Chủ nghĩa tả khuynh - Chương 1: Tính đồng nhất và tính đa dạng
Ngay từ đầu công cuộc khảo sát này, chúng ta cần khẳng định rằng nếu nhìn từ một góc độ nhất định, tất cả chúng ta đều bị chi phối bởi hai thôi thúc cơ bản: một hướng tới sự đồng nhất,và một hướng tới sự đa dạng. Dù là ở mỗi cá nhân hay trong các quốc gia xuyên suốt chiều dài lịch sử, hai thôi thúc này hiếm khi nào giữ nguyên cường độ hay duy trì được thế cân bằng hoàn hảo.
Chúng biểu hiện ra sao? Ai trong chúng ta hẳn cũng từng trải qua một trạng thái tâm lý mà ở đó, ta khao khát được ở cạnh những người cùng tuổi, cùng tầng lớp, cùng giới tính, cùng niềm tin, tôn giáo hay sở thích. Rất có thể thôi thúc hướng tới sự tuân thủ này, hay chính là “bản năng bầy đàn” này, là một đặc điểm mà chúng ta chia sẻ chung với thế giới động vật. Cảm thức mạnh mẽ về tính đồng nhất có thể bắt nguồn từ chính một bản năng bầy đàn thực sự – một cảm giác mãnh liệt về tính tương đồng và tính cộng đồng, vốn thường chĩa mũi nhọn thù địch về phía một nhóm khác. Trong các cuộc bạo động sắc tộc và những cuộc biểu tình của các nhóm dân tộc, tâm thức tập thể này có thể bùng nổ với sức mạnh vô song. Thứ bản năng bầy đàn mang tính tuân thủ này từng là động cơ thúc đẩy các tổ chức thể dục thể thao mang đậm tinh thần chủ nghĩa dân tộc của người Đức và người Slav – những tổ chức phát triển vô cùng mạnh mẽ trong nửa đầu thế kỷ này và thường xuyên tung ra những màn đồng diễn khổng lồ, được đồng bộ hóa một cách tỉ mỉ. Khi chứng kiến năm hay mười ngàn người đàn ông và phụ nữ ăn mặc giống hệt nhau, thực hiện các động tác giống hệt nhau, người xem sẽ bị choáng ngợp bởi ấn tượng về tính đồng loại, sự đồng bộ, tính đối xứng và sự rập khuôn.
Sự đồng nhất và những thôi thúc hướng đến tính đồng nhất có xu hướng xóa nhòa bản ngã, hướng tới một thứ “chủ nghĩa chúng ta” (nostrism – usness) nơi cái tôi cá nhân bị nhấn chìm. Tất nhiên, “chủ nghĩa chúng ta” (một thuật ngữ do đảng viên Quốc xã người Áo Walter Pembaur tạo ra) hoàn toàn có thể, và thường là, một sự nhân lên đầy tinh vi của những chủ nghĩa vị kỷ. Bất cứ ai ca ngợi và tán dương một tập thể mà bản thân mình dự phần trong đó (một quốc gia, một chủng tộc, một giai cấp, một đảng phái) thì thực chất cũng chỉ đang tự ca ngợi chính mình. Và do đó, mọi thôi thúc đồng nhất không chỉ bảo vệ sự giống nhau và bài xích sự khác biệt, mà còn mang nặng tính tư lợi. Có một khía cạnh mang tính đồng nhất (và phi tình dục) trong chứng đồng tính luyến ái (“sự ái kỷ đồng giới”), đi liền với việc cự tuyệt việc thiết lập một nhịp cầu đôi khi đầy trắc trở về mặt trí tuệ, tinh thần và tâm lý với giới tính kia. Ở khía cạnh này, đồng tính luyến ái được xem là một dạng ái kỷ, một sự thiếu trưởng thành và hàm chứa những hạn chế của một “kẻ nông cạn”.
