Sự nghèo nàn của thuyết sử luận - Chương 2: Những luận thuyết duy tự nhiên luận của thuyết sử luận (Phần 3)

Sự nghèo nàn của thuyết sử luận - Chương 2: Những luận thuyết duy tự nhiên luận của thuyết sử luận (Phần 3)

15. “TIÊN TRI LỊCH SỬ” ĐỐI LẠI “KIẾN TẠO XÃ HỘI”

Như vừa được trình bày, những quy luật lịch sử nói trên (nếu chúng được khám phá) hẳn phải cho phép ta tiên đoán kể cả những sự kiện trong tương lai rất xa, tuy không được đầy đủ. Do đó luận thuyết cho rằng những định luật xã hội học đích thực phải là những định luật lịch sử (một luận điểm chủ yếu xuất phát từ tính có giá trị hiệu lực có giới hạn của những đặc tính xã hội không thay đổi) lại dẫn quay ngược về với ý niệm “dự báo trên quy mô lớn”, chưa cần nói đến những nỗ lực muốn ganh đua với thiên văn học. Và điều này khiến cho ý niệm đó trở nên cụ thể hơn, vì nó cho thấy những dự báo như vậy mang đặc tính của những lời tiên tri lịch sử.

Như vậy là đối với nhà sử luận, xã hội học đã biến thành một nỗ lực nhằm giải bài toán xa xưa về tiên đoán tương lai; một thứ tương lai của các nhóm và của loài người nhiều hơn là tương lai của từng cá nhân. Đó là thứ khoa học của những gì sẽ xảy ra, của những quá trình phát triển sắp xảy đến. Nếu ý đồ cung cấp một nhãn tiền chính trị có giá trị khoa học cho chúng ta mà thành công thì xã hội học sẽ chứng tỏ được tầm quan trọng lớn lao của nó đối với các chính khách, nhất là đối với những ai có tầm nhìn vượt khỏi những đòi hỏi của hiện tại, những chính khách quan tâm đến vận mệnh lịch sử. Đúng là có một số nhà xã hội học bằng lòng với việc chỉ tiên đoán những giai đoạn cận kề của hành trình nhân loại, và cũng chỉ dám sử dụng ngôn từ một cách hết sức thận trọng. Nhưng tất cả họ đều mang một tư tưởng chung, đó là: nghiên cứu xã hội học hẳn phải hé lộ được tương lai chính trị, và do đó có thể trở thành công cụ tối ưu cho một nền chính trị thực tiễn biết nhìn xa trông rộng.

Nhìn từ góc độ giá trị thực dụng của khoa học thì tầm quan trọng của những tiên đoán khoa học là quá rõ ràng. Tuy nhiên, không phải lúc nào người ta cũng nhận ra một điều là cần phân biệt hai loại tiên đoán trong khoa học, kèm theo đó là hai cách hiểu thực tiễn khác nhau. Chúng ta có thể tiên đoán (a) có một trận bão sắp ập đến. Lời tiên đoán này hẳn phải có một giá trị thực tiễn rất lớn vì nhờ nó dân chúng có thể kịp thời tìm nơi ẩn náu; nhưng chúng ta còn có thể tiên đoán (b) rằng để có nơi ẩn náu đủ chắc chắn để chống chọi với cơn bão, nó phải được xây cất theo một thiết kế nhất định nào đó, chẳng hạn như ở hướng bắc phải có các trụ tường bê tông cốt thép.

Hai loại tiên đoán này khác nhau rõ rệt mặc dù cả hai đều quan trọng và đều thỏa mãn được những giấc mơ từ ngàn xưa. Trong trường hợp đầu, chúng ta nói về một sự kiện không có cách gì ngăn ngừa.

Tôi mạn phép gọi lời tiên đoán loại này là một lời tiên tri. Giá trị thực tiễn của nó nằm ở chỗ chúng ta được cảnh báo về sự kiện được tiên đoán, do đó có thể tránh hoặc chuẩn bị phòng chống (có thể với sự trợ giúp của những tiên đoán loại kia).

