Khảo luận thứ hai về chính quyền - Chương 16: Về sự chinh phạt

Khảo luận thứ hai về chính quyền - Chương 16: Về sự chinh phạt

§175. Dù các chính quyền, về nguồn gốc, không thể có sự xuất hiện nào khác hơn là điều đã được đề cập ở trên, các thể chế cũng không được xây dựng trên cái gì khác hơn là sự chấp thuận của nhân dân, nhưng người ta lại gặp phải những hỗn loạn khi tham vọng lấp đầy vào thế giới này, trong tiếng ầm vang của chiến tranh, vốn đã làm nên một phần lớn lịch sử loài người, khiến sự chấp thuận này ít được lưu ý đến. [V]ì thế, đã có nhiều sai lầm trong việc dùng vũ lực quân sự để có sự chấp thuận của người dân, và chinh phạt trở thành một trong những nguồn gốc của chính quyền. Nhưng chinh phạt khác xa với việc dựng nên một chính quyền, giống như việc phá hủy một căn nhà khác với việc xây mới căn khác tại cùng một nơi. Thật sự, cách thức tạo dựng cấu trúc mới cho một cộng đồng quốc gia thường là việc phá hủy cấu trúc cũ, thế nhưng không có sự chấp thuận của nhân dân, không bao giờ có thể tạo dựng nên một cộng đồng quốc gia mới.

§176. Người đi xâm lược, vốn đã tự đặt mình vào trạng thái chiến tranh với người khác, xâm lấn một cách bất chính đối với quyền của người khác bằng cuộc chiến tranh phi nghĩa như vậy, có thể không bao giờ đi đến chỗ có được quyền đối với người bị chinh phục.

[S]ẽ dễ dàng nhận được sự đồng ý của tất cả mọi người, vốn không nghĩ rằng những kẻ cướp trên cạn và cướp ngoài biển có quyền của một đế chế đối với bất kỳ ai mà những kẻ này có đủ vũ lực để trở thành ông chủ, hay rằng người ta bị ràng buộc bởi những lời hứa mà vũ lực phi pháp ép buộc họ. Phải chăng khi một tên cướp đột nhập vào nhà tôi, kề gươm vào cổ tôi, buộc tôi phải đóng dấu vào các văn tự chuyển nhượng điền sản của tôi cho hắn, thì điều này đã cho hắn địa vị [đối với số điền sản này]? Chính là cái địa vị như thế, có được từ thanh gươm đó, khi dùng vũ lực buộc tôi khuất phục, hắn ta trở thành một người chiến thắng bất chính. Việc gây phương hại hay gây tội ác là như nhau, dù phạm phải nó là một người đội vương miện hay một tên côn đồ hèn mọn. Tước vị của kẻ phạm tội và con số những người theo hắn không làm nên khác biệt trong tội lỗi phạm phải, nếu không muốn nói là làm trầm trọng thêm điều đó. Khác biệt duy nhất là những tên cướp ngày đi trừng phạt những tên cướp đêm, để giữ những tên cướp đêm trong vòng tuân phục, còn những tên cướp ngày thì được tưởng thưởng bằng vòng nguyệt quế và sự khải hoàn, vì những tên này quá mạnh so với bàn tay công lý quá yếu trên thế giới này, mà lại còn có quyền lực, vốn trở thành tài sản của riêng họ, để có thể trừng phạt những người bị xem là phạm tội. Vậy phương cách của tôi là gì, để chống lại tên cướp đã đột nhập vào nhà tôi? Cáo kiện đến luật pháp để đòi công lý. Nhưng có lẽ công lý bị chối bỏ, hoặc là tôi bị què cụt và không thể cử động được, bị cướp và không có phương tiện để làm điều đó. Nếu Thượng đế đã lấy đi mọi phương tiện để tìm kiếm phương cách cứu chữa, thì không có gì còn lại ngoài sự kiên nhẫn. Nhưng con của tôi, khi khả năng cho phép, có thể tìm đến sự cứu giúp của luật pháp, là cái đã chối bỏ tôi. Anh ta, tức là con của tôi, có thể phục hồi cáo kiện cho đến khi giành lại được quyền của mình.

[T]hế nhưng, đối với người bị chinh phục hoặc con cái của họ, lại không có một tòa án nào cả, không có một người phân xử trần thế nào để cáo kiện. Vậy thì họ có thể khẩn nài đến trời cao, như Jephthah đã làm, và lặp lại cáo kiện của họ cho đến khi giành lại được cái quyền thiên bẩm của cha ông của họ, vốn là để có một cơ quan lập pháp đặt trên họ, khi đa số chuẩn thuận và ưng thuận một cách tự do. Nếu bị phản đối - đây sẽ là nguyên nhân của những rắc rối bất tận - tôi trả lời: không có công lý nào hơn là khi nó được để mở cho tất cả mọi người có thể cáo kiện đến. Ai gây phiền phức cho hàng xóm của mình mà không có nguyên nhân thì sẽ bị trừng phạt vì điều đó, bằng công lý nơi tòa án được cáo kiện đến. Và ai cáo kiện đến trời cao, phải chắc chắn là lẽ phải về phía mình, và cũng có một lẽ phải đáng có đối với người gây phiền hà và cái giá 

của sự kiện tụng, là anh ta sẽ trả lời tại phiên tòa bằng những điều không thể bị gian dối, và sẽ chắc chắn đền bù lại theo những tổn hại mà anh ta đã tạo ra cho những thần dân đồng hữu của mình, tức với bất kỳ ai thuộc về loài người [mà đã bị như thế]. Từ đây, rõ ràng là người đi chinh phục bằng một cuộc chiến tranh phi nghĩa, chính theo cách này mà không thể có địa vị nào đối với sự khuất phục và phục tùng của người bị chinh phục.