May mắn thay, khi đạt đến độ trưởng thành và phát triển trọn vẹn các phẩm chất của mình, con người không chỉ có những thôi thúc đồng nhất mà còn có cả những thôi thúc hướng tới sự đa dạng; không chỉ có bản năng bầy đàn mà còn có cả những xúc cảm lãng mạn. Thường thì chúng ta luôn khao khát được gặp gỡ những người khác giới, khác độ tuổi, khác não trạng, khác tầng lớp, hay thậm chí khác đức tin và quan điểm chính trị. Mọi hình thái của khát vọng tìm kiếm sự mới mẻ (novarum rerum cupiditas) – sự háo hức được đi du lịch, thưởng thức những món ăn lạ, nghe những dòng nhạc mới, ngắm nhìn những khung cảnh khác biệt, hay tiếp xúc với một nền văn hóa và văn minh khác – tất cả đều bắt nguồn từ chính xu hướng khao khát sự đa dạng bên trong chúng ta. Một con chó chẳng bao giờ muốn đi du lịch, cũng chẳng bận tâm đến việc ngày nào cũng phải ăn một món nếu đó là thức ăn bổ dưỡng. Nhưng con người thì khác, con người luôn muốn có sự thay đổi. Vương quốc của loài kiến hay loài mối có thể vẫn giữ nguyên trạng qua hàng thế kỷ, nhưng chính khát vọng thay đổi của con người đã tạo nên “lịch sử” như chúng ta biết. Có một điều gì đó ẩn sâu bên trong khiến chúng ta không thể chịu đựng được sự lặp đi lặp lại, và cơn đói khát cái mới này có thể mang lại hậu quả chí mạng nếu nó không được dung hòa với yếu tố của sự bền vững – và sự thận trọng.
Mọi tôn giáo thờ thần bậc cao đều được xây dựng dựa trên niềm khao khát và tình yêu dành cho sự khác biệt này. Dù tôi không hoàn toàn tán thành công thức của Karl Barth rằng “Chúa là Đấng hoàn toàn khác biệt” (Gott als der ganz andere), nhưng không một người hữu thần nào lại phủ nhận sự khác biệt của Chúa. Chúng ta được tạo ra theo hình ảnh của Ngài, nhưng chúng ta không phải là một bản sao của Chúa. Đây là một trong những lý do tại sao mầu nhiệm Nhập Thể lại làm rung động con người sâu sắc đến vậy, và cũng là lý do tại sao, khi tranh luận về bản chất chính xác của sự kiện này, Công đồng Chung đầu tiên lại nổ ra những cuộc tranh cãi gay gắt đến mức dẫn tới những dị giáo và sự phân ly đầy bi kịch.
Khi quan sát hai xu hướng, hai thôi thúc này – vốn đều có nền tảng tâm lý, nhưng chỉ có xúc cảm lãng mạn mới mang bản chất trí tuệ – chúng ta không thể không đi đến kết luận rằng thời đại hiện đại ủng hộ bản năng bầy đàn nhiều hơn là sự hào hứng dành cho tính đa dạng. Điều này có lẽ không lập tức hiển hiện, bởi ở một vài khía cạnh, điều ngược lại dường như mới đúng: nhu cầu đi du lịch ngày nay được đáp ứng một cách dễ dàng hơn, và trong lĩnh vực nghệ thuật, sự đa dạng về thị hiếu cùng các trường phái ngày nay cũng phong phú hơn so với quá khứ. Tuy nhiên, trong những lĩnh vực khác quan trọng hơn, tính đồng nhất lại đang được thúc đẩy về mọi mặt – một phần bởi những đam mê (chủ yếu mang tính bản năng động vật), một phần bởi công nghệ và các quy trình hiện đại vốn là những yếu tố cấu thành không thể tách rời của nền văn minh hiện đại. Trong một cuốn sách khác, chúng tôi đã đề cập đến sự thiếu trung thực trong việc sử dụng thuật ngữ thời thượng “chủ nghĩa đa nguyên” (pluralism). Trên thực tế, mọi xu hướng hiện đại đều đang trỏ về bóng ma của một sự rập khuôn đáng sợ hơn, quy mô hơn và tàn nhẫn hơn.
