[VIDEO] Bình luận về tác phẩm "Aristole"
Aristotle có thể được xem là chuẩn mực văn hoá của lịch sử phương Tây. Bất cứ khi nào ảnh hưởng của ông chi phối bối cảnh, nó mở đường cho một trong những kỷ nguyên tươi sáng của lịch sử; khi nó bị mờ nhạt, thì loài người cũng vậy. Sự hồi sinh của Aristotle ở thế kỷ thứ 13 mang con người đến với thời Phục Hưng. Cuộc phản cách mạng trí tuệ đã mang con người trở lại với nguồn gốc của sự đối lập hoàn toàn với Aristole: Plato.
Chỉ có một vấn đề cơ bản trong triết học: hiệu quả nhận thức của tâm trí con người. Sự xung đột của Aristotle và Plato là sự xung đột của việc lập luận và chủ nghĩa huyền bí. Plato chính là người hình thành hầu hết các nghi vấn và sự hoài nghi cơ bản của triết học. Aristotle chính là người đặt nền tảng cho hầu hết các câu trả lời. Do đó, các ghi chép về hai nhân vật này là các ghi chép về quá trình đấu tranh dai dẳng, nhằm chối bỏ và khuất phục hoặc gìn giữ và khẳng định tính hợp lý về mô thức đặc biệt của ý thức con người.
Ngày nay, triết học đã nghiên cứu sâu hơn cấp độ của Aristotle và Plato, đến cả các nhóm nguyên thuỷ Parmenides và Heraclitus mà các môn đệ của họ không thể dung hoà được khái niệm về sự đoan chắc trí tuệ với hiện tượng thay đổi: trường phái Eleatic1 , những người cho rằng thay đổi là không hợp lý, rằng trong bất kỳ xung đột nào giữa tâm trí và thực tại thì thực tại là miễn trừ và, do đó sự thay đổi là ảo tưởng – đối lập với những du giáo theo trường phái Heraclitus, những người cho rằng lý trí có thể thay đổi, rằng tri thức là ảo tưởng và không có gì tồn tại ngoài sự thay đổi. Hoặc: ý thức không có sự tồn tại so với tồn tại không có ý thức. Hoặc: chủ nghĩa giáo điều mù quáng so với chủ nghĩa hoài nghi chủ quan. Hoặc: Thuyết Duy Lý so với Thuyết Duy Nghiệm.
Aristotle là người đầu tiên kết hợp giữa tính đồng nhất và sự thay đổi, và do đó giải quyết được sự phân đôi xa xưa này. Hơn nữa, ông đã đặt nền tảng và chỉ ra phương pháp mà theo đó đạt được một giải pháp toàn diện. Để hồi sinh sự phân đôi này thì điều cần thiết là phải bỏ qua và lảng tránh các tác phẩm của ông. Kể từ thời Phục Hưng, sự phân đôi luôn được phục hồi ở dạng này hay dạng khác, luôn nhắm đến mục tiêu tối quan trọng: khái niệm về sự đồng nhất - luôn dẫn đến các luận chứng bị lên án là lừa dối, tạo ra giới hạn, gây ra sự bất lực của lý trí.
Việc trình bày sai ý tưởng của Aristotle trong vài thế kỷ đã khiến ông trở thành nhà triết học có lập luận sai, tuyên bố lập luận này không thuyết phục, gây ra một sự bất hợp lý đến mức bây giờ nó đang cuốn trôi triết học và đẩy chúng ta trở lại trước thời tiền Socrates, trước nền văn minh phương Tây, vào các đầm lầy thời tiền sử của Phương Đông, thông qua Chủ nghĩa Hiện sinh và Thiền tông.
Ngày nay, Aristotle là con người bị quên lãng trong triết học. Những kẻ chải chuốt trẻ tuổi bận rộn với những lời ngụy biện đều đều, chán ngắt của thế kỷ 5 trước Công Nguyên, rằng con người có thể chưa biết gì, trong khi những kẻ non nớt râu ria xồm xoàm ca ngợi rằng họ hiểu biết cả cơ thể mình từ phần cổ trở xuống.