§177. Nhưng giả sử rằng lẽ phải hậu thuẫn cho người chiến thắng, chúng ta hãy xem xét về người đi chinh phạt trong một cuộc chiến hợp pháp, xem quyền lực nào mà ông ta nhận được, và nó được đặt trên những ai.

Thứ nhất, rõ ràng là ông không đạt được quyền lực nào bằng sự chinh phạt của mình lên trên những người cùng đi chinh phạt với ông. Những người đã chiến đấu cùng phía với ông không thể chịu đựng quyền lực của người đi chinh phục này, mà chắc rằng ít ra họ vẫn là những người tự do như trước đây. Và thường gặp nhất là họ phục vụ trong những thời hạn và bối cảnh nhất định, chia sẻ với người cầm đầu và thụ hưởng một phần chiến lợi phẩm cùng những lợi lộc khác khi chăm chút cho thanh gươm chinh phạt, hay ít ra là có được một phần đất nước bị đánh bại được dành ban tặng cho họ. Và người dân của đất nước đi chinh phục - tôi hy vọng - không là những kẻ nô lệ từ sự chinh phạt đó. Vòng nguyệt quế mà họ đội chỉ cho thấy rằng họ là những vật tế thần cho chiến thắng của lãnh tụ của họ. Họ nhận ra nền quân chủ chuyên chế, từ địa vị của thanh gươm, đã làm nên những anh hùng của họ - những người đã sáng lập những nền quân chủ như thế, những thảm đại Draw-can-Sir⁷⁷ đã quên rằng có những sỹ quan và các binh sỹ đã chiến đấu bên cạnh mình trong những trận chiến mà các ông chiến thắng, hoặc đã trợ giúp các ông trong việc chinh phục, hoặc đã cùng chia sẻ việc chiếm hữu những đất nước mà họ làm chủ.

[C]húng ta nghe một số người nói rằng nền quân chủ Anh được xây dựng từ sự chinh phạt của người Norman⁷⁸, rằng các quân vương của chúng ta vì thế mà có đủ tư cách thống trị tuyệt đối; là điều mà nếu có là sự thật (như theo lịch sử nó đã hiện diện khác) và William⁷⁹ có quyền tiến hành chiến tranh chống hòn đảo này, thì sự thống trị của ông, từ sự chinh phạt, không thể vươn xa hơn là đến người Saxon⁸⁰ và người Briton⁸¹, vốn khi đó đã là cư dân của xứ sở này. Người Norman đến cùng với ông, giúp ông trong việc chinh phạt, và tất cả những gì được truyền lại từ đời họ là những người tự do chứ không phải là những người khuất phục do sự chinh phạt này, để mà cho phép đem lại sự thống trị trong tương lai. Và nếu tôi hoặc bất kỳ ai khác khẳng định sự tự do, như đã có nguồn gốc từ họ, thì sẽ rất khó để chứng minh điều ngược lại; đồng thời rõ ràng là luật pháp, vốn không tạo sự phân biệt giữa người này với người kia, sẽ không có bất kỳ sự khác biệt nào trong sự tự do hay trong những đặc ân của họ.

§178. Nhưng giả sử - điều này hiếm khi xảy ra - rằng người đi chinh phục và người bị chinh phục không bao giờ hợp nhất thành một dân tộc, dưới cùng một luật pháp và một nền tự do, chúng ta hãy xem tiếp quyền lực nào mà một người đi chinh phục hợp pháp có được đối với người bị khuất phục, và là cái mà tôi gọi là một quyền lực bạo chính thuần túy. Người chinh phạt có một quyền lực tuyệt đối đối với sinh mạng của những người bị tước mất bằng một cuộc chiến bất chính, nhưng ông không có quyền lực này đối với cuộc sống của những người đã không tham gia giao chiến, mà thậm chí cũng không có điều đó đối với tài sản của những người đã thật sự tham gia vào đó.

§179. Thứ hai, vậy thì tôi nói rằng người đi chinh phạt không có được quyền lực nào đối với ai khác ngoài những người đã thật sự trợ giúp, đồng tình, hay chấp thuận đối với việc sử dụng vũ lực bất chính chống lại ông. Vì người dân đã không hề trao cho các nhà cai trị quyền lực nào để thực hiện những việc không chính đáng, như tiến hành một cuộc chiến tranh phi nghĩa (vì chính họ cũng không bao giờ có một quyền lực như vậy), nên họ không phải chịu trách nhiệm cho tội lỗi của hành động bạo lực và thiếu công lý đã phạm phải trong một cuộc chiến tranh bất chính, khi điều này vượt quá sự tiếp tay thật sự của họ cho nó. [Trách nhiệm của họ] không hề nhiều hơn việc họ bị nghĩ là có tội trong hành động bạo lực hay áp bức của các nhà cai trị của họ sử dụng trên chính nhân dân, mà sau khi trao quyền lực cho những số này, họ cũng không hơn gì như đối với người kia người nọ. Sự thật là người đi chinh phạt hiếm khi tự gây rắc rối cho mình để mà phân biệt điều này, nhưng họ lại sẵn lòng cho phép sự hỗn loạn của chiến tranh để tất cả cùng quét dọn. [N]hưng điều này không thể thay thế lẽ phải, vì quyền lực của người chinh phạt có trên cuộc sống của người bị chinh phạt chỉ là vì họ đã dùng vũ lực để làm điều đó hoặc để duy trì một điều bất chính. [Ô]ng ta có quyền lực đó chỉ trên những người đã đồng tình trong việc sử dụng vũ lực, tất cả những người còn lại là vô can; và ông không có địa vị gì hơn thế nữa để đặt trên người dân của đất nước đó - vốn đã không gây cho ông sự phương hại nào, và vì thế họ không bị tước đoạt cuộc sống - so với những gì ông đặt trên người khác, vốn cũng không gây phương hại hay khiêu khích, và cùng sống dựa trên những điều khoản công bằng với ông.