Về khía cạnh này, chúng ta không bao giờ được quên rằng tính đồng nhất là “anh em họ” của sự bình đẳng. Mọi thứ đồng nhất thì nghiễm nhiên bình đẳng. Hai đồng xu 50 cent thuộc cùng một đợt phát hành không chỉ đồng nhất mà còn bình đẳng với nhau. Hai đồng 25 cent bình đẳng về giá trị với một đồng 50 cent, nhưng chúng không đồng nhất với nó. Tính đồng nhất chính là sự bình đẳng: đó là thứ bình đẳng hiển nhiên ngay từ cái nhìn đầu tiên, một sự bình đẳng chẳng cần đến lập luận dài dòng hay sự điều tra tỉ mỉ mới có thể nhận ra. Do đó, mọi hình thái chính trị hoặc xã hội lấy cảm hứng từ lý tưởng bình đẳng hầu như sẽ luôn hướng về chủ nghĩa đồng nhất và nuôi dưỡng bản năng bầy đàn (với sự hoài nghi kéo theo, nếu không muốn nói là sự thù hận, dành cho những ai dám trở nên khác biệt hoặc có tham vọng vươn lên vượt trội).
Tồn tại một khuynh hướng đần độn, mang tính động vật hướng về sự bầy đàn đồng nhất; nhưng chúng ta cũng bắt gặp một thôi thúc mang tính hệ thống, mãnh liệt và cuồng nhiệt theo hướng đó. Nietzsche từng biết điều này và Jacob Burckhardt cũng vậy. Động cơ thúc đẩy của nó chính là nỗi sợ hãi – dưới hình thái của một mặc cảm tự ti, sinh ra sự thù hận và đố kỵ như những người anh em ruột thịt. Nỗi sợ hãi hàm chứa một cảm giác thấy mình yếu kém hơn người khác (hoặc kém cỏi trước một hoàn cảnh): Sự thù hận chỉ có thể nảy sinh khi người ta cảm thấy bất lực trước một kẻ được cho là mạnh hơn hoặc quyền lực hơn mình. Một người nô lệ yếu ớt và hèn nhát có thể sợ hãi và thù hận ông chủ của mình; ngược lại, ông chủ của anh ta sẽ không thù hận, mà chỉ đơn thuần coi thường người nô lệ. Những kẻ mang lòng thù hận xuyên suốt chiều dài lịch sử đã thực hiện những hành vi tàn bạo kinh hoàng (vốn là sự trả thù của kẻ thế yếu), trong khi sự coi thường – vốn luôn đi kèm với cảm giác thượng đẳng – lại hiếm khi sinh ra sự tàn bạo.
Để né tránh nỗi sợ hãi đó, né tránh cảm giác tự ti đó, đòi hỏi về sự bình đẳng và tính đồng nhất đã nảy sinh. Không ai giỏi hơn, không ai thượng đẳng hơn, tất cả đều có thể thư giãn, tất cả đều có thể thoải mái, không ai cảm thấy bị thách thức, mọi người đều “an toàn”. Và nếu tính đồng nhất, sự giống nhau đã đạt được, thì hành động và phản ứng của người khác đều có thể dự đoán trước. Sẽ không còn những bất ngờ (khó chịu) nào nữa; ai cũng có thể đọc được suy nghĩ và cảm xúc trên khuôn mặt của người khác. Và cứ thế, một cảm giác bầy đàn ấm áp về tình huynh đệ sẽ xuất hiện. Những tình cảm này, những cảm xúc này, sự khước từ chất lượng này (thứ vốn không bao giờ có thể giống nhau ở tất cả mọi người!) chính là lời giải thích cho phần lớn tinh thần của các phong trào quần chúng trong 200 năm qua.