Ngược lại, ta có thể mô tả những tiên đoán loại thứ hai là những tiên đoán công nghệ, bởi những tiên đoán loại này cấu thành cơ sở cho sự kiến tạo. Chúng mang tính tạm gọi là xây dựng, gián tiếp hé lộ cho ta biết những công đoạn phải làm nếu ta muốn đạt được một số kết quả nhất định. Phần lớn những tiên đoán do vật lí học đưa ra (mà hầu hết thuộc lĩnh vực thiên văn học và khí tượng học) nếu xét từ góc độ thực tiễn đều là những tiên đoán có thể được mô tả là tiên đoán công nghệ, sự khác biệt giữa hai loại tiên đoán này về đại thể tương ứng với việc ta chú ý đến tầm quan trọng ít hay nhiều của thí nghiệm được thiết kế, hay ngược lại chỉ chú ý đến phép quan sát thuần túy trong bộ môn khoa học đang được nói tới. Những môn khoa học thực nghiệm điển hình có thể đưa ra những tiên đoán công nghệ, trong lúc những môn chủ yếu thiên về sử dụng những phép quan sát phi thực nghiệm thì tìm cách đưa ra những lời tiên tri.

Tôi không muốn bị mọi người hiểu là kẻcố chấp cho rằng tất cả khoa học trên đời này, hay thậm chí tất cả những lời tiên đoán, về cơ bản phải được đánh giá trên cơ sở thực tiễn - tức là nhất thiết chúng hoặc phải mang tính tiên tri hoặc phải mang tính công nghệ chứ không được là gì khác. Tôi chỉ muốn lưu ý đến sự phân biệt giữa hai loại tiên đoán và những môn khoa học tương ứng với mỗi loại. Vì muốn ám chỉ một đặc tính được bộc lộ khi xem xét chúng từ góc độ thực dụng mà tôi đã chọn các thuật ngữ “tiên tri” và “công nghệ”; nhưng việc sử dụng hệ thuật ngữ đó không hàm ý rằng quan điểm thực dụng nhất thiết phải vượt trội hơn tất cả những quan điểm khác, cũng không hàm ý rằng tầm quan trọng của khoa học chỉ giới hạn vào những lời tiên tri có ý nghĩa về mặt thực dụng và những tiên đoán có tính chất công nghệ. Chẳng hạn, nếu xem kĩ môn thiên văn học, ta sẽ phải thừa nhận tầm quan trọng của những điều nó phát hiện chủ yếu mang tính lí thuyết, cho dù chúng không kém phần quan trọng xét từ góc độ thực dụng; nhưng với tính chất là những lời “tiên tri”, chúng na ná với những phát hiện của môn khí tượng học, là những phát hiện có giá trị rõ rệt đối với hoạt động thực tiễn.

Chỉ có một điều cần lưu tâm là sự khác biệt giữa tính chất tiên tri và tính chất kiến tạo của các khoa học không tương ứng với sự khác biệt giữa những tiên đoán dài hạn và tiên đoán ngắn hạn. Mặc dù hầu hết những tiên đoán kiến tạo là tiên đoán ngắn hạn, nhưng cũng vẫn có những tiên đoán công nghệ dài hạn, ví dụ tiên đoán về tuổi thọ của máy móc. Vả chăng, những tiên tri thiên vãn học có thể là những tiên tri ngắn hạn mà cũng có thể dài hạn, còn hầu hết những tiên tri khí tượng học xem ra đều là ngắn hạn.