§180. Thứ ba, quyền lực mà người chinh phạt có trên những người mà ông đã chiến thắng trong một cuộc chiến tranh chính nghĩa, hoàn toàn là một nền bạo chính. [Ô]ng có một quyền lực tuyệt đối đối với sinh mạng của những người phải trả giá khi tự đặt mình vào trạng thái chiến tranh, nhưng không vì thế mà ông có quyền hay danh nghĩa gì đối với tài sản của họ. Điều này không có gì đáng nghi ngờ nhưng thoạt nhìn thì có vẻ như một chủ thuyết lạ lùng, nó hoàn toàn mâu thuẫn với thực tế của thế giới này. [Ở] đó không có gì quen thuộc hơn là việc nói về sự thống trị của các nước so với việc nói về một đất nước đã chinh phạt đối với các nước này, cứ như là việc chinh phạt - không có thêm khó khăn gì nữa - đã chuyển tải một quyền chiếm hữu. Nhưng khi chúng ta xét thấy rằng thực tiễn của sức mạnh và quyền lực, dù có phổ biến đến mức nào chăng nữa, cũng hiếm khi là quy tắc về lẽ phải; thì dù nó có là một phần của sự khuất phục nơi người bị chinh phục, cũng không phải là để biện luận chống lại những điều kiện mà lưỡi gươm chinh phạt đã cắt mất của họ.

§181. Dù trong mọi cuộc chiến tranh thường có sự phức tạp của vũ lực và thiệt hại, và người đi chinh phạt hiếm khi lo là việc xâm hại vào điền sản khi ông ta dùng vũ lực chống lại những người mà cuộc chiến của ông ta nhắm đến. [T]hế nhưng việc sử dụng vũ lực chỉ đặt một người vào trạng thái chiến tranh, vì dù bằng vũ lực ông ta bắt đầu gây ra sự tổn hại, hoặc êm ả hơn, bằng sự gian trá mà thực hiện những phương hại như thế, thì ông cũng từ chối bồi thường và duy trì điều đó bằng vũ lực (cũng giống như lúc đầu đã làm như vậy bằng vũ lực); đó là việc sử dụng vũ lực bất chính để gây nên chiến tranh. Vì ông ta phá cửa nhà tôi và bằng vũ lực tống tôi ra khỏi nhà, hoặc khi đã thanh bình mà dùng vũ lực buộc tôi ra, thì thực tế đều cùng là một việc, với giả định chúng ta đang sống trong tình trạng không có quan tòa thế tục chung, là người mà tôi có thể cáo kiện đến, và là người mà cả hai phía đều buộc phải tuân thủ, đối với những điều như tôi đang nói. Đó là việc sử dụng vũ lực bất chính, khiến đặt một người vào trạng thái chiến tranh với người khác, và do đó, là lỗi lầm khiến tước bỏ sinh mạng của ông ta. Với việc rời bỏ lý trí - cái quy tắc [hành xử] đã được trao cho giữa người với người, và với việc sử dụng vũ lực - cách thức của cầm thú, ông ta có khả năng bị tiêu diệt bởi người mà ông dùng vũ lực chống lại, như bất kỳ mãnh thú đói khát nào khác, có nghĩa là gây nguy hiểm đối với sự sống của ông ta.

§182. Nhưng vì thất bại của cha không phải là thất bại của con cái, và họ có thể biết lý lẽ và yêu hòa bình, không chịu được tính hung bạo và bất chính của người cha, nên người cha, bằng thất bại và bạo lực của mình, chỉ có thể tước đoạt cuộc sống của chính mình mà không liên can đến con cái về tội lỗi hoặc sự hủy diệt của ông. Tài sản của ông - mà tự nhiên vốn chủ tâm bảo toàn mọi tài sản đến mức cao nhất có thể được cho cả loài người - đã được làm ra để thuộc về các con ông, nhằm tránh cho chúng chết chóc [vì nghèo đói], vẫn tiếp tục thuộc về con cái ông; vì giả sử chúng không can dự vào chiến tranh, hoặc do còn nhỏ, không có mặt trong cuộc chiến, hoặc do chọn lựa, chúng đã không làm gì để mà tước đoạt họ. [Đ]ồng thời, người chiến thắng cũng không có quyền gì để lấy đi tài sản đó với tư cách trần trụi của việc đánh bại người đã dùng vũ lực để cố thực hiện sự hủy diệt, dù có lẽ ông ta có thể có quyền nào đó đối với họ, để đền bù cho những thiệt hại ông đã gánh chịu do chiến tranh; và việc phòng vệ cho quyền của chính ông còn xa mới có thể chạm đến tài sản của người bị chinh phục, mà chúng ta sẽ thấy ngay bây giờ.

