạm đến việc hiện nay các phương pháp định lượng và toán học đang được một vài ngành khoa học xã hội áp dụng khá thành công. Trước hiện tượng đó, liệu ta còn có thể coi chúng như những phương pháp không áp dụng được nữa hay không?

Đáp lại những ý kiến phản đối trên, người ta đã đưa ra một số luận cứ đặc trưng cho cách tư duy của nhà sử luận để bênh vực cho sự khước từ quan điểm định lượng và toán học.

Nhà sử luận có quyền nói: tôi cũng sẵn sàng nhất trí như vậy, nhưng còn có quá nhiều sự khác biệt giữa những phương pháp mang tính thống kê của các bộ môn khoa học xã hội và những phương pháp định lượng toán học của vật lí học. Không biết liệu các bộ môn khoa học xã hội quả thực có gì để mang ra so sánh với những định luật vật lí mang tính nhân quả được trình bày bằng các công thức toán học hay không?

Ví dụ, hãy xét định luật vật lí sau: (đối với ánh sáng có bước sóng bất kì) khe hở để ánh sáng lọt qua càng nhỏ thì góc nhiễu xạ càng lớn. Một định luật vật lí loại này có thể được phát biểu dưới dạng tổng quát: “Trong một số điều kiện nhất định, nếu đại lượng A biến thiên theo một cách nào đó thì đại lượng B cũng biến thiên theo một số cách có thể tiên đoán được”. Nói cách khác, một định luật kiểu như vậy thể hiện một sự phụ thuộc của một đại lượng đo đếm được vào một đại lượng khác, đồng thời nó còn thể hiện rằng cách mà một đại lượng phụ thuộc vào một đại lượng khác có thể được diễn tả chính xác bằng những công thức mang tính định lượng. Vật lí học đã thành công trong việc thể hiện tất cả các định luật của nó dưới dạng ấy. Để làm được việc này, nhiệm vụ trước tiên của vật lí học là diễn dịch mọi tính chất vật lí ra dạng định lượng được, chẳng hạn, nó đã thay thế việc mô tả định tính một số loại ánh sáng - ví dụ như một tia sáng có màu vàng tươi ngả xanh - bằng một phép mô tả định lượng: ánh sáng có một bước sóng nhất định và một cường độ nhất định nào đó. Một quy trình mô tả định lượng các tính chất vật lí rõ ràng là rất cần thiết và tất yếu trước khi trình bày các định luật vật lí trên cơ sở định lượng. Điều đó cho phép chúng ta cắt nghĩa được vì sao một số sự việc lại xảy ra; chẳng hạn, với việc ngầm định định luật về mối liên hệ giữa chiều rộng khe hở với góc nhiễu xạ, ta có thể đưa ra một lời giải thích mang tính nhân quả cho độ mở của góc nhiễu xạ dựa vào độ khép của khe hở.

Nhà sử luận cho rằng các bộ môn khoa học xã hội cũng phải cố gắng tìm ra những lời kiến giải mang tính nhân quả. chẳng hạn, các bộ môn khoa học xã hội có quyền tìm cách cắt nghĩa chủ nghĩa đế quốc thông qua sự bành trướng của nền công nghiệp. Nhưng với ví dụ này ta nhận ra ngay rằng không có hi vọng gì trình bày được các định luật xã hội học bằng ngôn ngữ định lượng. Bởi nếu xem xét một lối trình bày kiểu như “khuynh hướng bành trướng lãnh thổ đã phát triển đồng thời với cường độ công nghiệp hóa” (một lối trình bày ít nhất là dễ hiểu nhưng chưa chắc đã đúng với diễn biến trên thực tế) thì ta sẽ sớm nhận ra rằng không có phương pháp nào đo đếm được khuynh hướng bành trướng hoặc cường độ công nghiệp hóa cả.

Để tóm tắt luận cứ của nhà sử luận dùng chống lại những phương pháp định lượng toán học, ta có thể nói rằng nhiệm vụ của nhà xã hội học là đưa ra một lời kiến giải cho những biến đổi lịch sử dựa trên những thực thể xã hội kiểu như các quốc gia, các hệ thống kinh tế, hoặc các hình thức chính quyền. Vì cho đến giờ chưa ai tìm được cách gì thể hiện các đặc tính của những thực thể như vậy bằng ngôn ngữ định lượng nên không thể xây dựng một định luật định lượng nào hết. Do đó, những định luật nhân quả trong các bộ môn khoa học xã hội nếu có thì cũng rất khác về mặt tính chất so với các định luật của vật lí học, và do đó chúng phải là những định luật định tính chứ không phải định lượng theo kiểu toán học. Nếu các định luật xã hội học có được đưa ra nhằm xác định mức độ của bất cứ cái gì, thì chúng cũng chỉ có thể được phát biểu bằng những ngôn từ rất chung chung mà thôi, và cùng lắm chỉ đưa ra được một thang độ đánh giá khá sơ sài.