Rồi đây ta sẽ thấy sự khác biệt này giữa hai mục đích thực tiễn - tiên tri và kiến tạo - và kèm theo đó là sự khác biệt về cấu trúc của những lí thuyết khoa học tương ứng, là một trong những điểm mấu chốt được lấy làm cơ sở cho việc phân tích vấn đề phương pháp. Còn trước mắt, tôi chỉ có ý nhấn mạnh điều này: vì tin chắc rằng những thí nghiệm xã hội học là vô ích và bất khả nên các nhà sử luận ủng hộ tiên tri lịch sử - tiên tri về quá trình phát triển xã hội, chính trị và thiết chế - và chống lại việc coi kiến tạo xã hội như mục tiêu thực tiễn của khoa học xã hội. Đối với một vài người trong số họ, ý niệm về kiến tạo xã hội, về việc có thể trù tính và tạo dựng các thiết chế với mục đích ngăn chặn, kiểm soát hoặc thúc đẩy quá trình phát triển xã hội trong tương lai gần là một ý niệm hợp lí. Những người khác thì cho rằng việc đó hầu như không thể thực hiện, hoặc nó đi ngược với định luật theo đó các dự kiến chính trị cũng như mọi hoạt động xã hội khác đều bị chi phối bởi vòng quay lớn của những lực [lượng] lịch sử.

16. LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN LỊCH SỬ

Những nhận định trên cho phép ta đi vào tận cốt lõi của hàng loạt luận cứ mà tôi đề nghị gọi là “thuyết sử luận”, và chúng cũng đủ để biện minh cho sự lựa chọn tên gọi đó. Khoa học xã hội chính là sử học: đó là luận điểm cơ bản. Tuy nhiên đây không phải thứ sử học theo cách hiểu truyền thống nhằm nghiên cứu các thực kiện lịch sử biên niên. Loại sử học mà các nhà sử luận muốn đồng nhất với xã hội học không chỉ nhìn ngược vào quá khứ mà còn nhìn vươn đến tương lai. Nó nghiên cứu những lực lượng, và nhất là những định luật phát triển xã hội. Với cách nhìn ấy, nó có thể được mô tả như một lí thuyết lịch sử hay một môn sử học lí thuyết, bởi chỉ những định luật xã hội có giá trị hiệu lực một cách phổ quát mới được đồng nhất với những định luật lịch sử. Chúng phải là những định luật của quá trình, của sự biến đổi, của sự phát triển - chứ không phải thứ định luật giả tạo của những cái bất biến hay những đặc tính không thay đổi có tính biểu kiến. Theo các nhà sử luận, nhà xã hội học phải nỗ lực đưa ra một ý niệm chung về những xu thế biến đổi chính của cấu trúc xã hội. Nhưng bên cạnh đó, còn phải tìm hiểu những nguyên nhân đã dẫn đến quá trình này, tìm hiểu sự vận hành của những lực lượng thúc đẩy sự biến đổi. Nhà xã hội học phải tìm cách đưa ra những giả thuyết về những xu thế phát triển chung của xã hội, khiến cho con người có thể tự điều chỉnh bản thân nhằm thích ứng với những biến đổi đang sắp xảy đến thông qua việc đưa ra những lời tiên tri xuất phát từ những định luật nói trên.

Dựa vào sự phân biệt nêu trên giữa hai loại dự đoán - và kèm theo đó là sự phân biệt giữa hai thể loại khoa học - ta có thể làm rõ thêm chút nữa cách các nhà sử luận hiểu thế nào là xã hội học. Tư duy ngược lại với hệ phương pháp sử luận, ta có thể hình dung ra một phương pháp luận nhằm đến việc xây dựng một bộ môn khoa học xã hội mang tính công nghệ. Một phương pháp luận như thế hẳn sẽ cho phép ta triển khai nghiên cứu những định luật chung của đời sống xã hội với mục đích phát hiện được mọi thực kiện cần thiết, làm cơ sở cho hành động của bất cứ ai có ước muốn cải tạo các thiết chế xã hội. Nhiều hệ thống Không Tưởng không có tính khả thi đơn giản chỉ vì không lưu ý đầy đủ đến những thực kiện đó. Phương pháp luận công nghệ đang được nói đến hẳn sẽ có khả năng cung cấp cho ta phương tiện nhằm tránh những kiến tạo phi thực tế ấy. Đây hẳn là một phương pháp luận phản sử luận, nhưng không thể nói là phi lịch sử. Kinh nghiệm lịch sử phải được sử dụng như một nguồn thông tin quan trọng bậc nhất. Nhưng, thay vì cố tìm ra những định luật phát triển xã hội, ta sẽ phải tìm kiếm những định luật áp đặt những giới hạn cho việc xây dựng các thiết chế xã hội, hoặc xây dựng những đặc tính không thay đổi kiểu khác (mặc dù nhà sử luận cho rằng những thứ đó không hề tồn tại).