[B]ằng việc chinh phạt, ông ta có quyền tiêu diệt một cá nhân con người - nếu muốn, nhưng không vì thế mà có quyền chiếm hữu và thụ hưởng đối với tài sản để lại của người này. Với vũ lực hung bạo mà người đi xâm lược sử dụng, nó đã trao cho đối phương quyền lấy đi cuộc sống của ông ta và tiêu diệt ông nếu người này muốn, như đối với một sinh vật nguy hại; nhưng sẽ là nguy hiểm nếu điều này được tiếp tục đến mức riêng một mình nó lại cho ông ta tư cách đối với tài sản của người khác. [V]ì cho dù tôi có thể giết một tên cướp tấn công tôi trên đường cái quan, nhưng tôi không thể lấy tiền bạc của hắn rồi thả đi (điều này dường như ít xảy ra): đây sẽ là một vụ cướp về phía tôi. Vũ lực của hắn và trạng thái chiến tranh hắn tự đặt mình vào khiến hắn tước đoạt cuộc sống của mình, nhưng không hề cho tôi tư cách gì đối với tài sản của hắn. Vậy thì quyền của người đi chinh phạt chỉ mở rộng đến sinh mạng của những người đã tham gia vào chiến tranh, mà không đến di sản của họ, nhưng cũng chỉ là để cứu chuộc cho những thiệt hại đã có và phí tổn của chiến tranh; và điều đó được thực hiện cũng với sự bảo toàn đối với quyền của những người vợ và các con trẻ vô tội.

§183. Hãy cứ để người chiến thắng mang nhiều chính nghĩa về phía mình như ông có thể nghĩ đến, ông ta cũng không có quyền tịch thu nhiều hơn những gì mà người chiến bại có thể bị tước mất. [S]inh mạng của hắn ta phụ thuộc vào sự nhân từ của người chiến thắng, tôi tớ và tài sản của hắn ông có thể chiếm đoạt để bồi thường thiệt hại cho mình, nhưng ông không thể lấy đi tài sản của vợ và con hắn; họ cũng có tư cách đối với số tài sản mà hắn đã thụ hưởng và có phần của họ trong số di sản mà hắn đã có.

[V]í dụ, khi tôi sống trong trạng thái tự nhiên (và tất cả các cộng đồng quốc gia đều trong trạng thái tự nhiên) đã xúc phạm đến người khác, và sự từ chối đáp ứng cho việc rửa nhục dẫn đến trạng thái chiến tranh, thì dưới mọi khía cạnh, việc tôi bảo vệ bằng vũ lực cho cái mà tôi nhận được một cách bất chính đều khiến tôi trở thành một kẻ xâm đoạt. Tôi bị chế ngự và sinh mạng của tôi thật sự bị tước đoạt, chứ không phải là cuộc sống của vợ và các con tôi. Họ không làm nên chiến tranh, mà cũng không hỗ trợ vào đó. Tôi không thể khiến họ bị tước mất cuộc sống, vì họ không phải là sinh mạng của tôi để mà bị tước bỏ. Và con cái được tôi sinh ra có quyền được duy trì sự tồn tại mà không liên quan đến lao động hay của cải của tôi. Vậy trường hợp này thì: người đi chinh phạt có tư cách để nhận bồi thường cho những thiệt hại đã phải chịu, còn số con cái kia thì có tư cách đối với di sản của người cha cho sinh kế của họ. [V]ề phần của người vợ, dù lao động của chính cô hay giao ước [hôn nhân] đã cho cô ta danh nghĩa đó hay không, thì cũng rõ ràng là chồng của cô không thể khiến tước đi cái vốn đã là của cô. Điều gì chắc chắn được thực hiện trong trường hợp này? Tôi trả lời: luật căn bản của tự nhiên là mọi người phải được bảo toàn, ở mức cao nhất có thể được; nó dẫn đến một điều, là nếu không hoàn toàn đầy đủ để thỏa mãn cho cả hai, tức là cho những mất mát của người đi chinh phạt và cho việc duy trì sự tồn tại của con cái [người bị chinh phạt], thì người có và có dư [của cải] phải giảm bớt sự thỏa mãn đến mức đầy đủ của mình và dành nó cho người có sự cấp bách hơn, có tư cách thích hợp hơn, là những người đang bị đe dọa đến tính mạng nếu không có phần đó.

§184. Nhưng giả sử phí tổn và tiền bồi thường chiến tranh được thu vén cho người đi chinh phạt đến đồng xu cuối cùng, và đến mức là con cái của người chiến bại bị tước đoạt hết mọi tài sản từ cha chúng, bị bỏ mặc cho đói khổ và chết chóc, thì về điểm này, việc làm thỏa mãn cho điều vốn là nghĩa vụ [của người bị đánh bại] đối với người đi chinh phục, sẽ hiếm khi cho ông ta tư cách đối với bất kỳ đất nước nào mà ông chinh phạt.

