Khảo luận thứ hai về chính quyền - Chương 8: Về sự khởi đầu của xã hội chính trị
§95. Con người, như đã nói, theo tự nhiên, tất cả đều tự do, bình đẳng và độc lập, không một ai có thể bị đưa ra khỏi tình trạng này và phải khuất phục trước quyền lực chính trị của người khác mà không có sự chấp thuận của chính người bị đặt ra. Cách duy nhất mà theo đó một người tước bỏ của chính mình quyền tự do tự nhiên và gắn với những ràng buộc của xã hội dân sự, là bằng sự đồng thuận với những người khác để cùng liên kết và hợp nhất trong một cộng đồng, vì cuộc sống tiện lợi, an toàn và thanh bình giữa họ với nhau, trong sự thụ hưởng một cách bảo đảm đối với sở hữu của họ, và một sự an ninh lớn hơn [trước đây, trong trạng thái tự nhiên] để chống lại bất cứ thứ gì không thuộc về điều đó. Bất kỳ thành viên nào của loài người cũng có thể thực hiện điều này, vì nó không gây phương hại đến tự do của những người còn lại; có thể nói, [khi hành động như vậy,] họ được để lại trong sự tự do của trạng thái tự nhiên. Khi có một lượng bất kỳ nào của loài người đã chấp thuận việc xây dựng một cộng đồng hay chính quyền, họ vì thế mà tức khắc hợp thành tổ chức và làm nên một cơ thể chính trị, nơi mà đa số có quyền hành động và quyết định so với những người còn lại.
§96. Khi có một lượng người bất kỳ - do sự chấp thuận của mỗi cá nhân - làm nên một cộng đồng, họ vì thế cũng đã tạo cho cộng đồng đó một cơ quan có quyền lực để hành động - với tư cách là một cơ thể chung, theo chính ý chí và quyết định của đa số. Vì hành động của bất kỳ cộng đồng nào đều chỉ là sự chấp thuận của các cá nhân trong đó, và sự chấp thuận này là điều nhất thiết có để một cơ quan chung vận động thuận chiều, nên nhất thiết là cơ quan đó cần phải vận động trên con đường đi đến nơi có một sức mạnh lớn hơn, là nơi của sự chấp thuận của đa số; còn nếu khác đi, sẽ là bất khả để nó có thể hành động hay duy trì như một cơ thể chung, một cộng đồng mà sự chấp thuận của các cá nhân hợp thành nó đã đồng ý rằng nó cần phải vậy; vì thế mỗi người bị ràng buộc bởi sự một chấp thuận được quyết định bằng đa số. Và do đó, chúng ta thấy rằng trong các hội đồng được các luật xác thực trao quyền hành động, nơi không một con số [cụ thể] nào được quy định từ luật xác thực đã trao quyền cho họ đó, hành động của đa số được coi là hành động của toàn thể, và tất nhiên nó quyết định - như đã có, bằng luật tự nhiên và lý trí - quyền lực của toàn thể.
§97. Và như thế, mỗi người, bằng sự đồng thuân với người khác để làm nên một cơ thể chính trị,
dưới một chính quyền, cũng đặt chính mình vào một nghĩa vụ, để mỗi người trong xã hội đó, phục tùng quyết nghị của đa số và được quyết định từ quyết nghị đó; nếu không, cái giao ước gốc mà theo đó anh ta cùng với người khác hợp thành tổ chức trong một xã hội sẽ không biểu thị nên gì cả, và không hề là giao ước gì nếu anh ta được để mặc cho tự do và không gắn với một ràng buộc nào khác hơn là điều anh có trước đây trong trạng thái tự nhiên. Một giao ước nào đó hiện diện là còn cho điều gì nữa chứ? Có sự gắn kết mới nào không, nếu anh ta không bị ràng buộc bởi những sắc lệnh của xã hội hơn là chính anh ta nghĩ là thích hợp và đã thật sự chấp thuận nó? Đây vẫn sẽ là một quyền tự do to lớn như chính anh ta trước khi có giao ước của anh hay bất kỳ ai khác trong trạng thái tự nhiên đã có, vốn chỉ có thể phục tùng chính mình và chấp thuận đối với hành động bất kỳ nào nếu anh ta cho là thích hợp.
§98. Vì nếu sự chấp thuận của đa số, về lý lẽ, không được tiếp nhận như hành động của toàn thể và quyết định đối với mỗi cá nhân, thì không có gì ngoài sự chấp thuận từ mỗi cá nhân có thể khiến cho một việc bất kỳ trở thành hành động của toàn thể. [N]hưng một sự chấp thuận như vậy cũng gần như không thể xảy ra được nếu chúng ta xét đến sự yếu ớt trong sức khỏe, tính lặt vặt trong công việc ở một lượng người, dù ít hơn nhiều so với một cộng đồng quốc gia, sẽ tất yếu khiến nhiều người phải đứng xa khỏi cái hội đồng chung đó. [N]ếu chúng
ta thêm vào đó tính đa dạng về quan điểm và tính mâu thuẫn trong quyền lợi, vốn không thể tránh khỏi ở mọi tập thể người, thì việc bước vào xã hội trên cơ sở những điều kiện như vậy sẽ chỉ như việc Cato bước vào hý viện cũng chỉ là để lại bước ra⁴⁷. Một hiến chế như thế này sẽ khiến cho Leviathan hùng mạnh⁴⁸ có thời hiệu ngắn ngủi hơn cả những sinh vật yếu đuối nhất, và không cho nó tồn tại quá cái ngày mà nó được sinh ra. [Đ]ó là điều không thể giả định được cho đến khi chúng ta có thể nghĩ rằng các sinh vật lý trí mong muốn và thiết lập nên xã hội chỉ là để cho nó bị tan rã; vì nơi mà đa số không thể quyết định so với phần còn lại, nơi đó họ không thể hành động với tư cách một cơ thể chung, và do đó sẽ lại lập tức tan rã.
§99. Vì thế mà bất cứ ai ra khỏi trạng thái tự nhiên và hợp nhất vào một cộng đồng phải nhận
Dưới đây là phần tiếp theo của văn bản được trích xuất đầy đủ và chính xác từ hình ảnh mới của bạn:
thức được việc từ bỏ mọi quyền lực, một cách nhất thiết, cho những mục đích mà vì đó họ đã hợp thành xã hội, tạo nên đa số của cộng đồng, trừ khi là họ đã đồng ý một cách hoàn toàn rõ rệt với một số lượng còn lớn hơn phe đa số [về những điều không phải như thế]. Và điều này được thực hiện bằng sự đồng ý vừa đủ để hợp nhất trong một xã hội chính trị, cái vốn là, hoặc cần phải là, tất cả những gì mà giao ước xã hội mang trong nó ý nghĩa, giữa các cá nhân gia nhập vào đó, tức là làm nên một cộng đồng quốc gia. Và vì thế, những người đã khởi sự và thật sự thiết lập nên một xã hội chính trị, là không có gì khác ngoài sự đồng thuận của một lượng người tự do mang năng lực của một đa số, để hợp nhất và hợp thành trong một xã hội như vậy. Và đây là điều mà - và chỉ điều này - đã đem lại sự khởi đầu, hoặc có khả năng đem lại sự khởi đầu cho bất kỳ một chính quyền hợp pháp nào trên thế giới này.
§100. Với điều này, tôi nhận thấy đã có hai phản đối.
Phản đối thứ nhất, là không một trường hợp cụ thể nào được tìm thấy trong câu chuyện về một tổ chức chung của những người độc lập và bình đẳng với nhau, đáp ứng được cho nhau, và bằng cách này mà khởi đầu và dựng lên một chính quyền.
Phản đối thứ hai, việc người ta thực hiện như thế là điều không thể đúng được, vì mọi người đều được sinh ra dưới một chính quyền [có sẵn], họ phải phục tùng nó và không được tự tiện khởi sinh một chính quyền mới.
