Vì một nền tự do mới - Chương 6: Tự do cá nhân

Vì một nền tự do mới - Chương 6: Tự do cá nhân

Tự do ngôn luận

Tất nhiên, có rất nhiều vấn đề về tự do cá nhân không thể bị gộp chung vào phạm trù “lao dịch cưỡng bức”. Tự do ngôn luận và tự do báo chí từ lâu đã được những người tự giới hạn mình trong hàng ngũ “những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân trong lĩnh vực dân sự” trân trọng—“dân sự” ở đây có nghĩa là loại bỏ tự do kinh tế và quyền sở hữu tư nhân ra khỏi phương trình. Nhưng chúng ta đã thấy rằng “tự do ngôn luận” không thể được duy trì như một quyền tuyệt đối, ngoại trừ khi nó được đặt trong khuôn khổ của các quyền sở hữu chung của cá nhân (bao gồm cả quyền sở hữu thân thể của chính mình). Vì thế, người hét lên “cháy” trong một nhà hát đông đúc không có quyền làm vậy, bởi anh ta đang xâm phạm đến quyền sở hữu hợp đồng của chủ rạp và của các khán giả trong buổi diễn.

Tuy nhiên, ngoài những trường hợp xâm phạm tài sản, quyền tự do ngôn luận nhất thiết phải được mọi người theo chủ nghĩa tự do cá nhân bảo vệ đến cùng. Quyền được nói, được in ấn, và được bán bất kỳ phát ngôn nào trở thành quyền tuyệt đối, trong bất cứ lĩnh vực nào mà lời nói hay biểu đạt đó hướng tới. Trong điểm này, những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân trong lĩnh vực dân sự nhìn chung có thành tích đáng kể, và trong ngành tư pháp, cố Thẩm phán Hugo Black đặc biệt nổi bật với vai trò bảo vệ quyền tự do ngôn luận trước sự can thiệp của chính phủ, dựa trên Tu chính án Thứ nhất của Hiến pháp.

Nhưng vẫn có những lĩnh vực mà ngay cả những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân trong lĩnh vực dân sự nhiệt thành nhất cũng, đáng tiếc thay, thường tỏ ra mơ hồ. Chẳng hạn, vấn đề “kích động bạo loạn”, trong đó người phát biểu bị kết tội vì đã khuấy động đám đông, rồi đám đông ấy nổi loạn và gây ra nhiều hành vi tội ác chống lại con người và tài sản. Theo quan điểm của chúng tôi, “kích động” chỉ có thể bị coi là tội phạm nếu ta phủ nhận quyền tự do ý chí và quyền lựa chọn của mỗi cá nhân, và giả định rằng nếu A nói với B và C: “Các anh cứ đi mà gây bạo loạn đi!” thì B và C sẽ bất lực tuân theo và tất yếu phạm tội. Nhưng người theo chủ nghĩa tự do cá nhân, vốn tin tưởng vào quyền tự do ý chí, phải khẳng định rằng, cho dù việc A cổ vũ bạo loạn có thể là vô đạo đức hay đáng tiếc, thì điều đó vẫn hoàn toàn nằm trong phạm vi vận động và không thể bị trừng phạt bởi pháp luật. Tất nhiên, nếu A cũng trực tiếp tham gia vào vụ bạo loạn, thì chính anh ta trở thành kẻ gây bạo loạn và phải chịu hình phạt tương ứng. Hơn nữa, nếu A là trùm của một tổ chức tội phạm, và, như một phần của hành vi phạm tội, ra lệnh cho tay chân: “Chúng mày hãy đi cướp ngân hàng này nọ!” thì dĩ nhiên, theo luật về đồng phạm, A trở thành kẻ tham gia, thậm chí là kẻ cầm đầu trong chính vụ phạm tội đó.

Nếu bản thân việc vận động không bao giờ nên bị coi là tội phạm, thì “âm mưu vận động” lại càng không thể bị coi là tội phạm. Bởi lẽ, trái ngược với sự phát triển đáng tiếc của luật âm mưu, việc “âm mưu” (nghĩa là đồng thuận) làm điều gì đó không bao giờ có thể bất hợp pháp hơn chính hành vi đó. (Thực tế, “âm mưu” có thể được định nghĩa thế nào ngoài việc là một thỏa thuận giữa hai hay nhiều người nhằm làm điều gì đó mà bạn - kẻ tự cho mình quyền định nghĩa – không ưa?[1])

