Khoa học Tập chí

Khoa học Tập chí

Đôi lời dẫn nhập

Ai cũng biết, tình trạng nghèo nàn lạc hậu của các nước châu Á vào thế kỷ XIII - XIX là nguyên nhân chủ yếu khiến họ bị các nước châu Âu thôn tính, chỉ trừ nước Nhật (và có lẽ, Thái Lan ở một mức thấp hơn) đã kịp thời tiến hành các chính sách duy tân, mở cửa đưa người sang Âu Mỹ học tập đồng thời đón các chuyên gia, nhà giáo từ các nước đó sang dạy cho thanh niên các kiến thức đã giúp họ phát triển thành các cường quốc: khoa học, cả khoa học tự nhiên và xã hội (triết học, chính trị, kinh tế học…). Về phần mình, sau những cố gắng tuyệt vọng của phong trào Cần vương, đầu thế kỷ XX một số sĩ phu yêu nước đã bắt đầu ý thức được yêu cầu học tập để hiện đại hoá đất nước: Phan Châu Trinh và những đồng chí của ông trong phong trào Duy Tân, trong Đông Kinh nghĩa thục, với khẩu hiệu “Khai dân trí, chấn dân khi, hậu dân sinh”. Phan Châu Trinh thậm chí còn đánh giá yêu cầu này khẩn cấp hơn việc đánh đổ chế độ thực dân, giành độc lập, theo như chủ trương của Phan Bội Châu và của nhiều người khác sau này. Tuy thế, do chưa hề được trực tiếp tiếp cận với nền khoa học kỹ thuật tây phương – mà chỉ qua các mô tả trong “tân thư” của các nhà nho Trung Quốc, và cũng do thời gian quá ngắn ngủi – Đông Kinh nghĩa thục chỉ hoạt động được 9 tháng rồi bị đóng cửa, các môn khoa học trong chương trình giáo dục của Đông Kinh cũng chỉ dừng lại ở mức độ sao chép từ giáo dục tiểu học Pháp[1].

Vậy thì, ý thức về khoa học (tinh thần, nội dung, thực tiễn hoạt động và các ứng dụng trước mắt cũng như tiềm thể của nó) đã bắt đầu nhen nhúm vào người Việt từ khi nào, phát triển ra sao, gặp những thuận lợi và khó khăn nào…?

Không biết đúng tới mức nào, nhưng người viết bài này luôn cảm thấy văn chương, thơ phú mới là mối quan tâm hàng đầu của người Việt kể cả trong vài thập kỷ gần đây, khi yêu cầu “đổi mới, hội nhập” sục sôi trong xã hội, mặc dù người đã đọc văn ai cũng nhớ câu thơ của Viên Mai mà cụ Phan Bội Châu thường nhắc lại: “lập thân tối hạ thị văn chương”. Người ta dễ dàng tìm thấy những bài nghiên cứu về các vấn đề của văn học Việt Nam thế kỷ XX, thậm chí về từng tác gia, từng áng văn thơ cho tới từng câu chữ. Bối cảnh xã hội, chính trị của chúng được phân tích kỹ lưỡng, ý nghĩa và giá trị tinh thần của chúng được rút ra về nhiều khía cạnh, dẫn đến nhiều cuộc tranh luận say mê không dứt v.v.. Trong khi đó, những nghiên cứu về các vấn đề đặt ra cho việc phổ cập các tri thức khoa học, việc nâng cao tinh thần khoa học từ nhà trường tới xã hội, có vẻ như chẳng được mấy ai quan tâm.

Thật ra, câu hỏi nêu trên quá rộng và đòi hỏi nhiều nghiên cứu chuyên sâu. Vai trò của các nhà nho duy tân, đã đành, dù như nói trên, có thể khá hạn chế nếu chỉ xét những bài viết trực tiếp nêu lên vấn đề này của họ. Nhưng cũng phải nói (và chắc phải nói nhiều hơn) tới vai trò của những người “Tây học” đầu tiên. Họ là những ai, đã làm những gì? Rồi vai trò của nhà cầm quyền Pháp, của xã hội Pháp nói chung qua sự tiếp xúc của thế hệ người Việt đầu tiên từng sang Pháp làm việc hay du học. Vai trò của chữ quốc ngữ, tất nhiên. Những cuốn sách đầu tiên trong lĩnh vực khoa học là những cuốn nào, có ảnh hưởng ra sao. Rồi tác động của những biến chuyển về chính trị, kinh tế, về đời sống xã hội dưới thời Pháp thuộc. Vân vân.