§101. Đối với ý kiến thứ nhất, đây là câu trả lời: không có gì đáng ngạc nhiên khi lịch sử chỉ đem lại cho chúng ta rất ít lý giải về những con người đã sống cùng với nhau trong trạng thái tự nhiên. Sự phiền phức của tình trạng này, cùng tình yêu và sự mong muốn dành cho một trạng thái xã hội đã không hề đem họ lại với nhau sớm hơn, nhưng họ đã lập tức hợp nhất và hợp thành tổ chức nếu có ý định tiếp tục cùng sống với nhau như thế. Và nếu chúng ta không thể giả định con người từng sống trong một trạng thái tự nhiên vì chúng ta không biết được nhiều về họ trong trạng thái như vậy, chúng ta cũng có thể giả định rằng các đội quân của Salmanasser⁴⁹ hay Xerxes⁵⁰ không bao giờ là trẻ em, vì chúng ta biết ít về họ, cho đến khi họ là những người đàn ông và hiện diện trong quân đội. Chính quyền có ở mọi nơi trước khi có những ghi chép, còn chữ nghĩa thì hiếm khi đi vào dân chúng cho đến khi sự tồn tại dài lâu của xã hội dân sự, bằng nhiều tài nghệ cần thiết khác nữa, đem lại cho họ sự an toàn, thoải mái và sung túc. Và rồi họ bắt đầu để ý đến lịch sử về những người sáng lập nên xã hội của họ, tìm kiếm sâu vào nguồn gốc của nó, khi họ
sống lâu hơn ký ức về nó. Vì cùng với cộng đồng quốc gia, với tư cách những con người cụ thể, họ thường không biết về việc ra đời và thời thơ ấu của chính mình, và nếu họ biết gì đó về nguồn gốc này, họ phải mang ơn những ghi chép ngẫu nhiên mà người khác đã lưu giữ lại. Và những gì mà chúng ta có về sự khởi đầu của bất kỳ xã hội chính trị nào trên thế giới này - trừ xã hội của người Do Thái, nơi mà Thượng đế đã trực tiếp can thiệp vào⁵¹ và không hề có sự thống trị gia trưởng - là tất cả những trường hợp rõ rệt về sự khởi đầu như chúng ta đã đề cập, hoặc ít ra là có những bước hiển nhiên về sự khởi đầu đó.
§102. Người có ý kiến này hẳn cho thấy một hướng lạ lùng khi từ chối một vấn đề thực tế rành rành, vì nó không nhất trí với giả thuyết của ông ta. [Ô]ng sẽ không cho phép, rằng khởi đầu của Rome⁵² và Venice⁵³ là từ sự hợp nhất của một số người tự do và độc lập với nhau, mà giữa họ vốn không có sự ưu việt hay sự khuất phục đương nhiên nào. Và nếu ngôn từ của Josephus Acosta⁵⁴ có thể nắm bắt được, ông nói với chúng ta rằng trong nhiều vùng ở châu Mỹ không có một chính quyền nào cả. Có những phỏng đoán rất có giá trị và hiển nhiên, ông nói, rằng những người này, ý đang nói về những người ở Peru, trong một thời gian dài đã không có nhà vua mà cũng không có cả cộng đồng quốc gia, họ chỉ sống theo đoàn, như hiện nay họ sống ở Florida, như người chức chính trị được gọi là cộng hòa. Cộng hòa Rome (509-31 TCN), với bộ máy quyền lực gồm ba thành phần gần như tương tự một hệ thống phân quyền ngày nay. Chính ở việc có sự kiểm soát quyền lực như thế, đã là điểm lý giải chủ yếu cho sự tồn tại lâu bền hơn rất nhiều so với Athens hay Sparta (xem thêm chú thích tại §105).
Cheriquanas⁵⁵ ở Brasil và nhiều dân tộc khác nữa. [H]ọ không có những ông vua cố định mà chỉ có những người được đề nghị vào vị trí này vào những dịp nào đó, theo thời bình hay thời chiến. [H]ọ chọn người đứng đầu theo như họ muốn. (l. i. c. 25) Dù điều cho rằng mỗi người sinh ra là phục tùng đối với người cha, tức là người đứng đầu của gia đình mình, rằng sự phục tùng của con đối với cha không lấy mất của anh ta sự tự do trong việc hợp nhất vào xã hội chính trị nào mà anh cho là thích hợp, đã được chứng minh; thì điều hiển nhiên là những con người này đã thật sự tự do [chứ không phải là phục tùng, khi hợp nhất vào một xã hội], và bất cứ sự ưu việt nào mà một số chính trị gia nay gắn vào cho mình - nhưng chỉ từ sự chấp thuận, thì chính họ đã khẳng định là không phải tất cả là bình đẳng, cho đến khi, cũng bằng sự chấp thuận đó, họ đặt nhà cai trị lên trên chính họ. Đến độ là các xã hội chính trị của họ tất thảy đều bắt đầu từ một liên hợp tự nguyện và từ thỏa thuận chung của những người có hành động tự do, trong việc chọn lựa người cai quản mình cũng như lựa chọn hình thức của chính quyền.
§103. Và tôi hy vọng những người đã rời khỏi Sparta⁵⁶ cùng với Palantus⁵⁷, được Justin⁵⁸ đề cập đến (l. iii. c. 4), sẽ được phép là những người tự do và độc lập với nhau, được phép dựng lên một chính quyền đặt trên họ, từ sự chấp thuận của chính họ. Vì thế tôi đã đưa một vài ví dụ ngoài lịch sử về những người tự do và trong trạng thái tự nhiên chấp nhận nhau, hợp thành tổ chức và khởi đầu một cộng đồng quốc gia. Và nếu cái ý muốn xem những minh họa như vậy là một lập luận để chứng minh rằng chính quyền đã không, mà cũng không thể được khởi đầu như thế, thì tôi cho rằng các đối thủ của đế chế gia trưởng tốt hơn hết là cứ để mặc nó đó, hơn là khiến cho nó chống lại quyền tự do tự nhiên. [V]ì nếu họ có thể cho rất nhiều minh họa ngoài lịch sử, về những chính quyền đã khởi đầu dựa trên quyền gia trưởng, thì (dù điều tốt nhất của một lập luận là từ cái đã là đến cái cần đúng là, cũng không có một sức mạnh lớn) tôi nghĩ là không có nguy hiểm lớn nào cho một người chịu nhận chúng là nguyên nhân. Nhưng nếu có thể đưa lời khuyên trong trường hợp này, tôi nghĩ tốt hơn họ đừng tìm kiếm quá sâu vào nguồn gốc của chính quyền, như nó đã khởi đầu trên thực tế, vì e rằng họ sẽ phải nhận thấy, tại nền tảng của hầu hết các chính quyền, một điều gì đó rất ít hứa hẹn cho ý đồ mà họ thúc đẩy và cho một loại quyền lực mà họ đấu tranh vì nó.
§104. Nhưng để kết luận, lý lẽ về phía chúng ta là rõ ràng, rằng con người vốn mặc nhiên tự do và những dẫn chứng của lịch sử cho thấy rằng các chính quyền trên thế giới này đã được khởi sự trong hòa bình, và sự khởi đầu của nó là trên nền tảng này, được dựng nên từ sự chấp thuận của nhân dân. Có ít điểm để có thể nghi ngờ, rằng đâu là điều đúng đắn, hoặc đâu là quan niệm hay thực tế của loài người về việc xây dựng ở buổi ban đầu để tạo nên chính quyền.