Một lĩnh vực khó khăn khác là luật phỉ báng và vu khống. Luật này từ lâu vẫn được coi là hợp pháp khi hạn chế quyền tự do ngôn luận nếu lời nói đó gây tổn hại đến danh tiếng của người khác một cách sai trái hoặc ác ý. Tóm lại, luật phỉ báng và vu khống lập luận rằng có một quyền sở hữu nào đó của con người nằm ở “danh tiếng” của chính mình. Tuy nhiên, một người không thể thực sự sở hữu “danh tiếng” của mình, bởi nó hoàn toàn là kết quả của cảm xúc và thái độ chủ quan nơi người khác. Và vì không ai có thể “sở hữu tâm trí và thái độ của người khác”, có nghĩa là không ai có thể thực sự có quyền sở hữu đối với “danh tiếng” của mình. Danh tiếng của một người luôn biến động, tùy thuộc vào thái độ và ý kiến của cộng đồng. Do đó, việc phát ngôn công kích ai đó không thể bị coi là xâm phạm quyền sở hữu, và vì thế không nên bị hạn chế hay trừng phạt bởi pháp luật.

Tất nhiên, buộc tội sai sự thật đối với người khác là vô đạo đức, nhưng một lần nữa, với những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân, đạo đức và pháp lý là hai phạm trù hoàn toàn khác nhau.

Hơn nữa, xét về mặt thực dụng, nếu không tồn tại luật phỉ báng hay vu khống, con người sẽ ít có khuynh hướng tin vào những cáo buộc vô căn cứ hơn so với hiện nay. Ngày nay, khi một người bị buộc tội về một khuyết điểm hay hành vi sai trái nào đó, phản ứng chung thường là tin ngay, bởi vì nếu cáo buộc là sai, thì “tại sao anh ta không kiện tội phỉ báng?” Luật phỉ báng, dĩ nhiên, phân biệt đối xử với người nghèo, vì những người có ít nguồn lực tài chính khó lòng theo đuổi một vụ kiện phỉ báng tốn kém như người giàu. Hơn thế nữa, người giàu lại có thể dùng luật phỉ báng như một vũ khí để đe dọa và bịt miệng những người nghèo hơn, hạn chế những cáo buộc và lời nói vốn hoàn toàn chính đáng, chỉ bằng cách dọa kiện đối thủ nghèo của mình vì tội phỉ báng. Nghịch lý là, chính những người có nguồn lực hạn chế lại dễ trở thành nạn nhân của phỉ báng hơn—và đồng thời bị hạn chế quyền tự do ngôn luận—trong hệ thống hiện tại, so với một thế giới không hề có bất kỳ luật nào chống phỉ báng hay bôi nhọ.

May mắn là, trong những năm gần đây, các luật chống phỉ báng đã dần được nới lỏng, nhờ đó người ta có thể thẳng thắn đưa ra những lời chỉ trích mạnh mẽ và sắc bén đối với quan chức nhà nước hay những nhân vật của công chúng mà không còn sợ phải gánh chịu những vụ kiện tụng tốn kém hay bị trừng phạt theo pháp luật.

Một hành động khác cũng phải được bảo vệ tuyệt đối khỏi mọi sự hạn chế là tẩy chay. Tẩy chay đơn giản chỉ là khi một hay nhiều người sử dụng quyền tự do ngôn luận của mình để kêu gọi, vì bất kỳ lý do nào — quan trọng hay tầm thường — những người khác ngừng mua sản phẩm của ai đó. Thí dụ, nếu một nhóm người phát động chiến dịch kêu gọi người tiêu dùng ngừng mua Bia XYZ, thì đó rõ ràng chỉ là một hình thức vận động thuần túy. Và hơn thế nữa, nó vận động cho một hành động hoàn toàn chính đáng: không mua loại bia đó. Một cuộc tẩy chay thành công có thể gây bất lợi cho nhà sản xuất Bia XYZ, nhưng điều đó hoàn toàn nằm trong khuôn khổ tự do ngôn luận và quyền sở hữu cá nhân. Các nhà sản xuất phải chấp nhận rủi ro trước sự lựa chọn tự do của người tiêu dùng; và người tiêu dùng có toàn quyền lắng nghe và để mình bị thuyết phục bởi bất cứ ai mà họ muốn. Vậy mà luật lao động lại ngang nhiên xâm phạm quyền của công đoàn trong việc tổ chức tẩy chay các doanh nghiệp. Tương tự, theo luật ngân hàng, việc loan truyền tin đồn về khả năng phá sản của một ngân hàng bị coi là bất hợp pháp — một ví dụ điển hình cho thấy chính phủ trao đặc quyền cho ngân hàng bằng cách bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận của công dân khi họ phản đối một ngân hàng nào đó.