Ngoài những phản luận cứ theo kiểu đã được bàn tới ở trên, nhà sử luận hoàn toàn có thể đặt vấn đề nghi vấn đối với khả năng và tính hữu dụng của công nghệ xã hội theo một lối khác. Hãy giả định rằng, nhà sử luận có thể nói, có một kiến trúc sư xã hội lượng tính được kế hoạch xây dựng một cấu trúc xã hội mới, dựa trên cơ sở của thứ xã hội học mà ta vừa hình dung. Lại giả định rằng kế hoạch đó vừa có tính thực tiễn vừa có tính hiện thực theo nghĩa nó không mâu thuẫn với những thực kiện và những định luật xã hội được biết đến; và rồi thậm chí có thể giả định rằng kế hoạch đã được xây dựng trên cơ sở một kế hoạch khác cũng có tính khả thi nhằm cải tạo xã hội hiện hành theo một cấu trúc mới. Kể cả như vậy, nhà sử luận vẫn có thể chứng minh rằng kế hoạch kiểu đó cũng không có gì đáng được quan tâm một cách nghiêm túc. Nó vẫn chỉ là một giấc mơ phi thực tế và không tưởng, đơn giản vì nó không tính đến những định luật phát triển của lịch sử. Những cuộc cách mạng xã hội không phải xuất phát từ những kế hoạch có lí tính, mà là xuất phát từ những động lực xã hội, chẳng hạn như những mâu thuẫn về quyền lợi. Ý tưởng cũ kĩ về một kiểu nhà vua triết gia đầy quyền lực, có thừa khả năng thực hiện một số kế hoạch vĩ đại đã được suy xét chu đáo, chỉ còn là câu chuyện cổ tích được bịa ra để bảo vệ quyền lợi cho một tầng lớp địa chủ quý tộc. Nền dân chủ tương ứng với câu chuyện cổ tích ấy là niềm tin dị đoan cho rằng chỉ cần một đám dân chúng có thiện chí được những luận cứ có lí tính thuyết phục là lập tức có thể hành động theo kế hoạch. Lịch sử chứng minh rằng thực tế xã hội khác thế rất xa. Tiến trình phát triển lịch sử không hề tuân theo những thiết kế lí thuyết, dù xuất sắc đến đâu, tuy phải thừa nhận những mô hình như vậy có thể gây ra một số ảnh hưởng nhất định, bên cạnh những nhân tố khác ít có lí tính hơn (thậm chí phi lí tính). Kể cả nếu một kế hoạch có lí tính như vậy có trùng hợp với quyền lợi của các nhóm quyền lực đi nữa thì cũng không bao giờ được thực hiện theo đúng cách thức người ta đã hình dung, cho dù cuộc đấu tranh nhằm thực hiện kế hoạch đó có trở thành một nhân tố chủ đạo của tiến trình lịch sử. Thành quả trên thực tế bao giờ cũng sẽ khác rất xa so với bản thiết kế trên tinh thần của lí tính. Nó luôn là kết quả của cấu hình tạm thời của những lực lượng đối kháng. Hơn thế nữa, không có một điều kiện ngoại cảnh nào có thể bảo đảm cho thành quả của một kế hoạch có lí tính giữ được hình thức một cấu trúc ổn định; bởi vì, thế cân bằng giữa các lực lượng luôn có chiều hướng thay đổi. Mọi kiến tạo xã hội, dù có kiêu hãnh đến đâu với tính hiện thực và tính khoa học của nó, cũng đều phải chịu chung số phận bi đát của một giấc mơ không tưởng.