Bài viết nhỏ này có mục tiêu khiêm tốn hơn nhiều: truy tầm những tạp chí phổ biến khoa học đầu tiên ở Việt Nam, và nếu có thể, giới thiệu sơ lược về tạp chí đầu tiên (theo thứ tự thời gian!) trong số đó. Một câu hỏi phụ đặt ra, từ khi nào danh từ “khoa học” mới bước chân vào ngôn ngữ Việt Nam, sẽ được đề cập trong một bài riêng (xem tại đây).

Câu hỏi “tìm ở đâu” tương đối dễ trả lời. Trước 1954, Luật lưu chiểu (dépôt légal) của Pháp được áp dụng cho toàn Đông Dương (từ đầu chế độ thuộc địa), và mọi ấn phẩm đều được lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Pháp (Bibliothèque Nationale Française, viết tắt là BNF). Và, may mắn thay, một người bạn làm thủ thư tại đây cho biết, tất cả các thẻ thư mục của các ấn phẩm (sách, báo) của kho sách Đông Dương đã được số hoá!

Tra các từ “khoa học”, “tạp chí” trên catalogue.bnf.fr, từ 1900 đến 1954, và chỉ kể đến những tờ báo có hai từ kép này trên măng-sét, ta sẽ tìm thấy:

1/ Nam-Phong tạp-chí[2], với tiểu đề  “Văn-học Khoa-học Tạp-chí”, Hà Nội 1917-1934.

2/ Khoa-học tập-chí, Revue de Vulgarisation Scientifique, Sài Gòn 1923-1926.

3/ Khoa học tạp chí, Cơ quan truyền bá các khoa học[3]; directeur: Nguyễn Công Tiễu; Hà Nội 1931-1940.

4/ Khoa học phổ thông, mỗi tháng xuất bản hai kỳ; directeur-gerant: Lâm Văn Vãng; Sài Gòn 1934-1942 và 1950-1958.

5/ Báo Khoa học, mỗi tháng ra một kỳ; 1942-1944[4].

Nam Phong thì đã quá quen thuộc, và thực ra mục “Khoa học bình luận” trong đó cũng chỉ chiếm một tỉ lệ khá khiêm tốn[5], ta có thể coi rằng tờ tạp chí tiếng Việt đầu tiên đặt trọng tâm vào việc phổ biến khoa học – như tiêu đề tiếng Pháp của nó cho thấy – chính là tờ số 2/ trong danh sách trên: tờ “Khoa-học Tập-chí”. Dưới đây, chúng tôi xin giới thiệu vài nét về tờ tạp chí này[6], và mong sẽ có dịp khác trở lại với các tạp chí 3/, 4/, 5/ trong danh sách trên.

Như hình bìa 1 chụp dưới đây cho thấy, tạp chí ra đời ngày 4.10.1923, xuất bản hàng tuần vào ngày thứ năm. Trên bìa, 4 chữ Việt viết hoa, không có gạch nối, và chữ “TẠP” được viết với dấu mũ: “TẬP”. Đây không phải là một sai sót về việc sắp chữ, vì trong những bài bên trong, tên này được nhắc lại như vậy. Nói chung, Tiếng Việt trong tạp chí mang tính chất địa phương (Nam Bộ đầu thế kỷ XX) rất rõ, tuy nhiên không có gì đặc biệt “khó hiểu” đối với người đọc ngày nay. Trên 4 chữ KHOA-HỌC TẬP-CHÍ là tên báo bằng chữ Hán mặc dù bài vở hoàn toàn bằng chữ quốc ngữ (với khá nhiều tiếng Pháp chen trong các bài[7]), và dưới là tiêu đề tiếng Pháp như đã nói, có nghĩa là “Tạp chí phổ biến khoa học”. Phía dưới, bên cạnh tên và địa chỉ nhà in, người phụ trách mang nộp lưu chiểu đã viết tay dòng chữ “tirage: 5000 ex.”, ngày nộp và chữ ký không rõ, không biết có phải của giám đốc – quản lý (directeur-gérant, nay ta gọi là “chủ nhiệm”) tờ báo, bác sĩ Trần Văn Đôn hay không? Thông tin này, cũng như danh sách toàn bộ ban biên tập (Comité de Rédaction) được đăng trên trang 2 cùng với giá báo (mua dài hạn: 6 đồng/năm, các số sau sẽ ghi rõ thêm 15 xu/1 số) và giá quảng cáo (theo chế độ khoán – forfait). Số ấn bản “5000” này được giữ cho ba số tạp chí đầu, sau đó xuống 3000 (các số 4,5) rồi 1500 (số 6), rồi 1000 (từ số 7), 800 (số 53) và từ số 116 là 650 cho tới khi tạp chí đình bản (số cuối: 156, đề ngày 28.10.1926 – ít ra, đó là số cuối cùng có trong bộ tạp chí ở BNF). Số trang được đánh liên tục, không tính bìa, các trang trắng và các trang quảng cáo: số 1 ngưng ở trang 18, số 2 tiếp tục từ trang 20 (trang 1 của số này: thông tin về ban biên tập, quản lý) v.v.. Từ số 6, trang thông tin về ban biên tập và quản lý được tổ chức lại, dành khoảng 5, 6 dòng cho mục lục (tóm tắt, chỉ có tên các mục và số trang). Trang cuối cùng là trang 2752, nhưng nhìn kỹ thì có hai lần số trang bị nhảy cóc (trong số 70, nhảy từ 1209 lên 1300 và 1309 lên 1400!), hai số bị bỏ quên (nhảy từ 33 lên 35 và 66 lên 67, nhưng lại có hai số 69: 69 và 69[2]!). Như vậy, nếu tính tổng số trang là 2552 và 155 số thì trung bình mỗi số báo 16,5 trang, tương đối khớp với thực tế mà người đọc có thể nhận xét!