Chính là trong bối cảnh này, con người phải đánh giá cao tầm quan trọng của tác phẩm lạ thường - Aristotle của John Herman Randall- ra đời trong hoàn cảnh này.
Cho phép tôi vội vàng đính chính rằng các nhận xét vừa rồi là của tôi, không phải của Giáo Sư Randall. Ông ấy không phê phán triết học hiện dại như nó đáng như thế - ông ấy dường như chỉ nêu ra một vài trong số sai sót của nó. Nhưng chủ đề tác phẩm này của ông là sự liên quan cần thiết và là tầm quan trọng của Aristotle đối với vấn đề triết học của thời đại chúng ta. Và tác phẩm là một nỗ lực nhằm mang lý thuyết của Aristotle - từ sự hỗn loạn do các nhà huyền học thời trung cổ và các nhà chủ nghĩa Plato hiện đại biểu trưng sai - trở lại ánh sáng của thời đại – thời đại của chúng ta.
“Thật vậy,” ông viết “trí tuệ của Aristotle hẳn là trí tuệ đam mê nhất trong lịch sử: nó soi sáng mọi trang viết trên hầu hết các dòng chữ. Các tài liệu chi chít chữ của ông trình bày không phải là “tư tưởng lạnh lùng”, mà là sự theo đuổi đầy đam mê để tìm ra sự thật vĩnh hằng. Đối với ông, không hề có sự “dữ dội” hay “tiết chế” khi nói về sự hoàn hảo của trí tuệ. Với ông, triết lý nhân sinh không phải là nhân sinh trầm ngâm tĩnh lặng, bình yên, không cảm xúc, mà là nhân sinh của lý lẽ, của học thuyết, của trí tuệ, cháy bỏng, vượt trội, không có ranh giới hay giới hạn.”
Chỉ ra rằng các nhà khoa học trước đó đã bỏ qua Aristotle trong cuộc nổi loạn nhằm chống lại các nhà diễn giả mộ đạo học thuyết của ông, thật vậy, giáo sư Randall cho thấy các thành tựu khoa học của họ đều dựa trên nền tảng không được công nhận của Aristotle và thực hiện những điều gợi ý từ lý thuyết của Aristotle.
Đổ lỗi cho sự hỗn loạn nhận thức luận của khoa học hiện đại về ảnh hưởng của triết học tự nhiên cơ học của Newton, ông viết:
“Thật thú vị khi suy đoán làm thế nào mà việc tái cấu trúc Aristole, thay vì bỏ qua, có thể thực hiện trong thế kỷ thứ 17. Chúng ta có lẽ đã tránh được toàn bộ sự nhầm lẫn và sai lầm trong vài thế kỷ...Chúng ta vẫn còn đang dò dẫm trong khi Aristotle thì rất rõ ràng, gợi mở và có thành quả. Điều này đúng với nhiều bài phân tích của ông: học thuyết của ông về mục đích luận tự nhiên; quan điểm của ông về tính tất yếu của tự nhiên là không đơn giản và máy móc mà là giả thuyết; quan niệm của ông về cái Vô Hạn là tiềm ẩn, không thực; khái niệm của ông về một vũ trụ hữu hạn; học thuyết của ông về nơi chốn tự nhiên; quan niệm của ông về thời gian không phải là tuyệt đối, mà đúng hơn là chiều kích, một hệ thống đo lường, quan điểm của ông rằng nơi chốn là một hệ toạ độ và do đó mang tính tương đối. Đối với vô số vấn đề, từ quan điểm lý thuyết hiện tại của chúng ta thì Aristotle đã đúng, trong khi thuyết vật lý Newton ở thế kỷ thứ 17 đã sai.”
Phản đối “thế giới vô cấu trúc của Hume mà trong đó “bất cứ vật gì đều có thể là nguyên nhân của bất cứ điều gì khác”, giáo sư Randall viết:
“Đối với quan điểm mà ông thấy được duy trì bởi trường phái Megara, Aristole trả lời “Không! Tất cả quá trình đều liên quan đến sự vận hành của các lực xác định. Không có gì có thể trở thành bất cứ một cái nào khác. Một vật chỉ có thể trở thành cái mà nó có sức mạnh cụ thể để trở thành, cái mà nó đã là, theo nghĩa tiềm ẩn. Và vật này có thể chỉ được hiểu như là một loại có sẵn sức mạnh cụ thể đó; trong khi quá trình này chỉ có thể được hiểu là sự hoạt động, sự thực hiện, sự vận hành chức năng sức mạnh của chủ thể hoặc người mang sức mạnh đó.”