Yếu tố còn lại chính là sự đố kỵ. Sự đố kỵ có những cội rễ tâm lý vô cùng phức tạp – không chỉ một mà còn nhiều khía cạnh khác nhau.
Trước hết, tồn tại một cảm giác kỳ quặc rằng bất cứ thứ gì người khác sở hữu đều bằng cách này hay cách khác (vòng vèo) bị tước đoạt từ chính bản thân mình: “Tôi nghèo vì hắn giàu.” Lập luận nội tâm vốn thường không được nói ra này dựa trên một giả định rằng mọi của cải và những điều tốt đẹp trên thế gian này là có hạn. Trong trường hợp tiền bạc, hay rõ hơn nữa là đất đai bất động sản, lập luận ấy có thể có một cơ sở nhất định (do đó mới có sự đố kỵ mãnh liệt giữa những người nông dân về đất đai của nhau). Tuy nhiên, lập luận này lại thường vô thức được mở rộng sang cả những giá trị vốn không hề có giới hạn. Isabel xinh đẹp, Eloise xấu xí; nhưng vẻ đẹp của Isabel không phải là kết quả từ sự kém sắc của Eloise, cũng như sự thông minh của Bob không bắt nguồn từ sự đần độn của Tim. Một lần nữa, sự đố kỵ trong vô thức có thể sử dụng một lập luận mang tính thống kê: “Không phải tất cả anh em ta đều có thể thông minh, không phải tất cả chị em ta đều xinh đẹp. Số phận đã ưu ái cho cô ta, cho anh ta và phân biệt đối xử với tôi!”
Khía cạnh thứ hai của sự đố kỵ nằm ở sự vượt trội của người khác trên một phương diện quan trọng nào đó. Chỉ riêng sự nghi ngờ rằng đối phương cảm thấy mình thượng đẳng hơn nhờ ngoại hình, trí tuệ, cơ bắp, hay tiền bạc, v.v. Cũng đủ để thổi bùng lên một cảm giác đố kỵ thiêu đốt. Cách duy nhất để tìm kiếm sự bù đắp tâm lý nằm ở việc bới lông tìm vết, phát hiện ra những phẩm chất kém cỏi ở kẻ vốn là đối tượng của sự đố kỵ: “Hắn giàu, nhưng hắn ác độc,” “Hắn thành công, nhưng gia đình lại bất hạnh,” “Hắn xuất thân danh giá và lắm mối quan hệ, nhưng ôi chao, sao mà ngu ngốc thế.” Đôi khi những khiếm khuyết này của kẻ bị đố kỵ đóng vai trò như một sự an ủi; đôi khi chúng lại trở thành một cái cớ “mang tính đạo đức” cho một cuộc tấn công, đặc biệt là nếu đối tượng của sự đố kỵ (dù là thực tế hay do tưởng tượng) có những điểm yếu về mặt đạo đức.
Trong 200 năm qua, việc khai thác sự đố kỵ và huy động nó trong quần chúng, kết hợp với việc bôi nhọ các cá nhân – mà phổ biến hơn là các giai cấp, chủng tộc, dân tộc hay các cộng đồng tôn giáo – chính là chìa khóa then chốt dẫn đến thành công chính trị. Lịch sử thế giới phương Tây từ cuối thế kỷ XVIII sẽ không thể được viết nên một cách trọn vẹn nếu người ta không liên tục khắc ghi sự thật này trong tâm trí.