[V]ì khoản bồi thường chiến tranh hiếm khi tính đến giá trị của những vùng đất rộng lớn, rất đáng kể ở đâu đó của thế giới, nơi mà mọi đất đai đều có chiếm hữu và không bị bỏ hoang phí. Và nếu tôi không chiếm lấy đất của người đi chinh phạt, mà nay đã bị chế ngự, thì sẽ là điều bất khả thi cho tôi; không dễ có chiến lợi phẩm nào khác tôi giao cho ông ta có thể được tính là giá trị tài sản của tôi, giả sử nó cũng được gieo trồng, và là một khu mở rộng mà theo cách nào đó tôi đã gần như là tràn lấn của ông ta. Việc tiêu hủy sản phẩm của một hoặc hai năm (vì ít khi đến bốn hay năm năm) là lợi lộc hậu chiến cao nhất thường được thực hiện; vì với tiền bạc, của cải và ngân khổ bị lấy đi, đây không phải là những sản vật của tự nhiên, chúng chỉ có giá trị tưởng tượng lạ thường; tự nhiên không đặt lên chúng giá trị như thế. Chúng không được tính bằng tiêu chuẩn gì của tự nhiên hơn là như những wampompeke⁸² của người châu Mỹ đối với một quân vương ở châu Âu, hay như tiền làm bằng bạc của châu Âu thuở trước đối với một người châu Mỹ. Và sản phẩm của năm năm không đáng giá như quyền thừa kế đất đai vĩnh viễn - khi mà tất cả đều đã có chiếm hữu và không bị bỏ hoang - để ông ta lấy đi như cái bị chiếm đoạt. [Đ]iều sẽ dễ dàng được công nhận là nếu người ta chỉ lấy đi cái giá trị tưởng tượng của tiền bạc, thì sự mất cân đối sẽ nhiều hơn là giữa năm và năm trăm dù cùng lúc đó, một nửa sản phẩm của một năm lại đáng giá hơn là quyền thừa kế. [N]ơi có nhiều đất hơn là số mà cư dân chiếm hữu và sử dụng, thì bất kỳ ai cũng có quyền tự do sử dụng phần đất bỏ hoang, nhưng nơi đó những người chiến thắng ít lưu tâm đến việc tự mình chiếm hữu đất đai của người chiến bại.

[B]ởi vậy, không nguy hiểm nào mà con người trong trạng thái tự nhiên (như tất cả các quân vương và các chính quyền có liên can đến người khác) chịu đựng từ người khác có thể cho người đi chinh phạt quyền lực để tước quyền chiếm hữu đối với con cháu của người thất trận và tống xuất họ khỏi quyền thừa kế, là cái phải thuộc quyền chiếm hữu của họ, qua suốt các thế hệ con cháu. Người chiến thắng thật sự thường hay nghĩ mình là chủ nhân, và đây chính là điều kiện khiến người thất trận không thể tranh cãi về quyền của họ. Nhưng nếu đó là tất cả, nó không đem lại một địa vị nào khác hơn là cái mà vũ lực trần trụi đem lại cho người mạnh đối với kẻ yếu, và, với lý lẽ này, ai là người mạnh nhất thì sẽ có quyền đối với bất cứ thứ gì anh ta muốn chiếm lấy.

§185. Vậy thì, đối với những người đã liên kết trong chiến tranh với người đi chinh phạt, đối với những người không chống lại ông trong đất nước bại trận, và cho dù là với con cháu của những người chống đối, thì người chiến thắng - ngay cả trong chiến tranh chính nghĩa, bằng sự chinh phạt của mình, ông cũng không có quyền để thống trị. Họ tự do trước bất kỳ sự khuất phục nào đối với ông, và nếu chính quyền trước đây của họ bị giải thể, họ cũng có quyền tự do để khởi sự và tạo dựng nên một chính quyền mới cho chính mình.

§186. Sự thật thì bằng vũ lực, người chinh phạt vẫn thường cưỡng bách họ, với thanh gươm trên ngực, gập người [thề nguyện] trước những điều kiện của ông và phục tùng một chính quyền mà ông ban cho họ theo ý thích của mình; nhưng vấn đề là ông ta có quyền gì để làm điều đó? Nếu nói rằng họ phục tùng do sự chấp thuận của chính họ, thì điều này cho phép sự chấp thuận của họ là điều thiết yếu để trao cho người chinh phạt một tư cách để cai trị họ. Điều duy nhất còn lại cần xem xét là những lời hứa bị thúc ép bằng vũ lực có thể được xem là chấp thuận hay không, và chúng có sự ràng buộc đến mức độ nào. Với điều này, tôi sẽ nói rằng chúng không ràng buộc gì cả, vì bất cứ điều gì mà người khác lấy được từ tôi bằng bạo lực, thì tôi vẫn giữ quyền của mình đối với nó, và ông ta chẳng mấy chốc sẽ buộc phải hoàn trả cho tôi. Ông ta mà dùng vũ lực lấy đi con ngựa của tôi thì chẳng mấy chốc phải hoàn trả nó, và tôi vẫn giữ cái quyền lấy lại cho mình. Với cùng lý lẽ, ông ta mà dùng vũ lực lấy được lời hứa của tôi, thì chẳng mấy chốc sẽ phải hoàn trả - tức tháo bỏ cho tôi nghĩa vụ phải tuân thủ nó, hoặc tôi sẽ tự giành lại cho mình - tức sẽ tự chọn lựa là có thực hiện nó hay không, vì luật tự nhiên đặt nghĩa vụ lên tôi chỉ bằng những quy tắc mà nó quy định, chứ không buộc tôi tuân thủ bằng việc xâm phạm những quy tắc của nó, như là việc thúc ép được điều gì đó nơi tôi bằng vũ lực. Cũng không có gì làm thay đổi ở trường hợp nói rằng tôi xin hứa và bỏ qua sự thực của lời hứa, khi mà không gì hơn là nó ứng xử với vũ lực, vào lúc tôi thò tay vào túi mình và tự đưa ví tiền cho tên cướp đang đòi có cho được nó với khẩu súng ngắn dí vào ngực tôi.