Việc đọc một bài trình bày rõ ràng và trong sáng về hệ thống của Aristotle, được viết bởi nhà triết học hiện đại lỗi lạc – được viết theo nguyên lý cơ bản và nền tảng rộng rãi, nhằm chống lại sự công kích vô nghĩa của nhà tư tưởng bị lên án ngày nay - là một giá trị hiếm hoi đủ để nhìn nhận tầm quan trọng từ quyển sách này của giáo sư Randall, mặc dù nó vẫn còn thiếu sót.
Không may là, tác phẩm này có rất nhiều thiếu sót. Giáo sư Randall mô tả tác phẩm của ông là “sự phác hoạ của một triết gia về Aristotle.” Vì có nhiều yếu tố mâu thuẫn và nhiều đoạn văn mơ hồ trong chính tác phẩm của Aristotle; gồm cả việc, trong một số trường hợp, vấn đề về tính xác thực của chúng là một đặc quyền của triết gia (trong phạm vi trình bày) để quyết định tuyến tư tưởng nào được chọn thể hiện như là yếu tố chính thuộc về Aristotle. Nhưng không có gì – đặc biệt là không phải Aristotle – là vô hạn và không xác định. Và dù Giáo sư Randall cố gắng tách biệt phần trình bày và phần lý giải thì không phải lúc nào ông cũng thành công. Đôi chỗ trong phần lý giải của ông mang nghi vấn; vài phần khác lại vượt ra ngoài giới hạn cho phép.
Ví dụ, ông mô tả phương pháp tiếp cận tri thức của Aristotle như sau: “Hiểu biết đối với ông là một sự thật hiển nhiên... Câu hỏi thực sự, như ông nhận thấy, là: Hiểu biết trở nên khả hữu trong thế giới nào? Sự hiểu biết ám chỉ gì về thế giới chúng ta? Đây là một mô thức “tiền đoan chắc của ý thức” – ý niệm rằng một người có thể sở hữu tri thức và sau đó tiến hành khám phá tri thức đó thuộc về cái gì, do đó tạo ra một thế giới được phái sinh từ ý thức – đây là phương pháp Cartesian mà Aristotle không thể nghĩ ra và cũng là điều mà bản thân giáo sư Randal tranh đấu trong suốt tác phẩm của mình.
Đa số các thiếu sót của tác phẩm đều có cùng một nguyên nhân: do giáo sư Randall không có khả năng hoặc không sẵn lòng phá vỡ nền tảng, phương pháp và thuật ngữ “hiện đại”. Khả năng quan sát mà ông dùng để suy xét ý tưởng của Aristotle dường như biến mất mỗi khi ông muốn cân bằng Aristotle với xu hướng hiện đại. Nói như ông rằng: “ Trong thuật ngữ hiện đại, Aristotle có thể được xem là nhà hành vi học, nhà thao tác luận, nhà ngữ cảnh luận” (và, sau đó là “nhà chức năng luận” và “người theo thuyết tương đối”), là không thể bào chữa được mà cũng là khái quát hoá một cách lỏng lẻo nhằm gán ghép ngữ nghĩa với nhau.
Giả sử rằng các từ ngữ này không có định nghĩa cụ thể và được dùng giống như phần lớn ngôn ngữ triết học ngày nay, theo cách của từ “di động” mà nó hàm ý, hơn là biểu thị - thậm chí như vậy thì nghĩa hàm ý được chấp nhận ở đây quá khác biệt với Aristotle, đến nỗi người ta buộc phải tự hỏi liệu giáo sư Randall đang cố gắng giải thích về những nhà triết học hiện đại hay về Aristotle. Có những đoạn trong sách này hỗ trợ cho cả hai giả thuyết trên.