Mọi “chủ nghĩa” tả phái đều nhai đi nhai lại chủ đề này – tức là nhắm vào đặc quyền của các nhóm, mà cụ thể là các nhóm thiểu số, những kẻ vừa là đối tượng của sự đố kỵ, vừa bị xem là yếu kém về mặt trí tuệ lẫn đạo đức. Họ bị cho là không có quyền sở hữu những vị thế cao quý đó. Họ phải quy phục đám đông còn lại, phải trở nên đồng nhất với “nhân dân”, phải từ bỏ các đặc quyền của mình và tuân phục. Nếu họ nói một thứ ngôn ngữ khác, họ phải từ bỏ nó và nói thứ tiếng của đa số. Nếu họ giàu có, của cải của họ phải bị đánh thuế kiệt quệ hoặc tịch thu. Nếu họ theo đuổi một hệ tư tưởng không phổ biến, họ buộc phải quên nó đi. Mọi thứ đặc biệt, mọi thứ thâm thúy, bí truyền và không dễ hiểu đối với đại chúng đều trở thành đối tượng bị nghi ngờ và bị coi là độc hại (chẳng hạn như nghệ thuật và thơ ca hiện đại – những thứ ngày càng bị coi là “thiếu tính dân chủ”). Dĩ nhiên, có một kiểu nhóm thiểu số không thể nào “rập khuôn” được, và do đó luôn đứng trước nguy cơ bị lưu đày, đàn áp hay tàn sát: đó chính là nhóm thiểu số về sắc tộc.
Như thường lệ, sự đạo đức giả chính là thứ lễ nghi mà cái xấu dành cho cái thiện; và khi kích động sự đố kỵ, thứ cảm xúc xấu xa này không bao giờ được xướng tên một cách công khai. Cá nhân hoặc tập thể không chịu tuân phục – kẻ đã trót phạm tội chống lại nguyên tắc thiêng liêng của sự giống nhau – sẽ luôn bị coi là kẻ phản bội; và nếu bản thân họ không phải là kẻ phản bội, đa số đầy đố kỵ cũng sẽ đẩy họ về phía đó. (Mãi đến tận năm 1934, vẫn có những người Do Thái tại Đức cố gắng thành lập một nhóm Quốc xã của riêng mình: họ ngây thơ cho rằng chủ nghĩa bài Do Thái chỉ là một “giai đoạn quá độ”. Thế nhưng, liệu có ai hình dung được một người Do Thái ở Đức vào năm 1943 lại không cầu nguyện trong lòng cho chiến thắng của phe Đồng minh? Anh ta đã bị đẩy về hướng đó. Do đó, việc trở nên khác biệt sẽ bị đối xử như một hành vi phản quốc hoặc bị ép thành tội phản quốc. Và ngay cả khi công thức “Kẻ không tuân phục = Kẻ phản bội” không phải lúc nào cũng được tuyên bố rõ ràng, nó vẫn luôn rình rập trong tâm trí con người hiện đại, bất kể họ có công khai ủng hộ chủ nghĩa toàn trị hay không. Người ta phải tự hỏi có bao nhiêu người ngày nay – những kẻ chân thành từ bỏ mọi giáo lý toàn trị – lại chịu tán thành câu nói nổi tiếng của Thánh Stêphanô, Vua xứ Hungary, người đã viết trong di chúc gửi cho người thừa kế của mình là Thánh Emmeric rằng: “Một vương quốc chỉ có một ngôn ngữ và một phong tục là một thứ yếu ớt và đần độn.” (“A Kingdom of only one language and one custom is a fragile and stupid thing”). Sự đoàn kết (unity) và sự rập khuôn (uniformity) đã bị trộn lẫn làm một trong tâm trí chúng ta.