Danh sách ban biên tập, 12 người ghi trên hình trang 1, số 1, sẽ không thay đổi trong suốt 156 số (ba năm). Hai mục văn chương (Partie littéraire) và mục “thời đàm” (chronique hebdomadaire), trên số 1 đã dành chỗ nhưng chưa có tên, rút cục sẽ không có người phụ trách. Danh sách này kể từ số 6 cũng không còn chia mục với người phụ trách mà chỉ đánh số thứ tự từ 1 tới 12, như sau:

1.    M. BUI QUANG CHIEU, Ingénieur Agronome, Inspecteur des Services Agricoles.

2.    M. LÂM VĂN HUÊ, Commis indigène des Services Civils.

3.    M. LƯƠNG VĂN MỸ, Ancien Elève diplômé de l’Ecole des Arts et Métiers Angers. Chef de Subdivision des Travaux Publics à Cholon.

4.    M. LƯU VĂN LANG, Ingénieur des Arts et Manifacatures. Ingénieur Principal des Travaux Publics.

5.    M. NGUYỄN KHẮC TRƯỜNG, Ancien Elève diplômé de l’Ecole de Tissage de Lyon.

6.    M. NGUYỄN VĂN DỤNG, Vétérinaire auxiliaire.

7.    M. NGUYỄN VĂN THINH, Docteur en médecine, ancien Interne des Hôpitaux de Paris.

8.    M. NGUYỄN VĂN XUÂN, Ancien Elève de l’Ecole Polytechnique, Capitaine d’Artillerie Coloniale.

9.    M. TRẦN VĂN NHIỀU, Ancien Elève diplômé de l’Ecole Supérieure de Commerce Paris.

10.    M. TRẦN QUANG NGHIÊM, Commerçant, rue d’Espagne, Saigon.

11.    M. TRẦN VĂN ĐÔN, Docteur en médecine.

12.    M. TRẦN VĂN TỶ, Ancien Elève breveté de l’Ecole Coloniale.

Một số thông tin có trên mạng cho thấy phần lớn trong bọn họ xuất thân từ những “danh gia vọng tộc” ở Nam Bộ, được sang Pháp học từ khá sớm, và có thể nói, đó là những người Việt Nam đầu tiên tiếp xúc với khoa học – kỹ thuật Pháp vào đầu thế kỷ XX.

- Người lớn tuổi nhất là ông Bùi Quang Chiêu sinh năm 1872, sang Pháp học Ecole Coloniale (1894-1895) rồi vào trường Kỹ sư Canh nông Paris (Institut National Agronome), nơi ông tốt nghiệp Kỹ sư Canh nông năm 1897, là người kỹ sư đầu tiên của Nam Kỳ (và nhiều khả năng cũng là của cả nước).

- Ông Lưu Văn Lang, sinh năm 1880, tốt nghiệp kỹ sư tại trường Arts et Manifactures de Paris (thường được biết tới dưới tên gọi Ecole Centrale de Paris) năm 1904. Báo Việt Nam hôm nay (chẳng hạn như trong bài này) nói ông là “người kỹ sư đầu tiên” của Việt Nam, nhưng như trên cho thấy, ông Bùi Quang Chiêu đã có bằng này 7 năm trước.