Có lẽ các phẩm tính - dù mang tính vật thể hay phi vật thể - chỉ có thể được xác định bằng trực giác mà thôi. Cho nên những luận cứ nêu ra trên đây e rằng cũng chỉ sử dụng được cho những ai đề cao phương pháp nhận thức trực giác.

10. “DUY BẢN CHẤT” ĐỐI LẠI “DUY DANH”

Việc nhấn mạnh đặc điểm định tính của các sự kiện xã hội tiếp tục dẫn ta đến với vấn đề về vị thế của những ngôn từ chỉ phẩm tính: đến với cái gọi là vấn đề về những cái phổ quát, một trong những vấn đề triết học xưa nhất và cơ bản nhất.

Vấn đề đã gây ra một cuộc tranh luận gay gắt suốt thời Trung cổ ấy bắt nguồn từ triết lí của Plato và của Aristotle. Nó thường được diễn giải như một vấn đề thuần túy siêu hình; nhưng cũng giống hầu hết những vấn đề siêu hình khác, nó cũng có thể được trình bày lại để biến thành một vấn đề về phương pháp khoa học. Ở đây chúng ta chỉ bàn đến vấn đề phương pháp luận và phác qua giải pháp siêu hình học của vấn đề đó bằng vài lời dẫn nhập.

Mọi ngành khoa học đều sử dụng những từ ngữ gọi là có tính phổ quát, ví dụ như “năng lượng”, “vận tốc”, “carbon”, “màu trắng”, “tiến hóa”, “công lí”, “nhà nước”, “nhân loại”. Những từ đó khác với loại từ ngữ ta gọi là những danh từ riêng hay những khái niệm đơn lẻ như “Alexander Đại Đế”, “Sao chổi Halley”, “Thế chiến thứ nhất”. Những từ ngữ loại này là những tên riêng, những nhãn hiệu gắn một cách quy ước cho những sự vật hay sự việc lẻ mà chúng biểu thị.

Đã xảy ra những cuộc tranh luận kéo dài và đôi khi quyết liệt giữa hai phái về bản chất tự nhiên của những từ ngữ phổ quát. Một phái thì cho rằng những tên gọi phổ quát chỉ khác các tên riêng ở chỗ chúng được gắn cho những thành viên của một tập hợp hay một lớp các sự vật riêng biệt chứ không phải gắn cho một sự vật đơn lẻ nào. Chẳng hạn theo phái này thì từ “trắng” chỉ là nhãn hiệu dùng để gắn cho một tập hợp nhiều sự vật khác nhau - ví dụ những bông tuyết, khăn trải bàn và những con thiên nga. Đó là học thuyết của phái duy danh. Nó đối lập với một học thuyết có tên gọi theo truyền thống là duy thực - một cách gọi có phần lẫn lộn, ở chỗ người ta còn gọi thuyết “duy thực” là thuyết “duy tâm”. Do đó tôi cho rằng nên đặt một cái tên khác cho thứ lý thuyết phản duy danh này là “duy bản chất” [hay duy tự tính]. Những người theo thuyết duy bản chất không công nhận việc chúng ta trước tiên chọn nhặt ra một nhóm những sự vật đơn lẻ rồi sau đó mới gắn cho chúng cái nhãn “trắng”. Theo họ thì thật ra chúng ta gọi mỗi sự vật “trắng” đơn lẻ là dựa trên một đặc tính nhất định mà nó có chung với những sự vật trắng khác, đó là màu trắng hay “đặc tính trắng”. Đặc tính mang một cái tên phổ quát này được xem như một đối tượng đáng để tìm hiểu và nghiên cứu hơn nhiều so với bản thân những sự vật đơn lẻ (cái tên “duy thực” xuất phát từ một khẳng định cho rằng những đối tượng phổ quát chẳng hạn như “màu trắng” là có tồn tại “thực”, bao trùm và vượt ra ngoài những sự vật đơn lẻ và những tập hợp hoặc nhóm các sự vật đơn lẻ). Những từ ngữ phổ quát như vậy được coi là dùng để chỉ các đối tượng phổ quát, cũng như những danh từ riêng dùng để chỉ các sự vật đơn lẻ. Những đối tượng phổ quát (mà Plato gọi là các “Mô thức” hoặc “Ý niệm”) được gọi tên bằng những từ ngữ phổ quát này còn được gọi là những “bản chất cốt yếu” [hay những tự tính].