§105. Tôi sẽ không phủ nhận, rằng nếu nhìn ngược về lịch sử, trong chừng mực mà nó hướng chúng ta về đến cội nguồn của cộng đồng quốc gia, thì nói chung chúng ta sẽ nhận thấy là nó đặt dưới chính quyền và sự điều hành của một người. Và tôi cũng thường hay tin rằng nơi nào mà một gia đình đủ số lượng để tự tồn tại và cùng nhau duy trì tổng thể, không có sự pha trộn với những người bên ngoài như vẫn thường diễn ra, nơi nào có nhiều đất mà ít người, thì nơi đó chính quyền thường khởi sự từ người cha. [V]ì người cha, theo luật tự nhiên, có cùng loại quyền lực mà mọi người khác cũng có để trừng phạt, như ông nghĩ là thích hợp, trước bất kỳ xâm phạm nào đối với luật pháp, hầu có thể theo đó mà trừng phạt con cái vi phạm, ngay cả khi họ đã lớn và đã ra khỏi thời kỳ giám hộ; và họ chắc rằng sẽ phục tùng sự trừng phạt của ông, [R]ồi thì đến lượt họ cũng sẽ hoàn toàn liên kết với ông để chống lại những vi phạm khác, từ đó mà trao cho ông quyền lực để thực hiện bản án của ông nhằm chống lại bất kỳ sự vi phạm nào, và do đó, thực tế đã biến ông thành người định ra luật pháp và người cai quản tất cả những người khác, chung với gia đình ông. Ông là người thích hợp nhất để được uỷ thác, tình cảm gia trưởng bảo đảm cho sở hữu và quyền lợi của họ dưới sự trông nom của ông, và thói quen tuân lệnh ông trong thời thơ ấu của họ khiến dễ dàng có sự phục tùng đối với ông hơn là đối với bất kỳ ai khác. Vì thế, nếu mà họ phải có một người để cai trị mình, với tư cách một chính quyền, như là điều khó tránh khỏi giữa những con người đang cùng sống với nhau, thì ai là người có nhiều khả năng để trở thành người đó hơn là cha chung của họ, trừ khi sự cẩu thả, tính hung ác, hay bất kỳ khiếm khuyết nào khác về tinh thần hoặc thể xác đã khiến ông không thích hợp cho điều đó? Nhưng khi, hoặc là người cha chết đi và để lại
người thừa kế của ông, do sự yếu kém về tuổi tác, thiếu vắng sự uyên thâm, can đảm, hay bất kỳ phẩm chất nào khác, nên ít thích hợp cho việc cai trị; hoặc là ở nơi nào mà một số gia đình gặp gỡ và đồng ý tiếp tục cùng sống với nhau, thì ở đó, không thể nghi ngờ, họ chỉ làm cái việc là sử dụng sự tự do mặc nhiên của họ để dựng lên một người mà họ đánh giá là có năng lực nhất và có nhiều khả năng nhất để đặt một sự cai trị tốt lên họ. Thích hợp để nói thêm ở đây, đó là ta thấy người dân châu Mỹ - vốn sống ngoài tầm với của thanh gươm xâm lược và sự thống trị trải rộng của hai đế chế lớn là Peru và Mexico - họ hưởng thụ sự tự do tự nhiên của riêng mình dù họ thường ưu ái người thừa kế của vị vua quá cố của họ, cæteris paribus⁵⁹, nhưng nếu nhận thấy ở người này bất kỳ sự yếu kém hay bất tài nào, họ sẽ bỏ qua anh ta và đưa một người quả quyết nhất và dũng cảm nhất lên làm người cai trị của họ.
§106. Vì thế, dù việc nhìn lại những ghi chép xưa có thể đem lại cho chúng ta giải thích nào đó về việc định hình cư dân trên thế giới và lịch sử các dân tộc, ta thường thấy là chính quyền nằm trong tay một người; nhưng như thế không làm mất đi hiệu lực đối với điều chúng ta khẳng định, tức sự khởi đầu của xã hội chính trị phụ thuộc vào sự chấp thuận của các cá nhân, để làm nên và liên kết trong một xã hội. [K]hi đã hợp nhất thành tổ chức từ đó, họ có thể dựng lên hình thức nào của chính quyền mà họ cho là thích hợp. Nhưng điều này đem lại cho người ta cơ hội để mắc sai lầm và nghĩ rằng theo lẽ đương nhiên, chính quyền là một chế độ quân chủ và thuộc về người cha. [C]ó lẽ không phải là không thích hợp khi xem xét ở đây, rằng tại sao nhân dân, vào lúc khởi đầu, nói chung đã sinh sống cùng với hình thức chính quyền này, là cái mà dù sự vượt trội nơi người cha có thể theo định chế ban đầu của cộng đồng quốc gia nào đó mà nổi lên, và vào lúc khởi đầu đã đặt quyền lực vào tay một người, thì rõ ràng là nguyên nhân do khiến duy trì hình thức chính quyền [mà quyền lực] trong tay một cá thể, là đã không kính trọng hay tôn trọng đối với thẩm quyền gia trưởng, vì tất cả các nền tiểu quân chủ, cũng tức là hầu hết các nền quân chủ, gần như khởi nguồn của chúng thường là bầu chọn, ít ra là khi có dịp.
§107. Vậy thì trước tiên, lúc khởi sự mọi điều, sự cai quản của người cha vào thời thơ ấu của những người mà nhờ có ông họ sinh trưởng nên, đã làm họ quen với sự cai trị của một người, và dạy cho họ rằng ở nơi mà điều này được thực hiện bằng sự chăm lo và khéo léo, bằng tình cảm và yêu thương dành cho những con người sống trong đó, là đã đủ cho việc tạo nên và bảo toàn cho mọi người một niềm hạnh phúc chính trị mà họ tìm kiếm trong cuộc sống xã hội. Không gì phải ngạc nhiên, rằng họ sẽ sinh sống nơi đó và hòa hợp một cách tự nhiên với hình thức chính quyền mà từ thời còn ẵm ngửa họ đã hoàn toàn quen thuộc, và cũng là chính thể mà bằng trải nghiệm họ đã tìm thấy cả sự thoải mái và an toàn. Với điều này, nếu chúng ta thêm vào, rằng chế độ quân chủ tồn tại một cách đơn giản và hoàn toàn hiển nhiên đối với tất cả những người vốn không có những trải nghiệm được truyền thụ dưới nhiều chính thể khác nhau, mà cũng không có tham vọng hay sự xấc láo mà đế chế đã dạy, để cảnh giác về sự xâm phạm và lạm dụng của đặc quyền hành động hay những phiền phức của quyền lực chuyên chế, loại quyền lực mà chế độ quân chủ vẫn thường liên tục tuyên bố và tạo ra; thì không hề có gì lạ lùng ở điều là họ sẽ không tạo nhiều rắc rối cho bản thân khi nghĩ đến phương pháp để kiềm giữ bất kỳ sự thái quá nào của những người mà họ đã trao cho thẩm quyền đứng lên trên họ, và phương pháp để cân bằng quyền lực của nhà nước, bằng cách đặt những bộ phận khác nhau của nó vào những bàn tay khác nhau. Họ đã chưa cảm nhận sự áp bức của nền thống trị bạo ngược, chưa cảm nhận kiểu cách của thời đại, cũng chưa cảm nhận về tài sản hay lối sống của họ (vốn chỉ có thể chịu đựng không nhiều sự tham lam và tham vọng) như là những điều cho họ lý do để e sợ hay là chuẩn bị để chống lại quyền lực đó. [V]ì là do vậy, không ngạc nhiên khi tự họ đặt mình vào một hệ thống chính quyền như vậy, vì không chỉ là, như tôi đã nói, hoàn toàn hiển nhiên và đơn giản, mà còn là thích hợp nhất cho trạng thái và điều kiện hiện tại
của họ, vốn còn nhiều nhu cầu về phòng vệ chống lại sự xâm lược và gây hại của nước ngoài, hơn là của nhu cầu về tính đa lượng của luật pháp. Sự đồng đều của một lối sống nghèo nàn, đơn giản, việc giam hãm các mong ước trong những giới hạn chật hẹp của sở hữu nhỏ bé nơi mỗi con người đã tạo nên ít tranh chấp, và vì thế không cần phải có nhiều luật để giải quyết hay nhiều loại quan chức để giám sát tiến trình này, tức là không cần phải chú trọng vào việc thực thi công lý ở nơi mà chỉ có ít những xâm phạm và tội phạm. Rồi thì từ đây, những con người cùng muốn gia nhập vào xã hội, không thể có gì khác hơn ngoài việc được giả định là có sự quen biết và tình bạn nào đó với nhau, một sự tin tưởng lẫn nhau, họ không thể có gì khác ngoài những e sợ đối với những người khác hơn là giữa họ với nhau, và vì thế sự quan tâm và suy nghĩ của họ không thể khác với việc được cho là nhắm đến cách thức nhằm bảo vệ chính họ chống lại sức mạnh ngoại bang. Là điều tự nhiên khi họ tự đặt mình dưới một hệ thống chính quyền có thể phục vụ tốt nhất cho mục đích này, và chọn lấy người thông thái nhất và dũng cảm nhất để chỉ huy họ trong chiến tranh và lãnh đạo họ chống lại kẻ thù; và chủ yếu trong tình trạng này, đây là người cai trị của họ.
