Khảo luận thứ hai về chính quyền - Chương 4: Về tình trạng nô lệ

Khảo luận thứ hai về chính quyền - Chương 4: Về tình trạng nô lệ

§22. Quyền tự do tự nhiên của con người, là sự tự do trước bất kỳ quyền lực cao hơn nào nơi trần thế và không chịu sự chi phối của ý chí hay thẩm quyền lập pháp, mà chỉ có luật tự nhiên dùng làm quy tắc cho họ. Quyền tự do của con người, trong xã hội, cũng không đặt dưới quyền lực lập pháp nào khác ngoài cái được thiết lập - bằng sự chấp thuận - trong cộng đồng quốc gia; mà cũng không đặt dưới sự thống trị của bất kỳ ý chí nào, hay trong sự kiểm tỏa của bất kỳ luật lệ nào ngoài cái mà cơ quan lập pháp đó sẽ ban hành, theo đúng sự ủy thác đã đặt vào nó. Khi đó tự do không phải là cái mà Sir Robert Filmer nói với chúng ta (O, A. 55), rằng quyền tự do đối với mỗi người là để thực hiện điều mà mình dự trù, để sống theo như mình thích, và không bị ràng buộc vào bất kỳ luật lệ nào; mà tự do của con người dưới một chính quyền, là có một quy tắc để tất cả sống theo đó, nó tồn tại thường trực và chung cho mọi người trong xã hội, được định ra từ quyền lực lập pháp đã được xã hội dựng lên. Quyền tự do tuân theo ý chí của riêng tôi hiện diện ở mọi việc, khi mà quy tắc đó không quy định - và cũng không phải là - sự khuất phục trước một ý chí bất định, không chắc chắn, mơ hồ và độc đoán của người khác; trong khi tự do của trạng thái tự nhiên là không sống dưới sự kiểm tỏa nào khác ngoài luật tự nhiên.

§23. Một sự tự do như thế, không rơi vào quyền lực chuyên chế, độc đoán, là hết sức thiết yếu và gắn kết chặt chẽ với sự bảo toàn của một con người, mà anh ta không thể từ bỏ nó trừ phi cùng lúc đánh mất sự bảo toàn và sinh mạng của mình. Vì khi một con người mà không có quyền đối với mạng sống của chính mình, sẽ không thể bằng sự thỏa thuận hay chấp thuận của bản thân để biến mình thành nô lệ cho người khác; mà anh ta cũng không thể tự đặt mình dưới quyền lực chuyên chế, độc đoán của người khác, để người này lấy đi sinh mạng của anh ta khi hắn muốn. Không ai có thể cho anh ta thêm quyền lực [đối với bản thân mình] hơn những gì chính anh ta có; và anh ta không thể lấy đi sinh mạng của chính mình, không thể đặt một quyền lực khác lên sinh mạng đó. Thật sự là sau một lỗi lầm khiến có thể đánh mất cuộc sống của riêng mình, do hành động đáng chết nào đó, thì người mà anh ta phải giao phó sinh mạng (khái người này nắm anh ta trong phạm vi quyền lực của mình) có thể trì hoãn việc lấy đi mạng sống và dùng anh ta để phục dịch cho riêng mình; và bằng việc đó, người này không gây cho anh ta thương tích gì. Đến một lúc nào đó, khi nhận thấy sự gian khổ của tình trạng nô lệ là quá nặng nề so với giá trị sinh mạng của mình, thì bằng việc chống lại ý chí của chủ nhân, anh ta đưa bản thân tới cái chết mà anh ta muốn. [Đ]iều đó thuộc về quyền của anh ta [đối với bản thân mình].

§24. Đây là điều kiện hoàn hảo của tình trạng nô lệ, vốn không là gì khác ngoài một trạng thái chiến tranh được tiếp nối, giữa người đi chinh phạt hợp pháp với người bị bắt, vì nếu một khi giao ước được họ đưa ra xem xét và làm thành một thỏa thuận, trao quyền lực có giới hạn cho một phía và đặt sự tuân phục vào phía kia, thì trạng thái chiến tranh và tình trạng nô lệ chấm dứt - miễn là cái giao ước đó tồn tại, vì - như đã được nói - không ai có thể, bằng sự thỏa thuận, chuyển sang cho người khác cái mà bản thân anh ta không tự có, là một quyền đặt trên sinh mạng của chính mình.

Tôi thừa nhận rằng chúng ta nhận thấy người Do Thái, cũng như các dân tộc khác, là những người đã tự bán mình, nhưng rõ ràng đó chỉ là để nhận lấy một thân lao dịch, không phải một kiếp nô lệ²⁴, vì rành rành là người bán mình không phải sống dưới một quyền lực tuyệt đối, độc đoán, bạo ngược, vì người chủ không lúc nào có được quyền hạn để giết anh ta, và vào một thời điểm xác định phải trả tự do cho người phải phục dịch đó. [C]hủ nhân của một tôi tớ như thế khác rất xa việc có một quyền lực độc đoán lên sinh mạng của người này, mà dù muốn ông ta cũng không thể làm hại đến mức gây ra tật nguyền ngoài việc làm mất đi một con mắt hay cái răng để trả tự do cho anh ta (Exod. xxi)²⁵.

²⁴ Người Do Thái từ Canaan vào sinh sống trong đất Ai Cập khi Jojeph (con thứ mười một của Jacob) trở thành tẻ tướng của xứ này. Nhưng sau khi Jojeph chết đi cùng với quyền hành của ông, dân Ai Cập tỏ ra nghi ngờ người Do Thái khi những người di cư này đang tăng lên về số lượng, và kết quả là họ bị biến thành nô lệ trong bốn trăm năm. Thời kỳ này chấm dứt bằng cuộc di dân tập thể của người nô lệ Do thái rời khỏi Ai Cập, dưới sự dẫn dắt của Moses, được ghi lại bằng sự kiện Di cư.

²⁵ Quyển Xuất hành (Di cư), Cựu ước.

Nguyên tác: John Locke, Two treatises of Government (Cambridge Text in the History of Political Thought), Cambridge University Press, 1960, 1967, 1988, 17th printing 2005

Bản dịch: Luận thứ hai về chính quyền - chính quyền dân sự, NXB Tri Thức, dịch giả Lê Tuấn Huy

Dịch giả:
Lê Tuấn Huy