Một câu hỏi đặc biệt hóc búa nữa là vấn đề tuần hành và biểu tình. Tự do ngôn luận tất nhiên bao hàm cả tự do hội họp — tức quyền tụ tập và cất tiếng nói chung với người khác. Nhưng mọi việc trở nên phức tạp hơn khi gắn liền với việc sử dụng đường phố. Hiển nhiên, việc biểu tình trở nên bất hợp pháp khi nó được dùng — như vẫn thường xảy ra — để chặn lối vào một tòa nhà hay một nhà máy tư nhân, hoặc khi đoàn biểu tình đe dọa bạo lực đối với những ai vượt qua hàng rào của họ. Cũng rõ ràng, những cuộc “ngồi lỳ” (sit-in) là hành vi xâm phạm tài sản tư nhân bất hợp pháp. Nhưng ngay cả hình thức gọi là “biểu tình ôn hòa” cũng không hề đơn giản là hợp pháp, bởi nó đặt ra một vấn đề rộng lớn hơn: Ai có quyền quyết định việc sử dụng đường phố? Vấn đề này bắt nguồn từ thực tế là đường phố gần như lúc nào cũng thuộc sở hữu của chính quyền địa phương. Nhưng chính quyền, không phải là chủ sở hữu tư nhân, thì chẳng có tiêu chuẩn khách quan nào để phân bổ việc sử dụng đường phố của mình; thế nên bất kỳ quyết định nào mà nó đưa ra rốt cuộc cũng chỉ là tùy tiện.

Ví dụ, giả sử Hội Những Người Bạn của Wisteria muốn tổ chức biểu tình và diễu hành trên một con phố công cộng. Cảnh sát cấm cuộc biểu tình, với lý do nó sẽ gây tắc nghẽn đường phố và cản trở giao thông. Những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân trong lĩnh vực dân sự lập tức phản đối, cho rằng “quyền tự do ngôn luận” của những người biểu tình Wisteria đang bị xâm phạm một cách bất công. Nhưng cảnh sát cũng có thể có lý: đường phố quả thực có thể bị tắc nghẽn, và chính phủ có trách nhiệm duy trì giao thông thông suốt. Vậy thì phải quyết định thế nào? Dù chính phủ chọn phương án nào, một bộ phận người nộp thuế cũng sẽ bị thiệt hại. Nếu chính phủ cho phép biểu tình, người lái xe và người đi bộ sẽ bị ảnh hưởng; nếu không cho phép, thì Hội Những Người Bạn của Wisteria sẽ là bên chịu thiệt. Trong cả hai trường hợp, chính hành vi ra quyết định của chính phủ đã tạo ra xung đột không thể tránh khỏi giữa các nhóm công dân và người đóng thuế: ai được phép, và ai không được phép, sử dụng nguồn lực do chính phủ quản lý.

Điểm mấu chốt là: chính việc chính phủ nắm quyền sở hữu và kiểm soát đường phố đã khiến vấn đề này không có lời giải, đồng thời làm khuất lấp giải pháp thực sự. Nguyên tắc là: bất cứ ai sở hữu nguồn lực thì người đó có quyền quyết định cách sử dụng nó. Chủ một nhà in sẽ quyết định nội dung được in. Và chủ của một con phố sẽ quyết định cách phân bổ quyền sử dụng nó. Nói cách khác, nếu đường phố là tài sản tư nhân và Hội Những Người Bạn của Wisteria xin sử dụng Đại lộ số 5 để biểu tình, thì việc quyết định cho thuê con đường cho mục đích biểu tình, hay giữ nó thông thoáng cho giao thông, hoàn toàn tùy thuộc vào chủ sở hữu Đại lộ số 5. Trong một thế giới thuần túy tự do cá nhân, nơi tất cả các con đường đều thuộc sở hữu tư nhân, các chủ đường phố sẽ tự quyết định—tại bất kỳ thời điểm nào—có cho thuê đường phố để biểu tình hay không, cho ai thuê, và với mức giá nào. Khi đó, vấn đề hiển nhiên không còn là chuyện “tự do ngôn luận” hay “tự do hội họp” nữa, mà là vấn đề quyền sở hữu: quyền của một nhóm người trong việc đề nghị thuê một con đường, và quyền của người chủ con đường được tự do chấp nhận hay từ chối đề nghị đó.