§108. Vì thế mà ta thấy rằng các vị vua của người Indian ở châu Mỹ, vốn còn là một hình mẫu ở châu Á và châu Âu vào những thời kỳ đầu tiên, khi mà cư dân còn rất ít trên một đất nước, khi sự thiếu thốn
con người và tiền bạc không đem lại cho người ta sự cám dỗ để bành trướng đất đai chiếm hữu của họ hay tranh giành để mở rộng hơn một phần đất, so với các tướng lĩnh quân đội của họ. [V]à dù các tướng lĩnh ra lệnh tuyệt đối trong chiến tranh, nhưng ở nhà và trong thời bình họ thực hiện rất ít quyền thống trị và cũng chỉ có một quyền tối cao rất vừa phải, những quyết nghị về chiến tranh và hoà bình thường được đưa ra hoặc từ nhân dân hoặc từ một hội đồng. Nhưng cho dù ở chính cuộc chiến tranh mà không phải là từ những người cai quản vốn không chiếm số đông đó, quyền chỉ huy vẫn được chuyển giao một cách đương nhiên vào thẩm quyền duy nhất của nhà vua.
§ 109. Và như thế, ở ngay Israel, công việc chính của các phán quan và các vị vua đầu tiên dường như là làm người chỉ huy trong chiến tranh và là người lãnh đạo quân đội, điều mà (bên cạnh cái được biểu thị bởi quyền bước vào và bước ra trước khi người dân bước theo, khi hành quân ra chiến trận và trở lại quê nhà với vị trí là người đầu lĩnh lực lượng của họ) xem ra là rõ ràng trong câu chuyện về Jephthah. Người Ammon⁶⁰ tiến hành chiến tranh chống Israel, những người thuộc gia tộc Gilead⁶¹ được phái đến gặp Jephthah trong sợ hãi đối với người con hoang của gia đình mà họ đã từ bỏ, và thỏa thuận rằng nếu ông trợ giúp chống lại người Ammon, họ sẽ đưa ông lên làm người cai trị của họ, là điều họ đã giữ lời. Và nhân dân đã đưa ông lên làm người đầu lĩnh và chỉ huy của họ (Judg. xi. 11), nhiệm vụ giống như người phân xử. Và ông đã phán xét Israel (Judg. xii. 7) - tức ông đã là người tổng chỉ huy của họ - trong sáu năm. Vì thế khi Jotham quở trách người dân Shechem về nghĩa vụ của họ đối với Gideon⁶² - người đã là phán quan và nhà cai trị của họ - ông nói rằng: Người đã chiến đấu vì các ngươi, đã quá liều mạng và đã cứu các ngươi khỏi tay người Midian⁶³" (Judg. ix. 17). Không có gì được đề cập về ông ngoài việc ông là một vị tướng, và thật sự đó là tất cả những gì được tìm thấy về lịch sử của ông hay về bất kỳ phán quan nào khác còn lại. Còn Abimelech đặc biệt được gọi là vua dù hầu như ông chỉ là vị tướng của họ.
[V]à rồi, khi chán ngán trước sự điều hành yếu kém của các con của Samuel⁶⁴, con cái của người Israel mong ước có một vị vua giống như mọi dân tộc khác, để phân xử cho họ, để bước đi trước họ, và để chiến đấu trong những trận chiến của họ (i Sam. viii. 20)⁶⁵. Thượng đế ban cho mong ước của họ, phán bảo với Samuel: Ta sẽ phái cho con một người, và con sẽ tấn phong cho người này trở thành chỉ huy của dân Israel, để người này có thể cứu giúp con dân của ta thoát khỏi tay người Philistine⁶⁶ (ch. ix. 16). Như thế công việc duy nhất của một vị vua là dẫn dắt quân đội và chiến đấu cùng họ, do vậy Samuel, khi phong vương, đổ lọ dầu thánh lên Saul⁶⁷ và tuyên rằng: Chúa trời đã phong cho người này làm chỉ huy đối với những gì hắn thừa hưởng (ch. x. 1). Và vì thế sau khi Saul trở thành vị vua được chọn và được chào đón một cách long trọng từ các bộ tộc tại Mispah, những người miễn cưỡng xem ông là vua của họ đã không có sự phản đối nào ngoài điều này: Người này sẽ cứu giúp chúng ta bằng cách nào? (ch. x. 27), giống như là họ nói: người này không thích hợp để làm vua của chúng ta, không có đủ tài nghệ và tài chỉ đạo chiến tranh để có thể bảo vệ chúng ta. Và khi Thượng đế quyết định chuyển chính quyền về cho David, thì có những lời này: Nhưng bây giờ thì vương quốc của ngươi sẽ không còn: Chúa trời đã tìm kiếm cho ngài một con người theo chính con tim của ngài, và Chúa trời đã ban lệnh cho hắn làm chỉ huy đối với con dân của ngài (ch. xiii. 14). Cứ như là toàn bộ thẩm quyền vua chúa không là gì khác ngoài làm vị tướng cho họ, và vì thế những bộ tộc nào đã bám vào dòng họ Saul và chống lại vương quyền của David, khi đến Hebron với những điều kiện buộc họ phục tùng, họ nói với ông - cùng với những lời lẽ khác, rằng họ đã phải phục tùng ông như một vị vua, rằng ông thực tế đã là vua của họ trong thời của Saul, vì thế họ nay không có lý lẽ gì ngoài việc chấp nhận ông như là vua của họ. Họ nói: Cũng trong quá khứ, khi Saul là vua của chúng tôi, ngài đã ở bên ngoài và được mang vào Israel, và Chúa trời đã nói với ngài, “ngươi phải nuôi đấng con dân Israel của ta, và ngươi sẽ là người chỉ huy của Israel”.