Nhưng thuyết duy bản chất không chỉ dừng lại ở chỗ tin là có những cái phổ quát (tức là những đối tượng phổ quát) mà còn chú trọng đến tầm quan trọng của chúng đối với khoa học. Nó cho thấy những đối tượng đơn lẻ bộc lộ nhiều yếu tố ngẫu nhiên, những yếu tố không quan trọng với khoa học. Hãy lấy một ví dụ từ các bộ môn khoa học xã hội: bản thân kinh tế học quan tâm đến tiền tệ và tín dụng, nhưng không để ý đến việc những đồng tiền xu, những tờ giấy bạc hay những tờ ngân phiếu vuông tròn ra sao. Khoa học cần phải bỏ đi cái ngẫu nhiên và đi sâu vào bản chất cốt yếu của sự vật. Nhưng bản chất cốt yếu của mọi sự vật lại luôn là một cái gì đó phổ quát.

Những nhận xét trên bộc lộ một số khía cạnh phương pháp luận tiềm ẩn trong vấn đề siêu hình học. Tuy nhiên, vấn đề phương pháp luận bàn đến sau đây trên thực tế có thể được xem xét độc lập với vấn đề siêu hình học. Ta sẽ tiếp cận nó từ một hướng khác - một hướng cho phép ta né tránh câu hỏi về sự tồn tại của những đối tượng phổ quát và những đối tượng riêng biệt cũng như về sự khác biệt giữa chúng. Ta sẽ chỉ bàn đến mục đích và ý nghĩa của khoa học.

Trường phái những nhà tư tưởng mà tôi đề nghị gọi là duy bản chất phương pháp luận là trường phái do Aristotle sáng lập. Những nhà tư tưởng này rao giảng rằng nghiên cứu khoa học phải đi sâu vào bản chất cốt yếu của sự vật nhằm cắt nghĩa chúng. Các nhà duy bản chất phương pháp luận thiên về cách đặt những câu hỏi khoa học dưới dạng những câu như “vật chất là gì” hoặc “lực là gì” hoặc “công lí là gì” và họ tin rằng một câu trả lời thích đáng cho những câu hỏi như vậy - tức là một câu trả lời nhằm làm rõ được ý nghĩa thực sự hoặc ý nghĩa cơ bản của những từ ngữ trên và do đó nêu bật được bản tính tự nhiên đích thực hoặc chân xác của những bản chất cốt yếu mà những từ ngữ ấy biểu hiện - là một điều kiện tiên quyết tất yếu của nghiên cứu khoa học, nếu không muốn nói đó là nhiệm vụ chính của nó. Ngược lại với quan điểm trên, các nhà duy danh phương pháp luận hẳn sẽ đặt các câu hỏi dưới dạng như “mẩu vật chất này hành xử ra sao” hoặc “nó sẽ chuyển động như thế nào khi có mặt những vật thể khác”. Bởi vì các nhà duy danh phương pháp luận cho rằng nhiệm vụ của khoa học chỉ là mô tả hành trạng của sự vật, và nhiệm vụ đó có thể được thực hiện bằng cách đưa ra những từ ngữ mới khi cần thiết hoặc định nghĩa lại những từ ngữ cũ cho thích hợp khi cách hiểu nguyên thủy của chúng chẳng may bị quên lãng do cẩu thả. Họ coi từ ngữ chỉ là những công cụ mô tả.

Số đông mọi người hẳn sẽ chấp nhận rằng thuyết duy danh phương pháp luận xưa nay vẫn thành công trong các bộ môn khoa học tự nhiên, vật lí học, chẳng hạn, không quan tâm tìm hiểu bản chất cốt yếu của nguyên tử hay của ánh sáng, mà chỉ sử dụng những từ ngữ này một cách khá thoải mái để cắt nghĩa và mô tả một số cấu trúc vật lí quan trọng và phức tạp. Với sinh học cũng vậy. Các triết gia có quyền đòi hỏi ở các nhà sinh học lời giải đáp cho những vấn đề như “cuộc sống là gì” hay “tiến hóa là gì”, đồng thời một vài nhà sinh học cũng có quyền đưa ra những đòi hỏi như vậy. Tuy nhiên, nhìn chung thì môn sinh học khoa học trên thực tế lại xử lí những vấn đề khác hẳn và chấp nhận những phương pháp kiến giải và mô tả rất gần gũi với những phương pháp được sử dụng trong vật lí học.