Phép thuật hiện đại của sự giống nhau không chỉ được gia tăng bởi một nền công nghệ sản xuất ra vô số vật phẩm y hệt nhau (chẳng hạn như một mẫu xe hơi được sở hữu “chung” bởi nửa triệu người), mà còn bởi nhận thức trong vô thức rằng sự giống nhau đi liền với sự rẻ tiền, và sự giống nhau giúp mọi thứ trở nên dễ hiểu hơn, đặc biệt là đối với những tâm trí đơn giản. Những đạo luật giống nhau, hệ thống đo lường giống nhau, một ngôn ngữ chung, một đồng tiền chung, một nền giáo dục chung, một trình độ trí tuệ đồng đều, một quyền lực chính trị bình đẳng (“mỗi người một phiếu bầu”), mức lương giống nhau, trang phục giống nhau hoặc gần như giống nhau (như bộ quần áo vải thô màu xanh của Trung Quốc thời Cộng sản!) – tất cả những điều này dường như vô cùng hấp dẫn. Nó đơn giản hóa mọi chuyện. Nó rẻ tiền hơn. Nó tiết kiệm công sức tư duy. Đối với một số kiểu tâm trí, nó thậm chí còn có vẻ “công bằng hơn”.
Những xu hướng đồng nhất này vấp phải hai trở ngại: tự nhiên và con người (vốn là một phần của tự nhiên). Tuy nhiên, tự nhiên lại dễ bị nhào nặn thành những khuôn mẫu đồng nhất hơn dưới nỗ lực của con người, bằng chứng là một số kiểu nghệ thuật làm vườn nhất định. Những ngọn đồi có thể bị “san phẳng”. Tính hình học có thể bị áp đặt lên cảnh quan. Việc biến con người trở nên đồng nhất là một nhiệm vụ khó khăn hơn nhiều, dẫu vậy, nó không hoàn toàn vô vọng đối với những kẻ ngốc nghếch vẫn luôn “lạc quan” tuyên bố rằng, “Mọi người sinh ra đều bình đẳng” và sau đó là “Con người giống nhau nhiều hơn là khác biệt.” Ở đây, ta phải nhớ đến Procrustes, gã tướng cướp và kẻ bạo dâm huyền thoại của Hy Lạp, kẻ luôn quăng nạn nhân của mình lên một chiếc giường: những ai quá ngắn sẽ bị kéo căng và đập nát xương cho đến khi vừa vặn, còn những ai quá dài sẽ bị “cắt xén cho đúng kích cỡ.” Procrustes chính là kẻ tiên phong cho chế độ bạo chúa hiện đại.
Tuy nhiên, tại đây, những kẻ cổ xúy sự đồng nhất lại phải đối mặt với bức màn bí ẩn của nhân cách. Con người vốn dĩ khác biệt: họ khác nhau về độ tuổi, giới tính; họ đa dạng về thể lực, trí tuệ, nền tảng giáo dục và những hoài bão. Họ có những nét tính cách, những dạng thức ký ức và những thiên hướng khác biệt. Họ phản ứng theo những cách khác nhau trước cùng một kiểu đối xử. Tất cả những điều này vắt kiệt sức lực và chọc tức những kẻ tôn thờ sự đồng nhất. Một người thợ đóng giày thủ công coi sự khác biệt đó là lẽ hiển nhiên; nhưng nó lại là một cơn đau đầu đối với một nhà sản xuất giày hàng loạt. Sự đa dạng ấy là lẽ thường tình đối với một vị gia sư và chẳng có gì bí ẩn đối với các bậc cha mẹ, nhưng nó lại có thể trở thành một bài toán không lời giải đối với một giáo viên phụ trách một lớp học đông đúc. Đi kèm với điều này là khuynh hướng từ bỏ ít nhất một phần nhân cách của mình khi hòa vào các nhóm lớn. “Con người đại chúng” (mass-man) trong một đám đông có xu hướng suy nghĩ, hành động và phản ứng một cách đồng bộ hóa với bầy đàn – một hiện tượng có lẽ có thể được giải thích bằng khoa học.
Và chính bởi vì sự đồng nhất ở con người quá khó để đạt được, một sự thay thế tồi tàn thường xuyên được mang ra để lấp liếm. Sự thay thế cũng phi thực tế không kém, ấy chính là sự bình đẳng.
Nguyên tác: Leftism: from de Sade and Marx to Hitler and Marcuse, 1974, Arlington House
Bản dịch: Lê Lam Kiều