§110. Vì thế, có thể là một gia tộc dần dần tăng trưởng thêm trong cộng đồng quốc gia và thẩm quyền của người cha tiếp tục đặt lên người con đã lớn, đến lượt những người đang lớn lên dưới thẩm quyền này cũng ngầm phục tùng nó. [S]ự thanh thản và đều như nhau trong phục tùng không làm mất lòng ai, mọi người đều mặc nhiên thừa nhận, đến khi thời gian dường như chứng thực cho nó và cố định quyền kế vị bằng sự quy định bắt buộc. [H]oặc có thể là một số gia tộc hay con cháu của một số gia tộc mà sự ngẫu nhiên, quan hệ láng giềng hay công việc đã mang họ lại với nhau, hợp nhất thành xã hội, có nhu cầu về một vị tướng có khả năng điều hành để bảo vệ họ chống lại kẻ thù trong chiến tranh. [V]à sự tin tưởng tuyệt vời được trao vào nhau giữa những con người vô hại và thật thà của thời đại nghèo nàn nhưng đức hạnh đó (như có ở hầu hết những con người đã khởi đầu các chính quyền từng tồn tại trên thế giới này), nói chung đã khiến những người khởi sự đầu tiên của các cộng đồng quốc gia đặt quyền cai trị vào tay một người, mà không có bất kỳ giới hạn hay kiềm chế rõ rệt nào ngoài điều tự nhiên của sự việc và mục đích của chính quyền đòi hỏi. [T]rong số những người đầu tiên đã đặt quyền cai trị vào tay một con người duy nhất, chắc rằng không ai được giao phó gì ngoài việc nhắm đến lợi ích và sự an toàn công cộng; đối với những mục đích này, vào thuở ban đầu của cộng đồng quốc gia, người ta đã có được và thường xuyên sử dụng. [V]à nếu họ không thực hiện những mục đích như vậy, các xã hội non trẻ đã không thể tồn tại. Không có sự chăm sóc nhân hậu của những người cha và sự thận trọng của ngọn roi công [quyền], mọi chính quyền sẽ chìm đắm trong sự yếu kém và hom hem của thời trứng nước, cả quân vương và nhân dân sẽ sớm cùng nhau đi đến chỗ diệt vong.
§111. Thời đại hoàng kim⁶⁸ mang nhiều đức hạnh (có trước tham vọng hão huyền và amor sceleratus habendi⁶⁹ - những ham hố xấu xa đã làm suy đồi tâm hồn con người, đưa đến sai lầm trong suy nghĩ về một quyền lực và danh vọng chân chính), và vì thế mà có nhiều nhà cai trị tốt cũng như ít thần dân xấu. [V]à rồi, phía bên này, không có sự nối dài thêm đặc quyền hành động để mà đàn áp nhân dân, và do vậy, phía bên kia, cũng không có tranh cãi về đặc ân để mà giảm bớt hay kiềm chế quyền lực của các quan cai trị⁷⁰; và do đó, không có sự tranh chấp giữa các nhà cai trị với nhân dân về người giữ địa vị cai trị hay về nền cai trị. Nhưng dù vậy, khi tham vọng và sự xa hoa xuất hiện trong những thời đại sau đó - với việc cố giữ lấy và gia tăng quyền lực mà không có sự thực hiện những công việc mà vì đó quyền lực đã được trao ra, đồng thời được trợ giúp bằng sự xu nịnh, đã dạy cho các quân vương có sự phân biệt và tách rời quyền lợi khỏi nhân dân của mình - là lúc người ta nhận thấy nhất thiết phải xem xét cẩn thận hơn về nguồn gốc và các quyền của chính quyền, nhất thiết phải tìm ra những cách thức để kiềm chế những thái quá và ngăn ngừa việc lạm dụng quyền lực, khi mà quyền lực vốn được họ giao phó vào tay của người khác chỉ để có được điều tốt lành cho chính họ nhưng nay lại nhận ra rằng nó đã được dùng để gây phương hại cho họ.
§112. Vì thế, khi mà người dân, vốn mặc nhiên là tự do, bằng sự chấp thuận của chính họ, hoặc là để phục tùng chính quyền của người cha của họ, hoặc là cùng nhau hợp nhất - không có những gia đình khác - để làm nên một chính quyền, thì ta có thể thấy một khả năng rất cao đối với việc nói chung cần đặt quyền cai trị vào tay một người và chọn lựa sống dưới sự điều hành của một cá thể duy nhất, mà không có ngay cả những điều kiện rõ ràng để giới hạn hay điều tiết quyền lực của ông ta, điều mà họ cho là đã đủ an toàn nơi tính lương thiện và sự khôn ngoan của ông; dù họ không bao giờ mơ về một nền quân chủ là cái jure Divino⁷⁰ mà chúng ta không bao giờ nghe đến từ loài người, cho đến khi thần thánh tiết lộ với chúng ta về thời đại cuối cùng này; mà họ cũng không từng cho phép quyền lực gia trưởng cái quyền trở thành quyền thống trị, tức là thành cái làm nền tảng của mọi chính quyền. Và như thế, có thể đã quá đủ để cho thấy rằng khi có sự soi rọi nào đó từ lịch sử, chúng ta có thể kết luận rằng mọi sự hình thành một cách hòa bình của chính quyền đều được đặt trong sự chấp thuận của nhân dân. Tôi nói một cách hòa bình là vì sẽ có dịp để tôi nói ở chỗ khác, về sự chinh phạt mà đôi khi được cho là cách thức để khởi sinh chính quyền.
Còn phản đối thứ hai mà tôi nhận thấy là đã thôi thúc việc chống lại sự hình thành của các thể chế theo cách thức tôi đề cập, là đây:
§113. Mọi người đều sinh ra dưới một chính quyền, không chính quyền này thì chính quyền khác, nên không thể có bất kỳ ai trong số họ từng tự do và tự tiện hợp nhất lại với nhau để khởi sinh một chính quyền mới, hoặc từng tự do để dựng lên một chính quyền hợp pháp.
Nếu lập luận này là đúng, tôi xin hỏi, bằng cách nào mà có quá nhiều chính quyền quân chủ hợp pháp hình thành trên thế giới này? Vì nếu có bất kỳ ai, theo giả thiết này, có thể chỉ cho tôi một ai đó, vào một thời đại nào đó trên thế giới này, đã tự do để khởi đầu một chính quyền quân chủ hợp pháp, thì tôi sẽ phải chỉ cho anh ta thấy mười con người tự do khác cùng lúc đó cũng tự do hợp nhất lại và khởi đầu một chính quyền mới dưới hình thức vương quyền hay bất kỳ hình thức nào khác. Nó chứng minh rằng nếu bất kỳ ai sinh ra dưới quyền thống trị của người khác, thì cũng có thể có chừng ấy tự do như người thống trị để có quyền ra lệnh cho những người không phải mình, trong một đế chế mới và riêng biệt so với đế chế kia, mỗi người sinh ra dưới sự thống trị của người khác cũng đều có thể tự do như thế, cũng có thể trở thành nhà cai trị hay thần dân của một chính quyền tách biệt. Và vì thế, theo nguyên tắc của những người phản đối này thì hoặc là tất cả mọi người sinh ra là tự do, hoặc nếu không thì trên thế giới này chỉ có một quân vương hợp pháp, một chính quyền hợp pháp. Và rồi họ chẳng có gì để làm ngoài việc cho chúng ta thấy điều đó là thế, mà, khi được thực hiện, tôi không nghi ngờ gì ngoài việc cả loài người sẽ dễ dàng đồng ý để tuân phục ông ta.
§114. Dù đó là câu trả lời đầy đủ cho phản đối của họ, để cho thấy rằng nó đưa họ vào cùng những khó khăn gây ra cho những người mà họ dùng nó để chống lại, nhưng tôi sẽ cố gắng khám phá thêm một ít về sự yếu kém của lập luận này.
Mọi người, họ nói, đều sinh ra dưới một chính quyền, và vì thế họ không thể tùy tiện mà khởi sinh một chính quyền mới. Mỗi người sinh ra đã là một thần dân của người cha hay của quân vương của anh ta, và vì thế mà sống trong sự ràng buộc vĩnh viễn của sự khuất phục và trung thành. Rõ ràng là loài người đã không bao giờ thừa nhận mà cũng không xem là có bất kỳ sự phục tùng đương nhiên nào như thế - lúc họ được sinh ra - vào người này hay người khác, để khiến họ bị trói buộc - mà không có sự chấp thuận của chính họ - vào một sự phục tùng đối với những người này và những người thừa kế sau đó.