Do đó mà trong khoa học xã hội, chúng ta ắt hẳn phải trông chờ sự tán thành thuyết duy danh từ phía những người có quan điểm duy tự nhiên phương pháp luận, và sự ủng hộ thuyết duy bản chất từ phía những người có quan điểm phản tự nhiên. Tuy nhiên ở điểm này ta thấy thuyết duy bản chất trên thực tế có vẻ như chiếm ưu thế và thậm chí không phải đối mặt với một phản ứng nào quyết liệt lắm. Vì thế, mọi người có xu hướng cho rằng trong khi những phương pháp của các bộ môn khoa học tự nhiên về cơ bản mang tính duy danh thì khoa học xã hội buộc phải tiếp nhận một lập trường duy bản chất phương pháp luận. Người ta lập luận rằng nhiệm vụ của khoa học xã hội là tìm hiểu và cắt nghĩa những thực thể kiểu như nhà nước, hoạt động kinh tế, nhóm xã hội,.v..v., và điều này chỉ có thể được tiến hành bằng việc nhìn xuyên vào bản chất cốt yếu của những thực thể ấy. Mỗi thực thể xã hội học quan trọng đều đòi hỏi phải có những thuật ngữ phổ quát để mô tả nó, còn việc thêm những thuật ngữ mới, một công việc xưa nay tỏ ra rất hữu hiệu trong các bộ môn khoa học tự nhiên, sẽ chẳng có ý nghĩa gì ở đây. Nhiệm vụ của khoa học xã hội là mô tả rõ ràng những thực thể như nói trên, tức là phân biệt rõ ràng được cái phổ quát với cái ngẫu nhiên. Những vấn đề như “Nhà Nước là gì” hay “công dân là gì” (mà Aristotle từng coi là những vấn đề cơ bản trong tác phẩm Chính trị của ông hay “tín dụng là gì” hay “đâu là sự khác nhau cơ bản giữa giáo sĩ và thành viên giáo phái (hay giữa giáo hội và giáo phái)” không những là những vấn đề hoàn toàn hợp lệ mà còn đích xác là những câu hỏi mà các lí thuyết xã hội học buộc phải trả lời.

Mặc dù có thể không giống nhau trong thái độ đối với vấn đề siêu hình học và trong cách nhận định về phương pháp luận của khoa học tự nhiên, nhưng rõ ràng là hầu hết các nhà sử luận đều nghiêng về quan điểm duy bản chất và chống lại quan điểm duy danh một khi nói đến vấn đề phương pháp luận của khoa học xã hội. Trên thực tế những ai theo thuyết sử luận mà tôi được biết đều có thái độ ấy. Nhưng cũng cần lưu tâm xem liệu có phải đó chỉ là xuất phát từ khuynh hướng đối lập với quan niệm của khoa học tự nhiên nói chung của thuyết sử luận hay không, hay xuất phát từ những luận cứ sử luận đặc thù thiên về quan điểm duy bản chất phương pháp luận.

Trước tiên phải thấy rằng luận cứ chống lại việc sử dụng các phương pháp định lượng trong khoa học xã hội là có liên quan đến vấn đề này. Việc chú trọng vào tính chất định tính của những sự kiện xã hội cùng với việc chú trọng đến nhận thức trực giác (đối lập với phép mô tả thuần túy) đã bộc lộ một thái độ rất gần gũi với quan điểm duy bản chất.

Nhưng còn có những luận cứ khác điển hình hơn của thuyết sử luận xuất phát từ một lối tư duy xem ra gần gũi với cách nghĩ của mọi người (nhân đây cũng nói thêm rằng trên thực tế chúng giống hệt những luận cứ mà Aristotle cho rằng đã dẫn Plato tới chỗ phát triển luận thuyết đầu tiên của mình về bản chất cốt yếu).