Tự do phát thanh và truyền hình

Có một lĩnh vực quan trọng trong đời sống nước Mỹ mà quyền tự do ngôn luận hay tự do báo chí thực sự không hề tồn tại, cũng không thể tồn tại trong hệ thống hiện nay: đó là toàn bộ lĩnh vực phát thanh và truyền hình. Trong lĩnh vực này, chính phủ liên bang – thông qua Đạo luật Phát thanh năm 1927, một đạo luật có ý nghĩa then chốt – đã quốc hữu hóa sóng phát thanh. Thực chất, chính phủ liên bang đã chiếm quyền sở hữu tất cả các kênh phát thanh và truyền hình, rồi tùy ý cấp giấy phép sử dụng cho các đài tư nhân. Một mặt, các đài phát thanh và truyền hình, vì được cấp phép miễn phí, không phải trả tiền để khai thác loại tài nguyên khan hiếm này như trong thị trường tự do. Nhờ thế, họ nhận được một khoản trợ cấp khổng lồ và tất nhiên rất muốn duy trì. Nhưng mặt khác, chính phủ liên bang – với tư cách là cơ quan cấp phép – lại khẳng định quyền lực quản lý chặt chẽ và liên tục. Trên đầu mỗi đài luôn lơ lửng cây gậy đe dọa: bị từ chối gia hạn, thậm chí đình chỉ giấy phép. Hệ quả là, ý niệm “tự do ngôn luận” trong phát thanh và truyền hình chỉ còn là trò hề. Mọi đài đều bị hạn chế nghiêm trọng, buộc phải sắp xếp chương trình theo chỉ thị của Ủy ban Truyền thông Liên bang (FCC): phải có chương trình “cân bằng”, phát một tỷ lệ nhất định các thông báo “vì lợi ích công cộng”, dành thời lượng ngang nhau cho mọi ứng cử viên chính trị cùng tranh một chức vụ, cũng như cho các quan điểm chính trị đối lập, kiểm duyệt những ca từ bị coi là “gây tranh cãi”… Trong nhiều năm, không đài nào được phép phát sóng bất kỳ ý kiến biên tập nào; còn nay, mọi ý kiến đều phải đi kèm những phản biện biên tập “có trách nhiệm”.

Bởi vì mọi đài phát thanh và truyền hình đều phải luôn nơm nớp nhìn về phía sau lưng mình, về FCC, nên quyền tự do ngôn luận trong phát sóng thực chất chỉ là trò bịp. Thế thì có gì đáng ngạc nhiên khi quan điểm trên truyền hình, mỗi khi buộc phải đề cập đến những vấn đề gây tranh cãi, lại thường chỉ nhạt nhẽo ngả theo “Giới quyền uy”?

Công chúng chỉ chấp nhận tình trạng này bởi nó đã tồn tại ngay từ buổi ban đầu của phát thanh thương mại quy mô lớn. Nhưng thử hình dung, nếu toàn bộ báo chí đều phải xin giấy phép – giấy phép ấy lại do một Ủy ban Báo chí Liên bang cấp và có thể không được gia hạn nếu tờ báo nào dám đưa ra quan điểm biên tập bị coi là “lệch lạc”, hoặc nếu họ không dành đủ trọng lượng cho các thông báo vì lợi ích công cộng – thì chúng ta sẽ nghĩ sao? Chẳng phải đó sẽ là một sự hủy hoại không thể dung thứ, thậm chí còn vi hiến, đối với quyền tự do báo chí hay sao? Hoặc hãy thử tưởng tượng, nếu mọi nhà xuất bản đều phải được cấp phép, và giấy phép sẽ bị thu hồi nếu danh mục sách họ phát hành không vừa mắt Ủy ban Xuất bản Liên bang? Điều mà tất cả chúng ta chắc chắn coi là toàn trị, không thể chấp nhận nổi đối với báo chí và xuất bản, thì lại đang được coi là chuyện đương nhiên trong lĩnh vực nay đã trở thành phương tiện truyền thông phổ biến nhất để truyền đạt và giáo dục: phát thanh và truyền hình. Thế nhưng, nguyên tắc trong cả hai trường hợp hoàn toàn giống hệt nhau.