- Ông Nguyễn Văn Thinh, sinh năm 1888, đậu thủ khoa trường Y khoa Sài Gòn năm 1907, rồi sang Pháp học và tốt nghiệp bác sĩ ở bệnh viện Y khoa Paris.

- Ông Nguyễn Văn Xuân sinh năm 1892, là người Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp Trường Bách Khoa Paris (năm 1912).

- Ông Trần Văn Đôn, học bác sĩ tại Bordeaux, là thân phụ của tướng Trần Văn Đôn trong quân đội VNCH sau này. Wikipedia mục “Trần Văn Đôn” được dành cho vị tướng này, nhưng qua đó người ta biết bác sĩ Trần Văn Đôn đã về nước năm 1920 sau khi tốt nghiệp (tướng Đôn, con ông, sinh tại Bordeaux năm 1917), như vậy có thể giả thuyết là bác sĩ TVĐ thuộc cùng lứa tuổi với người đồng nghiệp của mình trong Khoa học Tạp chí: bác sĩ Nguyễn Văn Thinh, và thuộc lớp “ba mươi” khi các ông tham gia tạp chí.

- Ông Trần Quang Nghiêm, sinh năm 1988, cũng có gia đình đại điền chủ Nam Bộ như nhiều đồng sự của ông trong danh sách trên, nhưng vào những năm 1920 đã là một nhà tư sản sở hữu nhiều đồn điền cao su, một khách sạn và xưởng xuất nhập đồ gỗ. Ông đã dùng tiền của của mình hỗ trợ cho nhiều báo chí tiến bộ thời đó như L’Indochine, L’Annamite, la Cloche Fêlée (của Nguyễn An Ninh)[8]. Qua việc ông có tên trong ban biên tập KHTC tuy không viết lách gì, người ta cũng có thể nghĩ ông chính là một người tài trợ cho tờ tạp chí này như ông đã làm với các tờ báo trên.

Cho tới nay, chúng tôi không tìm thấy thêm thông tin về các nhân vật khác trong bộ biên tập này, trừ hai người được nêu gián tiếp trên Wikipedia tiếng Việt, mục “Nguyễn Văn Thinh”: ông Trần Văn Tỷ, bộ trưởng tư pháp và ông Lương Văn Mỹ, bộ trưởng Công chánh trong chính phủ “Nam Kỳ tự trị” mà ông Thinh làm Thủ tướng. Cũng Wikipédia tiếng Việt, mục “Lưu Văn Lang” có nói tới một “quan toà Trần Văn Tỷ”, chắc cũng là một người, đã ký vào một Tuyên ngôn của 400 trí thức, tháng 5.1947, đòi "Chính phủ phải chấm dứt chiến tranh và thương lượng với Chính phủ Cụ Hồ Chí Minh".

Các ông Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Văn Thinh, Nguyễn Văn Xuân, hay cả với các ông Lưu Văn Lang, Trần Quang Nghiêm là những nhà hoạt động xã hội, chính trị có tên tuổi ở Nam Kỳ thời đó:

Ông Bùi Quang Chiêu là thủ lĩnh Đảng Lập Hiến Đông Dương (năm 1919), đã hoạt động ủng hộ Phong trào Duy Tân của cụ Phan Châu Trinh ngay từ đầu, chủ trương đòi Pháp trao quyền tự trị cho ba kỳ như một bước trước khi tiến tới Độc Lập. Ông Nguyễn Văn Thinh là thủ tướng của Chính phủ Nam Kỳ tự trị (2 tháng 6.1946) trước khi tự tử (10 tháng 11.1946) vì thấy bị Pháp lừa. Ông Nguyễn Văn Xuân là tướng trong quân đội Pháp, cũng là Phó thủ tướng kiêm bộ trưởng bộ quân đội của chính phủ này. Ông Lưu Văn Lang đã từ chối khi được mời vào chính phủ Trần Trọng Kim cũng như Chính phủ Nguyễn Văn Thinh, mà ngược lại, nhận lời làm cố vấn Hội trưởng Hội Liên Việt Sài Gòn Chợ Lớn năm 1948, rồi tham gia dẫn đầu đoàn biểu tình trong đám tang học sinh Trần Văn Ơn ở Sài Gòn năm 1950.