Thuyết sử luận nhấn mạnh tầm quan trọng của sự biến đổi. Thế là nhà sử luận lập luận rằng nhất thiết trong mỗi quá trình biến đổi phải tìm được cái gì đó thay đổi. Thậm chí nếu không có thứ gì còn được giữ nguyên thì ta vẫn phải nhận dạng được cái gì đã thay đổi để có thể nói về sự thay đổi chứ. Trong vật lí học điều đó không khó lắm. Trong cơ học, chẳng hạn, mọi biến đổi đều là những chuyển động, tức là những biến đổi về mặt không gian và thời gian, của các vật thể vật lí. Nhưng vì chủ yếu quan tâm đến các thiết chế xã hội nên xã hội học phải đối mặt với những trở ngại lớn hơn, do bởi người ta khó mà nhận dạng được những thiết chế như vậy sau khi chúng trải qua sự biến đổi. Hiểu theo nghĩa mô tả thuần túy thì không thể nhìn ra sự giống nhau giữa một thiết chế trước khi thay đổi với một thiết chế sau khi đã thay đổi; chúng phải hoàn toàn khác nhau xét từ góc độ mô tả. Một sự mô tả duy tự nhiên luận về những thiết chế của chính phủ Anh quốc, chẳng hạn, sẽ khác hẳn với chúng cách đây bốn thế kỉ. Nhưng ta vẫn có thể nói, với tư cách là một chính phủ thì về cơ bản nó vẫn là một, dù đã có nhiều thay đổi đáng kể. Chức năng của nó đối với xã hội hiện đại về cơ bản cũng giống với chức năng nó đã thực hiện vào thời đó. Mặc dù thật khó tìm ra những nét có thể mô tả được còn giữ nguyên như lúc đầu, nhưng căn tính cơ bản của thiết chế vẫn được lưu giữ, cho phép chúng ta nhìn ra một thiết chế với tính chất là sự biến cải của một thiết chế khác: trong khoa học xã hội, ta không thể nói đến những biến đổi hoặc những quá trình phát triển mà không mặc định một bản chất cốt yếu bất biến, và do đó không thể không hành động phù hợp với quan điểm duy bản chất phương pháp luận.

Tất nhiên có một số thuật ngữ xã hội học như suy thoái, lạm phát, giảm phát,.v..v. được sử dụng ban đầu xuất phát từ một thị hiếu thuần túy mang tính duy danh. Nhưng dẫu có thế, chúng cũng không lưu giữ lâu được đặc tính duy danh của mình. Do điều kiện thay đổi, ta đã sớm thấy các nhà khoa học xã hội luôn bất đồng ý kiến về việc đánh giá liệu một số hiện tượng nhất định có phải thực sự là lạm phát hay không; để đánh giá cho chính xác, người ta thấy cần phải nghiên cứu kĩ tính chất tự nhiên cơ bản (hay ý nghĩa cơ bản) của lạm phát.

Do đó, với bất cứ thực thể xã hội nào, người ta đều có thể nói rằng “một khi còn bàn đến bản chất cốt yếu của nó thì phải tạo cho nó sự hiện diện ở bất cứ một nơi nào đó khác và dưới tất cả những hình thức khác, đồng thời phải thay đổi sao cho trên thực tế nó vẫn là nó, hoặc thay đổi theo một cách khác với cách mà nó thực sự thay đổi” (Husserl). Không nên hạn chế một cách tiên nghiệm bình diện của những biến đổi khả dĩ. Không làm sao có thể nói với kiểu thay đổi nào thì một thực thể xã hội trụ lại được và vẫn giữ nguyên như nó vốn là. Những hiện tượng khác nhau về bản chất theo một số quan điểm nào để có thể lại là những hiện tượng giống nhau về bản chất nếu được xét trên những quan điểm khác.

Từ những luận cứ mang tính sử luận như trên, người ta có thể suy ra rằng không thể nào mô tả những quá trình phát triển xã hội một cách trần trụi được; hay nói đúng hơn là không bao giờ một sự mô tả xã hội học chỉ đơn giản dừng lại ở việc mô tả hiểu theo nghĩa duy danh. Và nếu như việc mô tả xã hội học không thể không cần đến những bản chất cốt yếu thì một lí thuyết về phát triển xã hội lại càng không thể. Bởi liệu chăng có ai đó dám phủ nhận rằng những vấn đề như xác định và cắt nghĩa những nét đặc trưng của một thời kì xã hội nào đó, cùng với những sức ép cũng như những khuynh hướng và xu thế nội tại của nó, là những vấn đề dù có cố gắng mấy cũng không thể giải quyết bằng các phương pháp duy danh?