§187. Tất cả những điều trên dẫn đến việc là chính quyền của người chiến thắng, được áp đặt bằng vũ lực lên người bại trận - mà vốn người chiến thắng không có quyền của chiến tranh để chống lại họ hay chống lại những người đã không liên kết chống lại ông trong chiến tranh - là nơi ông ta đã có quyền, lại không có một nghĩa vụ nào đặt lên trên họ.

§188. Nhưng chúng ta hãy giả định rằng tất cả mọi người của cộng đồng đó, đều là thành viên của cùng một cơ thể chính trị, có thể buộc phải liên kết trong một cuộc chiến phi nghĩa, bị đánh bại, và vì thế mạng sống của họ tùy thuộc vào lòng nhân từ của người đi chinh phạt.

§189. Tôi xin nói rằng điều này không liên can đến con cái đang ở tuổi vị thành niên của họ. Vì một người cha vốn tự thân không có quyền lực trên cuộc sống hay tự do của con mình, nên không hành động nào của ông khả dĩ có thể tước đoạt nó. Đến mức là dù bất cứ điều gì có thể xảy ra với người cha, thì con cái vẫn là những người tự do, và quyền lực chuyên chế mà người chiến thắng chạm vào không vượt quá cá nhân của những người đã bị ông đánh bại, và quyền lực đó chết đi cùng với họ. [Ô]ng phải cai quản họ như những người nô lệ khuất phục trước quyền lực độc đoán chuyên chế của ông, nhưng ông không có quyền hay sự thống trị nào như thế lên con cái của họ. Ông không thể có quyền lực nào lên những người con này ngoài từ sự chấp thuận của chính họ, đối với bất cứ những gì mà ông có thể điều khiển để họ nói hay làm; và ông cũng không có thẩm quyền hợp pháp khi dùng vũ lực, mà không phải là chọn lựa [của họ], khi cưỡng bách họ phục tùng.

§190. Mỗi người sinh ra đều có một quyền gồm hai mặt. Thứ nhất, đó là quyền tự do đối với cá nhân mình, là cái mà không một ai khác có quyền lực đối với nó ngoài sự sắp đặt tự do trên cơ sở tự thân. Thứ hai, là quyền cùng với anh em của mình thừa kế tài sản của người cha, trước khi bất kỳ ai khác có được nó.

§191. Về mặt thứ nhất, một người đương nhiên tự do, không phải khuất phục trước bất kỳ chính quyền nào, cho dù anh ta có được sinh ra ở một nơi thuộc quyền tài phán của nó. Nhưng nếu anh ta từ chối chính quyền hợp pháp của đất nước mà tại đó anh đã sinh ra, anh ta cũng phải từ bỏ cái quyền đã thuộc về mình theo luật pháp của nơi này, từ bỏ những của cải có ở đó được truyền đến anh từ cha ông, nếu đó là một chính quyền được làm nên từ sự chấp thuận của họ.

§192. Về mặt thứ hai, cư dân của một đất nước mà vốn họ là những người được truyền lại và có tư cách đối với số di sản từ những người bị đánh bại, đồng thời có một chính quyền dùng vũ lực áp đặt lên họ trái ngược với sự chấp thuận một cách tự do của họ; thì họ vẫn giữ được quyền đối với tài sản của cha ông họ, cho dù họ có đồng ý một cách không tự do với một chính quyền mà những điều kiện hà khắc của nó đã được áp đặt bằng vũ lực lên những người chủ sở hữu của đất nước. Vì người chinh phạt đầu tiên đã không bao giờ có tư cách đối với đất đai của đất nước này, nên nhân dân - những người là hậu duệ hay nhận là có quan hệ thấp hơn của những người đã bị vũ lực buộc phục tùng - bằng sự gượng ép, đối với ách cai trị của chính quyền, luôn có quyền để giữ bỏ nó và giải phóng cho chính mình khỏi sự tiếm quyền, hay một nền chuyên chế mà thanh gươm đã mang đến cho họ, cho đến khi các nhà cai trị đặt họ dưới một cấu trúc chính quyền mà họ sẵn lòng chấp thuận nó. Ai nghi ngờ rằng chính là người Thiên chúa giáo Hy Lạp, hậu duệ của những người cổ đại đã chiếm hữu đất nước này, có thể vứt bỏ ách cai trị Thổ Nhĩ Kỳ mà họ đã rên siết dưới nó trong một thời gian dài, với chính nghĩa của họ, bất cứ khi nào họ có cơ hội để làm điều đó? Vì không một chính quyền nào có quyền nhận sự tuân phục của nhân dân một đất nước khi họ đã không chấp thuận một cách tự do về điều đó, là việc mà họ không bao giờ được cho là có thể làm, cho đến khi mà hoặc là họ được đặt vào một trạng thái tự do đầy đủ để chọn lựa chính quyền và những người cai quản mình, hoặc ít nhất là đến khi họ có những luật thường trực như vậy, mà bằng chính mình hay qua những người đại diện, họ đã trao cho chúng sự chấp thuận một cách tự do của mình; và cho đến khi họ được cho phép hưởng quyền sở hữu của họ, để vì thế mà là chủ sở hữu của những gì họ có, và không bất kỳ ai được lấy đi bất kỳ phần nào từ đó mà không có sự đồng ý của chính họ. [K]hông có những điều như thế, con người sống dưới một chính quyền bất kỳ nào cũng đều không phải sống trong trạng thái của những người tự do, mà là của những nô lệ trực tiếp, đặt dưới vũ lực của chiến tranh.