Nhà sử luận hẳn sẽ còn nói tiếp: tới giờ này, các luận cứ đưa ra đều nhằm chống lại khả năng thực tiễn của việc kiến tạo xã hội dựa vào một ngành khoa học xã hội lí thuyết nhất định nào đó, nhưng không chống lại ý niệm về bản thân một thứ khoa học như vậy. Tuy nhiên, có thể mở rộng những luận cứ ấy để chứng minh rằng không thể có một thứ khoa học xã hội lí thuyết mang tính công nghệ. Như chúng ta đã thấy, những dự án mạo hiểm nhằm kiến tạo xã hội đã phải gánh chịu số phận thất bại cay đắng do chính những thực kiện và định luật xã hội học quan trọng đưa lại. Nhưng điều đó không chỉ hàm ý rằng một dự án như vậy là không có giá trị thực tiễn, mà về mặt lí thuyết nó cũng hoàn toàn thiếu căn cứ, vì lẽ đã không tính đến những định luật duy nhất có thực của xã hội - những định luật phát triển. Cái thứ “khoa học” mà người ta chọn để dựa vào hẳn cũng không bao hàm những định luật đó, vì nếu không nó đã chẳng bao giờ được lấy làm cơ sở cho những kiến tạo phi hiện thực đến như vậy. Mọi thứ khoa học không đưa ra được một lời chỉ giáo nào về sự bất khả của việc xây dựng xã hội dựa trên lí tính đều là những thứ khoa học hoàn toàn mù loà trước những thực kiện quan trọng nhất của đời sống xã hội, và hẳn phải thờ ơ trước những định luật duy nhất có giá trị hiệu lực và quan trọng của xã hội. Do đó, những ngành khoa học xã hội đang tìm cách cung cấp một chỗ dựa cho sự kiến tạo xã hội không thể mô tả các thực kiện xã hội một cách trung thực. Ngay tự bản thân chúng đã là bất khả.

Nhà sử luận sẽ tuyên bố rằng, bên cạnh ý kiến phê phán mang tính quyết định này còn có những lí do khác nhằm bác bỏ một thứ xã hội học công nghệ. Chẳng hạn, một trong những lí do đó là: những bộ môn xã hội học mang tính công nghệ đã hờ hững trước sự nổi hiện của cái mới mẻ với tư cách là một trong những diện mạo của sự phát triển xã hội. Ý tưởng xây dựng những cấu trúc xã hội mới một cách có lí tính dựa trên cơ sở khoa học hàm ý rằng chúng ta có thể kiến thiết một giai đoạn xã hội mới ít nhiều khớp với kế hoạch đã định. Thế nhưng nếu kế hoạch được vạch ra trên cơ sở một khoa học bao quát được các thực kiện xã hội, thì chỉ do tính mới lạ trong cách sắp xếp, kế hoạch đó lại không thể bao hàm những đặc tính mới về bản chất (xem mục 3). Nhưng ta biết rằng một giai đoạn mới sẽ phải có sự mới lạ của riêng nó xét về bản chất - chỉ một lí lẽ đó thôi cũng đủ khiến mọi kế hoạch chi tiết trờ nên phù phiếm, và mọi khoa học mà nó dựa vào trở nên sai lạc.

Những nhận định của thuyết sử luận trên có thể được áp dụng cho mọi ngành khoa học xã hội, kể cả kinh tế học. Do vậy, kinh tế học không thể cung cấp cho ta bất cứ thông tin có giá trị nào về cải cách xã hội. Chỉ một thứ khoa học kinh tế giả tạo mới tìm cách xây dựng cơ sờ cho việc lập kế hoạch kinh tế trên tinh thần của lí tính. Kinh tế học khoa học đích thực chỉ có thể giúp khám phá những động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế trong các thời kì lịch sử khác nhau mà thôi. Nó có khả năng giúp ta phác họa những nét chính của những giai đoạn sắp tới chứ không thể giúp ta triển khai và thực hiện bất cứ kế hoạch chi tiết nào đối với một thời kì mới. Những gì đúng với các bộ môn khoa học xã hội khác đều đúng với kinh tế học. Mục đích tối hậu của nó chỉ có thể là “bóc trần định luật kinh tế của sự vận động của xã hội loại người” (Marx).

Nguyên tác: The poverty of historicism, Karl Popper (Routledge, 1974)

Bản dịch: NXB Tri thức, Chu Lan Đình dịch.