Một mặt, giáo sư Randall viết, “rằng chúng ta có thể hiểu sự vật như chúng là, rằng tri thức đó là khả hữu, là những gì Aristotle đang cố gắng giải thích, và không cố gắng chối bỏ hay thanh minh, như Kant và các môn đệ của Kant.” Và: “Thật vậy, bất kỳ sự giải thích về “tri thức” nào, dù là Kantian, Hegelian, Deweyan, người theo chủ nghĩa thực chứng hay bất kỳ ai khác, dường như nhất quán và hữu ích, nhằm tránh con đường cùng của sự tự mâu thuẫn vô ích, và những vấn đề không giải quyết được và không ý nghĩa, chỉ khi nó xuất phát từ phương pháp tiếp cận của Aristotle và phát triển phân tích của ông xa hơn nữa. Đó là ở mức độ được thực hiện trên nền tảng của Aristotle.” (Mặc dù người ta tự hỏi nếu Kant, Hegel, Dewey, hay người theo chủ nghĩa thực chứng bị loại bỏ những yếu tố phi Aristotle thì những điều họ còn lại chính xác là gì.)
Mặt khác, Giáo sư Randall dường như biến Aristotle trở thành sự kết hợp tối nghĩa giữa nhà phân tích ngôn ngữ và triết học trường phái Heralitus, như thể ngôn ngữ và thực tại có thể được xem như hai khía cạnh tách biệt, không liên quan nhau – trong các đoạn như: “Khi Aristotle tiếp tục nghiên cứu những gì liên quan đến “tồn tại” trong bất cứ gì, ông hướng đến hình thành hai tập hợp phân biệt rõ nét: một tập hợp tương ứng với việc hiểu biết bất cứ “sự vật” hoặc bản thể như là chủ thể của bài biểu văn, tập hợp còn lại tương ứng với việc hiểu biết bất cứ “sự vật” hoặc bản thể như là kết quả của quá trình, như là sự vận hành hoặc sử dụng năng lực, và trên hết là, hoạt động, chức năng không giới hạn.”
Sự thật là Aristotle đã giải quyết sự phân đôi về “thuyết cơ cấu – thuyết chức năng” của Giáo sư Randall và ngày nay, câu trả lời này vẫn rất quan trọng. Nhưng câu trả lời này loại bỏ toàn bộ sự phân đôi đó – và người ta không thể giải quyết nó bằng cách phân loại ông ta là “nhà chức năng luận” người mà tin rằng sự vật là “quá trình không giới hạn.”
Phần hay nhất trong quyển sách của giáo sư Randall là chương VIII, IX, và XI, đặc biệt là chương cuối này. Trong khi thảo luận tầm quan trọng của thuyết sinh vật học của Aristotle và “động lực sinh vật học của ý tưởng Aristotle”, Randall đã nêu lên khía cạnh của Aristotle mà hiếm khi được nhắc đến trong các cuộc thảo luận gần đây và cũng là khía cạnh sâu sắc hơn cả câu hỏi về “thuyết chức năng” của Aristotle: vị trí trung tâm được trao cho các thực thể sống, cho hiện tượng sự sống, trong triết lý của Aristotle.
Đối với Aristotle, sự sống không phải là không giải thích được, không phải là huyền bí siêu nhiên, mà là sự việc của bản chất. Và ý thức là thuộc tính tự nhiên của thực thể sống nhất định, sức mạnh tự nhiên, cách thức hành động cụ thể của họ – không phải là yếu tố không giải thích được trong vũ trụ cơ học, được giải thích bằng cách nào đó về mặt vật chất vô sinh, mà cũng không phải là điều thần kỳ huyền bí không tương thích với thực tại vật lý, được quy cho một nguồn huyền bí nào đó ở một chiều kích khác.
Đối với Aristotle, “sống” và “biết” là sự thật của thực tại; trí óc con người không phải là không tự nhiên, cũng không phải siêu nhiên, mà là bản chất – và đây là gốc rễ của sự vĩ đại của Aristotle, một khoảng cách không đo lường được đã tách biệt ông với các nhà tư tưởng khác
. Sự sống – và mô thức cao nhất của nó, sự sống của con người – là dữ kiện trọng tâm trong quan điểm của Aristotle về thực tại. Cách miêu tả quan điểm này hay nhất là nói rằng triết lý của Aristotle là biocentric2 .