§193. Nhưng dù có việc chấp nhận rằng người đi chinh phạt trong một cuộc chiến chính nghĩa có quyền đối với số di sản của những người thất trận, và cũng có quyền lực đối với cá nhân con người họ - điều mà rõ ràng là người chiến thắng không có, thì từ đây cũng không hề dẫn đến một quyền lực chuyên chế trong quá trình tiếp theo của chính quyền này. Vì tất cả con cháu của những người thất trận đều là những người tự do, nếu như ông ban cho họ điền sản và tài sản để cư trú trên đất nước của ông (không có điều này thì không đáng gì), thì bất cứ thứ gì mà ông ban cho họ, họ - trong chừng mực được ban cho đó - sẽ có sở hữu đối với nó. [V]ề việc này, điều tự nhiên là không có sự đồng ý của chính một người nào đó, sở hữu không thể bị tước khỏi anh ta.

§194. Con người cá nhân của họ vốn là tự do từ một quyền bẩm sinh, và sở hữu của họ, dù nhiều hay ít, đều là của riêng họ và thuộc quyết định của chính họ chứ không phải là của người chinh phạt; nếu khác đi, đó không hề là sở hữu. Giả sử người chiến thắng ban tặng vĩnh viễn một ngàn mẫu đất cho một người và những người thừa kế sau này của anh ta; với một người khác ông ta giao cho một ngàn mẫu đất, chỉ trong vòng một đời của người này và với mức cho thuê năm mươi bảng hay năm trăm bảng một năm. Phải chăng người thứ nhất không có quyền đối với một ngàn mẫu đất mãi mãi của anh ta, còn người kia thì suốt cuộc đời phải trả khoản thuê mướn đã được nói đến? Và phải chăng người thuê mướn này, trong cuộc đời mình, không có được sở hữu đối với tất cả những gì anh ta thu được trên toàn bộ phần đất thuê bằng lao động và sự cần cù, trong thời hạn đã nói đến, nếu giả sử nó nhiều gấp đôi khoản phải trả để thuê? Ai có thể nói, rằng quốc vương hay người chinh phạt, sau khi ban phát, bằng quyền lực của người chiến thắng, có thể lấy đi tất cả hay một phần đất đai từ những người thừa kế của người thứ nhất, hoặc từ người kia trong cuộc đời phải trả khoản thuê mướn của anh ta? Hay, ông có thể chăng khi lấy đi hoặc là sản vật hoặc là tiền bạc mà họ có được từ phần đất đã nói đến, theo ý thích của ông? Nếu ông có thể làm điều đó, thì tất cả những khế ước tự do và tự nguyện đều chấm dứt, và là những thứ trống rỗng trên thế giới này. [V]ào lúc đó, không cần gì ngoài một quyền lực đủ để hủy bỏ chúng, và tất cả những ban phát cùng hứa hẹn của những con người nắm giữ quyền lực chỉ là sự giễu cọt và thông đồng. Vì có thể còn điều gì nực cười hơn khi nói rằng tôi cho anh và đó là của anh mãi mãi, bằng sự truyền đạt trọng thể nhất và bảo đảm nhất có thể nghĩ ra, nhưng điều này lại được hiểu rằng tôi có quyền, nếu tôi muốn, lấy lại nó ngay ngày mai?

§195. Tôi sẽ không tranh cãi vào lúc này, về việc các quân vương có được sự miễn trừ đối với luật pháp của nước họ hay không, nhưng tôi chắc chắn điều này: họ có trách nhiệm phục tùng đối với luật của Thượng đế và tự nhiên. Không một ai, không một quyền lực nào có thể miễn trừ cho họ nghĩa vụ đối với những luật bất diệt này. Những nghĩa vụ này rất cao cả và rất mạnh mẽ trong trường hợp của những lời hứa, đến mức chính đấng Vạn năng cũng có thể bị chúng ràng buộc. Ban phát, hứa hẹnthề nguyện là những ràng buộc mà đấng Toàn năng cũng phải thực hiện. [B]ất cứ điều gì mà những kẻ xu nịnh nói với các quân vương của thế giới này, những người mà tất cả họ, cùng với toàn thể khối dân chúng đã liên kết với họ, đều cùng chung trong sự so sánh của Thượng đế vĩ đại, thì chỉ như là giọt nước giữa biển cả hay hạt cát giữa sa mạc mà thôi, không hề đáng kể gì.