§115. Không có những hình mẫu nào thật sự thường xuyên hiện diện trong lịch sử - cả ở phạm vi thần thánh lẫn đời sống trần tục - so với những hình mẫu mà con người tự rút ra, cùng với sự tuân phục của họ đối với quyền tài phán mà khi sinh ra họ đã phải đặt dưới nó, hoặc tuân phục đối với gia đình hay cộng đồng mà họ đã được sinh thành và nuôi nấng. [C]òn ở các nơi khác thì có việc dựng lên chính quyền mới, và từ đây đã xuất phát những cộng đồng quốc gia nhỏ vào lúc khởi đầu của các thời đại, và cũng là những nơi luôn được nhân rộng ra miễn là có chỗ cho điều đó; cho đến khi những người mạnh hơn hoặc may mắn hơn nuốt lấy những người yếu kém hơn, và các cộng đồng lớn một lần nữa lại vỡ thành từng mảng, tan rã thành những lãnh địa nhỏ. Tất cả những điều này mang nhiều chứng cứ chống lại quyền tối cao gia trưởng, và chứng minh rõ ràng rằng không phải có một quyền đương nhiên của người cha để truyền lại cho những người thừa kế của ông, là điều đã làm nên chính quyền vào lúc ban đầu, vì sẽ là bất khả khi mà trên mảnh đất đó lại có quá nhiều vương quốc nhỏ. [T]ất cả sẽ phải không là gì ngoài một nền quân chủ hoàn cầu nếu người ta không tùy nghi để tách rời mình khỏi gia đình và chính quyền của họ - điều đã được sắp xếp ngay trong nó - để bước đi và tạo nên những cộng đồng quốc gia tách biệt cùng những chính quyền khác, theo như họ nghĩ là thích hợp.
§116. Đó là thực tế của thế giới này, từ buổi ban đầu khởi phát của nó cho đến nay; và ngày nay nó cũng không hề cản trở đối với tự do của loài người, khi họ sinh ra dưới những chính thể cổ đại và có sự chế định, là cái thiết chế luật pháp và định nên hình thức của chính quyền; so với sự cản trở khi họ được sinh ra trong rừng, giữa những cư dân không bị kiềm chế gì, một tính chất mà nay đã mất đi ở họ. Những người phản đối này sẽ thuyết phục chúng ta, rằng với việc sinh ra dưới một chính quyền, chúng ta vốn dĩ là khuất phục đối với nó, và không có bất kỳ địa vị hay đòi hỏi gì thêm nữa về tự do của trạng thái tự nhiên, không có bất kỳ nguyên do nào khác (ngoại trừ nguyên do về quyền lực gia trưởng, là điều mà chúng ta đã có câu trả lời) tạo ra cho nó ngoài điều chỉ vì cha ông hay tổ tiên của chúng ta đã mất đi quyền tự do mặc nhiên có của họ, và vì thế tự ràng buộc mình và con cháu vào sự khuất phục vĩnh viễn đối với chính quyền mà bản thân họ đã phục tùng. Sự thật là bất kỳ cam kết hay hứa hẹn nào mà một người đã tự hứa, người đó phải có nghĩa vụ thực hiện nó, nhưng không thể bằng giao ước nào đó mà đem ra ràng buộc đối với con cái hay cháu chắt của ông ta. Vì con của người này, khi đã trưởng thành, cũng hoàn toàn tự do như cha, bất kỳ hành động nào của người cha cũng không thể lấy đi quyền tự do của người con nhiều hơn là có thể làm như vậy đối với bất kỳ ai khác. Ông thật sự có thể thêm những điều kiện như thế vào đất đai mà ông đã hưởng với tư cách thần dân của cộng đồng quốc gia, là điều có thể buộc con mình cũng thuộc về cộng đồng đó nếu anh ta sẽ thụ hưởng những tài sản của cha; vì số điền sản này là sở hữu của cha anh, nên ông ta có thể quyết định hay sắp xếp nó theo ý muốn của ông.
§117. Và điều này nói chung đã tạo cơ hội cho sự sai lầm trong vấn đề được nói đến. [D]o cộng đồng quốc gia không cho phép bất kỳ phần nào trong lãnh thổ của họ bị chia cắt, mà cũng không ai bên ngoài cộng đồng được thụ hưởng, nên người con không thể thụ hưởng một cách bình thường những tài sản của cha mình nếu không đặt dưới cùng những điều kiện mà cha của anh đã hưởng được, bằng việc trở thành một thành viên của xã hội, nhờ đó anh nhanh chóng tự đặt mình dưới chính quyền mà anh thấy đã thiết lập ở đó, như bất kỳ thần dân nào khác của cộng đồng này. Và vì thế, sự chấp thuận của những người tự do, sinh ra dưới một chính quyền, vốn chỉ làm cho họ trở thành thành viên của nó, là điều được thực hiện tách rời nhau khi đến lượt của họ, lúc mỗi người đến tuổi trưởng thành, mà không phải là theo cùng một khối đông với nhau. [N]gười dân không lưu ý về sự chấp thuận này và nghĩ rằng nó không được thực hiện gì cả hay là không nhất thiết có, và kết luận rằng họ là những thần dân chịu sự khuất phục một cách đương nhiên, cũng như họ đương nhiên là những con người vậy.
§118. Nhưng, rõ ràng là bản thân chính quyền lại hiểu vấn đề theo cách khác; nó khẳng định không có quyền lực nào bên trên người con vì điều đó nó đã đặt trên người cha, mà cũng không xem những người con như là thần dân của nó, bởi cha của họ đã là thế. Nếu một thần dân của nước Anh có một người con do một phụ nữ Anh sống ở Pháp sinh ra, vậy người con là thần dân của ai? Không phải là của quốc vương nước Anh, vì người con này đã rời bỏ việc nhận được những ân huệ từ đó; mà cũng không phải là của quốc vương nước Pháp, vì cha anh ta có quyền tự do để sau đó đem anh ta ra khỏi đất nước này và nuôi nấng theo ý muốn của mình. Và ai từng có lúc bị phán xử là kẻ phản bội hoặc kẻ đào tẩu nếu anh ta rời khỏi đất nước, hay tệ hơn là chống lại đất nước đó, chỉ vì được sinh ra từ người cha vốn là ngoại tộc so với nơi đây? Vậy thì rõ ràng là, bằng thực tế của chính chính quyền cũng như từ luật của lẽ phải, một đứa trẻ được sinh ra không là thần dân của một đất nước hay chính quyền nào cả. Nó chỉ được đặt dưới sự dạy dỗ và thẩm quyền của người cha của nó, cho đến khi đến tuổi khôn lớn và trở thành một người tự do, tùy nghi mà tự đặt mình dưới loại chính quyền nào, tùy nghi mà tự hợp nhất mình vào một cơ thể chính trị nào. Nếu con của một người Anh sinh ra ở Pháp - ở vào tình trạng tự do như thế - có thể làm như vậy, thì hiển nhiên là không có một trói buộc nào vào anh ta từ việc người cha là một thần dân của vương quốc này, mà anh ta cũng không bị ràng buộc bởi bất kỳ giao ước nào từ tổ tiên của anh. Vậy thì tại sao con trai của anh ta lại không có cùng một quyền tự do như thế, với cùng lý lẽ, dù nó được sinh ra ở bất kỳ nơi nào khác? Vì quyền lực mà một người cha đương nhiên có đối với con cái của mình là cùng một loại ở bất cứ nơi đâu con cái được sinh ra, và những trói buộc của nghĩa vụ tự nhiên không bị ràng buộc bởi những giới hạn do con người đặt ra, từ phía các vương quốc và các cộng đồng quốc gia.