Đây là nguồn gốc của mối quan tâm mãnh liệt của Aristotle đối với nghiên cứu về thực thể sống, nguồn gốc của thái độ “bảo vệ sự sống” to lớn, chi phối suy tưởng của ông. Bằng lối kỳ lạ và chưa xác định, giáo sư Randall dường như có chia sẻ ý này. Điều này dường như là sự liên kết thực sự giữa ông và Aristotle, bất chấp mọi mâu thuẫn của ông.
Mảng tối nhất trong tác phẩm là chương XII, chương này nói về đạo đức và chính trị. Sự mâu thuẫn là quá rõ ràng, thậm chí không cần tham khảo các đoạn văn của Aristotle. Thật đáng kinh ngạc khi đọc câu khẳng định sau đây: “Đạo đức và chính trị của Aristotle thực sự là thành tựu tối cao của ông.” Chúng thậm chí không phải là câu gốc– chứ đừng nói đến phiên bản của giáo sư Randall, câu mà đã chuyển thành đạo đức của chủ nghĩa thực dụng.
Thật sửng sốt khi đọc lời khẳng định rằng Aristotle là người ủng hộ “nhà nước phúc lợi”. Dù cho lý thuyết chính trị của Aristotle có thiếu sót nhiều đến đâu chăng nữa, ông ấy cũng không đáng nhận sự sỉ nhục như vậy.
Giáo sư Randall, người đã nhấn mạnh rằng tri thức phải dựa trên chứng cứ thực nghiệm, nên nhận thấy các dữ kiện thực nghiệm rằng trong suốt lịch sử ảnh hưởng của triết lý Aristotle (đặc biệt là nhận thức luận của ông) đã dẫn đắt định hướng cho tự do cá nhân, cho sự giải phóng của con người khỏi thế lực nhà nước – rằng Aristotle (thông qua John Locke) là cha đẻ về mặt triết lý của Hiến Pháp nước Mỹ và do đó của Chủ Nghĩa Tư Bản –rằng chính là Plato và Hegel, chứ không phải Aristotle, là tổ tiên triết học của toàn trị và nhà nước phúc lợi, dù cho đó là của Bismarck, Lenin, hay Hitler.
“Một Aristotle ủng hộ nhà nước” là một thuật ngữ mâu thuẫn- và điều này có lẽ là manh mối gây ra xung đột tạo nên giá trị tác phẩm của giáo sư Randall.
Nhưng nếu được đọc một cách nghiêm túc, quyển sách có giá trị to lớn trong việc nghiên cứu triết lý Aristotle. Nó là sự trình bày chính xác và toàn diện mà nhiều người cần và tìm kiếm, nhưng không thể tìm thấy ngày nay. Nó đặc biệt có giá trị đối với sinh viên đại học: bằng cách cung cấp một khung tham khảo, một bảng tóm tắt rõ ràng về tổng thể, nó giúp họ nắm bắt ý nghĩa vấn đề xuyên qua cách trình bày mù mờ, rời rạc, khó hiểu của hầu hết các khoá học về Aristotle được giảng dạy ngày nay.
Trên hết, cuốn sách này rất quan trọng về mặt văn hóa, là một bước đi đúng hướng, như một sự thừa nhận thực tế rằng Nhà vật lý học vĩ đại cần cho khoa học triết học đang hấp hối của chúng ta là Aristotle - rằng nếu chúng ta muốn vươn lên từ sự hỗn loạn trí tuệ của hiện tại thì chúng ta có thể làm điều đó chỉ bằng cách tiếp cận của Aristote.
“Rõ ràng là,” giáo sư Randall viết, “Aristotle không đề cập tất cả mọi thứ; mặc dù không có những điều ông nói trước đó thì mọi từ ngữ đều trở nên vô nghĩa, và khi điều ông nói bị quên lãng thì chúng thực sự vô nghĩa như thế.”