Theo đó thì cơ sở của thuyết duy bản chất phương pháp luận chính là một luận cứ mang tính sử luận đã đưa Plato đến với thuyết duy bản chất của mình, tức là đến với luận cứ của Heraclitus cho rằng những sự vật luôn biến đổi không bao giờ tuân theo sự mô tả có lí tính. Đó là vì khoa học hay tri thức luôn hàm định một cái gì đó không thay đổi và luôn đồng nhất với chính nó - một bản chất cốt yếu. Lịch sử, tức là sự mô tả cái biến đổi, và bản chất cốt yếu, cũng tức là cái bất biến trong quá trình biến đổi, thể hiện ở đây như hai khái niệm tương hỗ. Nhưng sự tương hỗ này còn được hiểu theo một nghĩa khác nữa: theo một lối hiểu nào đó, một bản chất cốt yếu lại hàm định sự biến đổi, và qua đó hàm định lịch sử. Bởi vì cái nguyên lí nói rằng một sự vật luôn là chính nó hoặc bất biến trong khi vẫn thay đổi nếu [nguyên lí ấy] được coi là bản chất cốt yếu (hoặc ý niệm, hoặc mô thức, hoặc bản tính tự nhiên, hoặc thực chất) của nó, thì những biến đổi mà sự vật phải trải qua lại khiến bộc lộ những diện mạo hay những khía cạnh khác nhau của những khả năng mà sự vật vốn có, và do đó làm bộc lộ bản chất cốt yếu của nó. Theo đó, bản chất cốt yếu có thể được diễn giải như sự cộng gộp hay nguồn gốc của những tiềm năng cố hữu của sự vật, còn những biến đổi (hay những vận động) có thể được diễn giải như sự hiện thực hóa hay thực thi hóa những tiềm năng đang còn bị bản chất cốt yếu của nó che phủ (người khởi xướng luận thuyết này là Aristotle). Từ đó ta có thể suy ra rằng một sự vật, tức là bản chất cốt yếu bất biến của nó, chỉ có thể được nhận biết thông qua những biến đổi của nó. Chẳng hạn, nếu muốn biết liệu một vật nào đó có phải được làm bằng vàng hay không thì ta phải gò nó ra hay thử nó bằng hóa chất, tức phải làm nó thay đổi và qua đó khiến nó bộc lộ một số tiềm năng. Cũng giống vậy, bản chất cốt yếu - hay nhân cách - của một con người chỉ có thể được nhận biết khi nó tự bộc lộ mình qua tiểu sử của người đó. Việc áp dụng nguyên lí này cho xã hội học sẽ dẫn ta đến với kết luận rằng bản chất cốt yếu hay thực tính của một nhóm xã hội chỉ có thể tự bộc lộ và được nhận biết thông qua lịch sử của nhóm ấy. Nhưng nếu các nhóm xã hội chỉ có thể được nhận biết thông qua lịch sử của chúng thì những khái niệm thường dùng để mô tả chúng lại phải là những khái niệm lịch sử; và đúng vậy, chỉ có thể coi những khái niệm xã hội học như nhà nước Nhật Bản hay dân tộc Italia hay chủng tộc Aryan như những khái niệm được đưa ra trên cơ sở nghiên cứu lịch sử. Điều này cũng đúng với các giai cấp trong xã hội: chẳng hạn, chỉ có thể định nghĩa giai cấp tư sản thông qua lịch sử của nó: với tư cách một giai cấp giành được quyền lực bằng cuộc cách mạng công nghiệp, một giai cấp đã đánh đổ tầng lớp địa chủ, một giai cấp đang chiến đấu với giai cấp vô sản và đang bị giai cấp vô sản đánh bại,.v..v.

Chủ thuyết duy bản chất có thể đã được đưa ra nhằm hướng ta tới việc tìm cho những sự vật luôn biến đổi một căn tính, nhưng rồi chính nó đã cung cấp một số trong những luận cứ chặt chẽ nhất biện hộ cho luận thuyết theo đó khoa học xã hội cần phải tiếp nhận một phương pháp lịch sử; có nghĩa là biện hộ cho thuyết sử luận.

Nguyên tác: The poverty of historicism, Karl Popper (Routledge, 1974)

Bản dịch: NXB Tri thức, Chu Lan Đình dịch.