§119. Mỗi con người, như đã được chỉ ra, vốn dĩ là tự do, và không có gì có thể đặt anh ta vào sự phục tùng đối với bất kỳ thứ quyền lực nào, ngoài duy nhất từ sự chấp thuận của chính anh. [C]ần xem xét đâu là điều được hiểu như một tuyên bố đầy đủ về sự chấp thuận của một người, khiến anh ta phục tùng luật pháp của một chính quyền. Có sự khác biệt chung giữa một sự chấp thuận được diễn đạt với một sự chấp thuận ngầm ẩn - cái liên quan đến trường hợp của chúng ta lúc này. Nhưng không ai nghi ngờ gì sự chấp thuận được diễn đạt của một người khi gia nhập vào xã hội, khiến anh ta trở thành một thành viên đầy đủ của xã hội đó, một thần dân của chính quyền đó. Khó khăn ở đây là điều gì cần được xem như một sự chấp thuận ngầm ẩn, và nó ràng buộc đến đâu, tức đến mức độ nào thì một người sẽ được xem là đã chấp thuận và từ đó mà phục tùng đối với cái chính quyền mà anh ta đã không hề có một diễn đạt nào cả về nó. Với điều này tôi xin nói rằng mỗi người, vốn có một tài sản nào đó hay hưởng được một phần từ lãnh thổ của một chính quyền, thì theo đó đã trao ra sự chấp thuận ngầm ẩn của mình và buộc phải tuân thủ luật pháp của chính quyền khi thụ hưởng như thế, ở mức độ giống như bất kỳ ai khác sống dưới chính quyền đó, dù tài sản này là đất đai của anh ta và những người thừa kế mãi mãi hay chỉ tạm thời trong một tuần, hoặc dù nó chỉ là một chuyến đi thoải mái trên đường cái quan; và, trên thực tế, nó với tới tận chính sự tồn tại của bất kỳ ai trong phạm vi lãnh thổ của chính quyền đó.
§120. Để hiểu điều này rõ hơn, cần xem xét rằng mỗi người, vào lúc ban đầu khi kết hợp bản thân mình vào với cộng đồng quốc gia, bằng sự tự hợp nhất này, cũng đã sáp nhập vào cộng đồng và phục tùng nó trong vấn đề về những tài sản mà anh ta có hay sẽ có, vốn không phải đã thuộc về bất kỳ chính quyền khác nào. Sẽ là một mâu thuẫn trực tiếp giữa việc ai đó gia nhập vào xã hội cùng với người khác, vì sự an ninh và việc điều tiết sở hữu, với việc giả định là đất đai của anh ta, vốn là sở hữu được điều tiết bằng luật pháp của xã hội, cần loại trừ ra khỏi quyền tài phán của chính quyền đó, trong khi mà chính anh ta, người chủ sở hữu của khu đất, là một thần dân phục tùng nó. Bởi thế, cùng một hành động mà một người, vốn tự do trước đó, hợp nhất cá nhân mình vào một cộng đồng, và cũng cùng một hành động anh ta hợp nhất tài sản của mình, vốn cũng tự do trước đó, vào cộng đồng; và cả hai đối tượng này, cá nhân và tài sản, trở nên phục tùng đối với chính quyền và quyền thống trị của cộng đồng quốc gia, chừng nào mà nó còn tồn tại. Vì thế mà từ đây, bất cứ ai, bằng việc thừa kế, mua, được cho phép, hay bằng những cách khác, thụ hưởng bất kỳ phần đất nào được sáp nhập vào và đặt dưới chính quyền của cộng đồng quốc gia đó, phải tiếp nhận nó với điều kiện là nó được đặt dưới - tức việc phục tùng - chính quyền của cộng đồng quốc gia, dưới quyền tài phán của nó, ở mức độ như bất kỳ thần dân nào của nó.
§121. Nhưng vì chính quyền có quyền tài phán trực tiếp chỉ trên đất đai, và chạm đến người chủ (trước khi anh ta thật sự kết nạp bản thân mình vào xã hội) chỉ khi anh ta cư ngụ trên đó và thụ hưởng nó, nên nghĩa vụ mà bất cứ ai, do sự thụ hưởng như vậy, đặt dưới sự phục tùng đối với chính quyền, sẽ bắt đầu và kết thúc cùng với sự thụ hưởng này, để khi người chủ - vốn không trao gì cho chính quyền ngoài một sự chấp thuận ngầm ẩn - sẽ, bằng việc tặng, bán, hay bằng cách khác mà tách khỏi phần tài sản được nói đến, anh ta cứ tùy nghi mà đến và tự kết nạp bản thân mình vào bất kỳ cộng đồng quốc gia nào, hoặc đồng ý với người khác trong việc khởi sự một cộng đồng quốc gia mới, in vacuis locis⁷¹, ở bất cứ nơi đâu của thế giới mà họ nhận thấy là không có người choán chỗ và vô chủ. Nhưng ngược lại, một khi anh ta, bằng sự đồng ý trên thực tế và bất kỳ tuyên bố được diễn đạt nào đó, đã trao sự chấp thuận của mình đến một cộng đồng quốc gia, thì vĩnh viễn và hoàn toàn nhất thiết phải - mà cũng không thể thay đổi được - là một thần dân phục tùng nó, và không bao giờ còn có thể lại ở vào sự tự do của trạng thái tự nhiên, trừ khi với một tai họa nào đó, cái chính quyền đặt trên anh ta đi đến chỗ tan rã hoặc bằng một hành động mang tính chất công nào đó khiến cắt lìa anh ta khỏi vai trò thành viên của nó.
§122. Nhưng việc phục tùng luật pháp của một đất nước, sống bình yên và thụ hưởng những ân huệ cùng sự bảo hộ của nó không khiến cho một người trở thành thành viên của xã hội đó; đây chỉ là sự bảo hộ địa phương, sự kính trọng cần có và xuất phát từ những người không sống trong trạng thái chiến tranh, ở những lãnh thổ thuộc chính quyền nào đó, đến tất cả những vùng mà sức mạnh luật pháp của nó vươn tới. Nhưng điều này không tạo nhiều điều kiện hơn để một người trở thành thành viên của xã hội đó, một thần dân vĩnh viễn của cộng đồng quốc gia đó, so với việc nó sẽ làm cho một người trở nên phụ thuộc vào người khác, mà trong gia tộc của người này, anh ta nhận thấy thuận tiện để lưu lại trong một thời gian, dù khi tiếp tục tồn tại trong đó, anh ta buộc phải tuân theo luật pháp và phục tùng chính quyền ở đây. Và vì thế chúng ta thấy là những người ngoại quốc, với việc tất cả đều sống dưới một chính quyền khác và hưởng những ân huệ cùng với sự bảo hộ của nó, dù họ bị ràng buộc, ngay cả bằng lương tâm, phải phục tùng sự cai quản của nó, nhiều như bất kỳ cư dân nào, nhưng không vì thế mà đi đến chỗ trở thành thần dân hay thành viên của cộng đồng quốc gia đó. Không có gì có thể khiến bất kỳ ai phải trở nên như thế ngoài việc gia nhập thật sự của anh ta vào đó, bằng một cam kết xác thực cùng với một lời hứa và giao ước được diễn đạt. Đây là điều mà tôi cho là liên quan đến sự khởi đầu của xã hội chính trị, và sự chấp thuận đó làm cho một người trở thành thành viên của một cộng đồng quốc gia.
⁴⁹ Salmanasser (858-823 TCN): vua người Assyria (vùng lãnh thổ thượng nguồn sông Tigris), người tiếp tục chinh phạt các lân bang trong tiến trình xây dựng đế chế Assyria.
⁵⁰ Xerxes (519?-465 TCN): vua Ba Tư, người tiếp tục thực hiện cuộc chinh phạt lần thứ hai nhắm vào các thành bang Hy Lạp, bị thất bại hoàn toàn vào năm 479 TCN.