Đến đây là kết thúc bài bình luận của tôi về tác phẩm của giáo sư Randall như nó xuất hiện trên bản tin khách quan luận, và tôi muốn thêm vài lời của chính tôi về chủ đề của Aristotle. Tôi muốn nói rõ rằng tôi đang nói cho bản thân mình, và không thay mặt cho giáo sư Randall hay sách của ông. Không muốn để lại ấn tượng cho bạn rằng đạo đức và chính trị là thành tựu lớn nhất của Aristotle, tôi muốn nhấn mạnh rằng thành tựu lớn nhất của ông nằm ở lĩnh vực nhận thức luận. Như bạn biết đó, Aristotle là cha đẻ của nền khoa học logic. Bạn đã nghe nhiều sự phản đối về logic của Aristotle mà các nhà triết học hiện đại gọi nó là “logic chính thức”. Bạn đã nghe một số người được gọi là nhà tư tưởng nỗ lực xây dựng cái-gọi-là-logic-đa-giá-trị phi Aristotle; và nếu bạn có nghiên cứu đề tài nào như vậy, bạn sẽ thấy rằng tất cả họ đều dựa trên các gợi ý về quy luật logic của Aristotle, rằng các quy luật logic này là tiền đề cho bất kỳ cuộc thảo luận, dạng ngôn ngữ, bất kỳ tri thức, và bất kỳ lý luận nào của con người. Không có gì có thể được thực hiện trong lĩnh vực ý thức của con người mà không dựa vào quy luật logic này một cách rõ ràng hoặc hàm ẩn như nó đã được Aristotle đưa ra.
Để cho chính xác, bạn phải nhớ rằng Aristotle không đưa ra công thức chính thức nào về các quy luật logic này. Cụ thể, ông ấy đưa ra Luật mâu thuẫn và thậm chí sau đó gián tiếp đề cập ở một đoạn văn trong tác phẩm của mình, nhưng toàn bộ các tác phẩm của ông, thực chất, đều dựa trên sự quan sát quy luật logic mà ông đề ra.
Và tôi đang nói về nhiều hơn và chỉ đơn thuần là tác phẩm của ông, “The Organon” thể hiện quan điểm lý luận logic của ông. Tôi đang nói về sự thật cơ bản và quan trọng hơn của việc đưa khái niệm đó vào tư duy của con người, của việc xác định khái niệm mà tất cả các lập luận và tri thức phụ thuộc vào, gọi là Luật đồng nhất.
Một học giả hay nhiều học giả sau đó đặt công thức đại số “A = A” cho quy luật đồng nhất này. Aristotle không đưa ra nó theo cách cụ thể như vậy, nhưng ông là triết gia đầu tiên xác định quy luật đồng nhất và thiết lập tri thức con người lẫn lập luận từ đó về sau. Khi tôi nói “thiết lập”, ý tôi là “quan sát từng người phản đối Aristotle, từng trường phái tư tưởng huyền bí và bất kỳ nhà triết học nào kể từ thời đại của Aristotle cho đến hiện tại.” Và bạn sẽ thấy rằng một cách trực tiếp hay gián tiếp và thường là hoàn toàn hàm ẩn, các nhà triết học đặt nền tảng các lập luận đả kích của họ trên quy luật đồng nhất.
Chính là quy luật đồng nhất mà các nhà phi duy lý đang nỗ lực đả kích, huỷ hoại và loại bỏ khỏi tư duy loài người, và điều này không thể thực hiện được. Quy luật đồng nhất là tiền đề phải được dùng bởi các kẻ đả kích trong ngay chính hành động chối bỏ nó. Nhưng nếu bạn muốn gỡ rối các cuộc tấn công dữ dội, phức tạp, lạ thường vào lý trí của con người, tôi sẽ để lại cho bạn manh mối này: Hãy xem, trong rất nhiều cách khác nhau, sự bí ấn của các cuộc đả kích chỉ bao gồm một vấn đề cơ bản, đó là nỗ lực phủ định quy luật đồng nhất. Và khi bạn nhận ra điều đó, bạn sẽ rõ ràng nhận ra sự vĩ đại bất diệt không thể so sánh được của Aristotle và của thành tựu của ông. Tạm biệt quý vị và hãy có các tiền đề tốt.
Nguồn: ReasonVN