§196. Nói ngắn tắt về trường hợp chinh phạt này là: người đi chinh phạt, nếu có nguyên nhân chính nghĩa, có một quyền bạo chính đối với cá nhân của tất cả những ai đã thật sự trợ giúp và đồng tình với cuộc chiến chống lại ông, đồng thời với quyền thu vén về cho những thiệt hại và chi phí của ông ngoài lao động và di sản của họ, vì thế ông không làm tổn thương quyền của bất kỳ ai khác. Đối với phần nhân dân còn lại, nếu có những người đã không đồng ý với cuộc chiến [chống lại ông], và đối với chính con cái của những người bị bắt, hoặc với tài sản của hai nhóm người này, ông không hề có quyền gì. [V]à vì thế, bằng hành động chinh phạt, tự ông không có một tư cách hợp pháp để đặt sự thống trị lên họ hay có được nó cho con cháu của ông, ngoài tư cách của kẻ xâm lược nếu ông xâm phạm đến sở hữu của họ, và do vậy tự đặt mình vào trạng thái chiến tranh chống lại họ. [V]à không có một quyền tốt hơn của vương vị, người đi chinh phạt đó cũng không có bất kỳ người kế vị nào ngoài Hingar hay Hubba⁸³, những người Đan Mạch đã có ở xứ Anh này; hay Spartacus⁸⁴ đã chinh phục Italia là để vứt bỏ ách cai trị họ phải mang, ngay khi mà Thượng đế cho những người sống dưới sự khuất phục một dũng khí và cơ hội để làm điều đó. Vì thế, bất chấp địa vị nào mà các hoàng đế Assyria⁸⁵ đã có đối với người Judah⁸⁶ nhờ thanh gươm, Thượng đế đã trợ giúp cho Hezekiah⁸⁷ vứt bỏ sự thống trị của đế chế đi chinh phạt này. Đấng Chúa tể đã đứng về phía Hezekiah, và ông đã thành công, tiếp tục tiến về phía trước, nổi loạn chống lại hoàng đế Assyria và không phụng sự cho ông ta (2. Kings, xviii. 7)⁸⁸. Từ đây, rõ ràng là việc giũ bỏ một quyền lực có được từ vũ lực và bất chính đã được đặt vào bất cứ ai, dù là mang danh nghĩa phiến loạn; điều đó không hề phạm tội trước Thượng đế, mà nó chính là điều ngài cho phép và khuyến khích, cho dù có những lời hứa và hiệp ước có được bằng sự can thiệp của vũ lực. Đối với bất kỳ ai chăm chú đọc câu chuyện của Ahaz⁸⁹ và Hezekiah, thì thấy rất chắc chắn rằng người Assyria đánh bại Ahaz, truất phế ông và đưa Hezekiah lên làm vua khi cha mình vẫn còn tại thế, và rằng Hezekiah bằng sự thỏa thuận đã tôn kính và ngưỡng mộ ông suốt thời gian này.

⁷⁷ Draw-can-Sir: những nhân vật giết sạch người từ mọi phía, trở thành một cách ngôn từ vở kịch The Rehearsal (Diễn tập) của đệ nhị Công tước xứ Buckingham, George Villiers (1628-1687), chính khách người Anh.

⁷⁸ Norman: cư dân tại Normandy, phía bắc xứ Gaul (Pháp), chinh phục hầu hết xứ Anh (1066) và đóng vai trò lớn về chính trị, quân sự và văn hóa tại phương bắc và vùng Địa Trung Hải vào thời Trung cổ.

⁷⁹ William xứ Normandy (1027?-1087): cai trị với tư cách Công tước xứ Normandy trong khoảng thời gian 1035-1087, và từ năm 1066 cũng đồng thời là Quốc vương xứ Anh.

⁸⁰ Saxon: cư dân của một số vùng thuộc lãnh thổ Đức và một phần đông bắc Hà Lan ngày nay; vào thế kỷ thứ V, cùng với người Angle, người Jute và người Frisia đi chinh phạt và di dân đến xứ Anh, hợp nhất với người bản địa thành người Anglo-Saxon.

⁸¹ Briton: cư dân phía nam xứ Anh ở thời điểm trước khi người Anglo-Saxon xâm lấn.

⁸² Wampompeke: vỏ sò được xâu lại, dùng làm tiền của người Indian Bắc Mỹ.

⁸³ “Hingar” và “Hubba”: có lẽ là Ingware và Ubba, tên những lãnh tụ Đan Mạch của cuộc xâm lược thứ nhất vào xứ Anh năm 860, theo sử biên niên Anglo-Saxon.

⁸⁴ Spartacus (120?-70? TCN): đấu sĩ nô lệ, lãnh đạo cuộc nổi dậy của nô lệ chống lại Cộng hòa Rome, nhiều chiến tích nhưng cuối cùng cũng thất bại đẫm máu.

⁸⁵ Một vương quốc cổ đại ở phía bắc Mesopotamia (Iraq ngày nay).

⁸⁶ Bộ tộc do Judah, con của Jacob, thành lập.

⁸⁷ Hezekiah: vua thứ mười ba của Vương quốc Judah độc lập. Theo một số học giả hiện đại, Hezekiah trị vì trong khoảng thời gian 715 (hoặc 716)-687 TCN.

⁸⁸ Quyển Các vị vua II, Cựu ước.

⁸⁹ Ahaz: vua của Judah, con và là người kế tục của Jotham, cha của Hezekiah.

Nguyên tác: John Locke, Two treatises of Government (Cambridge Text in the History of Political Thought), Cambridge University Press, 1960, 1967, 1988, 17th printing 2005

Bản dịch: Luận thứ hai về chính quyền - chính quyền dân sự, NXB Tri Thức, dịch giả Lê Tuấn Huy

Dịch giả:
Lê Tuấn Huy