⁵¹ Kinh thánh xem Do Thái là dân tộc được Thượng đế chọn để dọn đường cho việc cứu chuộc cả nhân loại.
⁵² Theo truyền thuyết, Rome được khai lập vào năm 753 TCN bởi hoàng tử Aeneas, sau khi rời khỏi Troy (đây là một trong hai người con sinh đôi mà Achilles giao lại thành Troy sau khi chiến thắng, trở thành vị vua đầu tiên của Vương quốc Rome sau khi giết người anh em sinh đôi kia do cãi cọ về quyền trị vì). Theo những bằng chứng khảo cổ, Rome nhiều khả năng được thành lập trong khoảng thế kỷ IX TCN, từ sự định cư của những người đến từ hai bộ tộc thuộc trung phần Italia là Latin và Sabine. Người Etruscan, từ phía bắc miền trung Italia, thiết lập quyền kiểm soát chính trị đối với vùng này từ cuối thế kỷ VII TCN. Năm 509 TCN, sau khi trục xuất người Etruscan, cư dân Rome xây dựng một hình thức tổ
chức chính trị được gọi là cộng hòa. Cộng hòa Rome (509-31 TCN), với bộ máy quyền lực gồm ba thành phần gần như tương tự một hệ thống phân quyền ngày nay. Chính ở việc có sự kiểm soát quyền lực như thế, đã là điểm lý giải chủ yếu cho sự tồn tại lâu bền hơn rất nhiều so với Athens hay Sparta (xem thêm chú thích tại §105).
⁵³ Venice: thành phố gồm nhiều đảo thuộc biển Adriatic, đông bắc Italia ngày nay. Theo truyền thuyết, nơi này hình thành năm 422, từ những người Rome chạy lánh nạn người Goth (tộc người German tiến hành xâm lược đế chế Rome trong thời gian thế kỷ III-V) và dần định hình như một thành bang. Cộng hòa Venice (thế kỷ VIII-XVIII) là một thế lực lớn trên biển trong thời kỳ của những cuộc tập tự chính (thế kỷ XI-XIII), đồng thời là trung tâm thương mại và nghệ thuật quan trọng thời Phục hưng.
⁵⁴ Josephus Acosta (tức José de Acosta, 1540-1600): sử gia người Tây Ban Nha; Natural and Moral History of the Indies (Lịch sử tự nhiên và lịch sử tinh thần của các vùng lãnh thổ Ấn, 1604) của ông là tác phẩm Locke ưa thích, và đoạn được trích ra là từ đây.
⁵⁷ Palantus: một lãnh đạo của Sparta trong thế kỷ VIII TCN, là người sáng lập thành Tarentum.
⁵⁸ Justin: tức Marcus Junianus Justinus (hay Justinus Frontinus), sử gia La Mã vào thế kỷ III. Tác phẩm mà Locke đề cập là Ex Trogi Pompei, historiis, libri xxiii, in năm 1543.
⁶⁰ Ammon: cư dân sống ở bờ đông sông Jordan, có nguồn gốc từ gia tộc của Lot.
⁶¹ Gilead: tên cha của Jephthah (xem chú thích tại §21).
⁶² Gideon là phán quan thứ năm tại Israel, Abimelech là một trong bảy mươi người con của ông (với một tỳ thiếp), lên kế vị sau khi ông mất. Khi đó, Jotham, con út của Gideon, tại núi Gerizim đã đưa ra lời tiên đoán, cảnh báo cư dân Shechem (thủ đô đầu tiên của Vương quốc Israel, ở phía bắc so với Jerusalem) về nền bạo quyền sắp tới của Abimelech. Jotham bị Abimelech ra lệnh bắt giết nhưng trốn thoát được, chạy lánh nạn về Beer. Ba năm sau, khi Shechem có một cuộc nổi loạn, Abimelech đã cho tiêu hủy hoàn toàn thành phố và đốt đền Baal-berith, là nơi người dân chạy vào lánh nạn. Khai quật khảo cổ cho thấy vụ tiêu hủy này xảy ra vào năm 1100 TCN.
⁶³ Midian: con của Abraham (với một tỳ thiếp). Hậu duệ của Midian định cư tại vùng bờ đông sông Jordan và phía đông Biển Chết. Trong thời đại của các phán quan, người Midian, dưới sự lãnh đạo của Oreb và Zeeb đã tấn công vào lãnh thổ Israel, cho đến khi bị Gideon đánh bại.
⁶⁴ Samuel: phán quan cuối cùng và là một trong số các nhà tiên tri đầu tiên đưa ra tiên đoán khi đang ở trong “Đất Israel” (khái niệm chỉ miền “Đất hứa” mà Thượng đế đã hứa là vĩnh viễn dành cho con cháu của các tổ phụ Abraham, Isaac và Jacob). Samuel là người đã ban dầu thánh phong vương cho hai vị vua Israel đầu tiên là Saul và David.
⁶⁵ Quyển Samuel I, Cựu ước. Những trích dẫn tiếp theo sau về sự kiện này cũng từ Samuel I.
⁶⁶ Philistine: cư dân bờ biển phía nam Canaan trong thời gian có sự nhập cư của người Do Thái. (Vùng cư trú này gọi là Philistia, theo bản đồ hiện nay là vùng ven biển, phía đông và “đối diện” với vùng đất trải dài từ bắc Jerusalem, qua Hebron, xuống phía nam Beersheba.)
⁶⁷ Saul: quốc vương đầu tiên của Vương quốc Israel. Trong Cựu ước, cùng tại Quyển Samuel, có đến ba lý giải khác nhau về việc Saul trở thành vua.
⁶⁸ Thời đại hoàng kim: khái niệm xuất phát từ thần thoại Hy Lạp và thi ca La Mã, trở thành một thuật ngữ mang tính văn hóa ở phương Tây và Trung Đông, cũng như văn hóa Thiên chúa giáo. Theo nghĩa chung nhất, nó chỉ thời điểm khởi đầu của nhân loại, khi mà con người ở vào trạng thái lý tưởng, thuần khiết (về đức hạnh, tình dục...) và bất tử.
⁶⁹ Nghĩa được nói đến ngay sau đó, tương tự như: ái mộ những điều xấu xa, tội lỗi.
⁷⁰ Ban đầu, khi một nhóm cai trị nào đó được chuẩn thuận, nó có thể không là gì, rồi được nó nghĩ xa hơn cho một lễ lối cai quản, nhưng tất cả những gì được dùng để cai trị là đều dành cho sự thông thái và chủ ý hành động của họ; đến khi, bằng sự trải nghiệm, họ nhận thấy rằng điều này đối với mọi thành phần đều rất phiền phức, vì thế với cái điều mà họ đã nghĩ ra như một phương cách [cai quản xã hội], nó chỉ thật sự làm tăng sự nhức nhối cần phải chữa trị. Họ thấy rằng việc sống bằng [sự quyết định từ] ý chí của một người đã trở thành nguyên nhân cho cảnh cùng cực của mọi người. Điều này thúc ép họ hình thành luật pháp, là cái mà ở mọi mặt ai ai cũng đều có thể thấy trước bổn phận và biết những hình phạt của việc vi phạm chúng. (Hooker's Eccl. P. lib. i. sect. 10)
(Đoạn trích này giống đoạn trích tại chú thích ở §94, ngoài từ “chuẩn thuận” dùng ở đây dùng thay cho “cử ra” ở đó; LTH)
⁷¹ In vacuis locis: ở chỗ trống.
Nguyên tác: John Locke, Two treatises of Government (Cambridge Text in the History of Political Thought), Cambridge University Press, 1960, 1967, 1988, 17th printing 2005
Bản dịch: Luận thứ hai về chính quyền - chính quyền dân sự, NXB Tri Thức, dịch giả Lê Tuấn Huy