Ở đây, ta cũng thấy một trong những sai lầm chí tử của tư tưởng “chủ nghĩa xã hội dân chủ”: tức quan niệm rằng chính phủ có thể sở hữu toàn bộ tài nguyên và phương tiện sản xuất, nhưng vẫn duy trì được quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí cho mọi công dân. Một bản hiến pháp trừu tượng bảo đảm “tự do báo chí” hoàn toàn vô nghĩa trong xã hội xã hội chủ nghĩa. Vấn đề là: khi chính phủ nắm trong tay toàn bộ giấy in, máy in, phương tiện sản xuất báo chí… thì chính phủ – với tư cách là chủ sở hữu – sẽ phải quyết định phân bổ giấy in thế nào, và in cái gì trên đó. Cũng như khi chính phủ là chủ sở hữu đường phố thì nó sẽ quyết định đường phố được dùng ra sao, chính phủ xã hội chủ nghĩa sẽ buộc phải quyết định cách phân bổ mọi nguồn lực gắn với báo chí và ngôn luận: hội trường, máy móc, xe vận chuyển, v.v. Bất cứ chính phủ nào cũng có thể tuyên bố trung thành với “tự do báo chí”, nhưng trên thực tế vẫn có thể phân bổ toàn bộ giấy in cho những kẻ bênh vực và ủng hộ mình. Khi ấy, một nền báo chí “tự do” chỉ còn là sự chế giễu; hơn nữa, tại sao một chính phủ xã hội chủ nghĩa lại phải dành một phần lớn những nguồn lực khan hiếm của mình cho những người chống lại chủ nghĩa xã hội? Vấn đề về tự do báo chí thực sự, khi đó, trở thành nan giải không thể tháo gỡ.

Giải pháp cho phát thanh và truyền hình? Đơn giản thôi: Hãy đối xử với chúng y như cách ta vẫn đối xử với báo chí và xuất bản. Đối với cả người theo chủ nghĩa tự do cá nhân lẫn những ai tin vào Hiến pháp Hoa Kỳ, chính phủ phải rút lui hoàn toàn, không còn bất cứ vai trò hay sự can thiệp nào vào các phương tiện truyền thông. Nói ngắn gọn: chính phủ liên bang cần phi quốc hữu hóa sóng phát thanh, rồi trao hoặc bán từng kênh cho tư nhân. Khi các đài tư nhân thực sự làm chủ kênh của mình, họ mới thật sự được tự do và độc lập: họ có thể phát bất kỳ chương trình nào họ muốn sản xuất, hoặc bất kỳ chương trình nào họ tin rằng khán thính giả mong chờ; họ có thể bày tỏ quan điểm theo bất cứ cách nào họ muốn, mà không sợ bị chính phủ trả đũa. Họ cũng có thể bán hoặc cho thuê sóng cho bất kỳ người nào mà họ muốn, và theo đó, việc sử dụng các kênh sẽ không còn là một hình thức trợ cấp giả tạo nữa.

Hơn nữa, nếu các kênh truyền hình trở nên tự do, thuộc sở hữu tư nhân và độc lập, thì các mạng lưới lớn sẽ không còn cơ hội gây áp lực lên Ủy ban Truyền thông Liên bang (FCC) để triệt tiêu sự cạnh tranh hiệu quả của truyền hình trả tiền. Chính vì FCC đã cấm truyền hình trả tiền nên nó mới không thể đứng vững. “Truyền hình miễn phí” thực ra chẳng hề “miễn phí”: các chương trình được chi trả bởi các nhà quảng cáo, và người tiêu dùng thì phải gánh chi phí ấy thông qua giá sản phẩm mà họ mua. Có thể có người hỏi: vậy thì có khác gì đâu, giữa việc trả gián tiếp chi phí quảng cáo và trả trực tiếp cho từng chương trình? Khác chứ – vì đó không phải là cùng một nhóm người tiêu dùng cho cùng một loại sản phẩm. Nhà quảng cáo truyền hình, chẳng hạn, luôn nhắm đến hai mục tiêu: (a) đạt thị trường khán giả rộng nhất có thể, và (b) thu hút những khán giả dễ bị tác động nhất. Do đó, chương trình sẽ bị kéo xuống mức “mẫu số chung thấp nhất”, nhắm chủ yếu đến nhóm khán giả ít đọc báo hay tạp chí – để thông điệp quảng cáo không bị trùng lặp. Kết quả là, truyền hình “miễn phí” trở nên đơn điệu, nhạt nhẽo và thiếu sáng tạo. Trái lại, truyền hình trả tiền sẽ buộc mỗi chương trình tìm kiếm thị trường riêng, và từ đó mở ra vô số thị trường chuyên biệt cho từng nhóm khán giả riêng – giống như cách các thị trường ngách đầy lợi nhuận đã hình thành trong xuất bản báo chí và sách. Chất lượng chương trình sẽ cao hơn, nội dung cũng đa dạng phong phú hơn. Thực tế, mối đe dọa từ tiềm năng cạnh tranh của truyền hình trả tiền lớn đến mức các mạng lưới đã phải vận động hành lang suốt nhiều năm để bóp chết nó. Nhưng tất nhiên, trên thị trường thực sự tự do, cả hai hình thức truyền hình – miễn phí và trả tiền – cũng như truyền hình cáp và vô số hình thức khác còn chưa ra đời, đều có thể và sẽ cùng tham gia cạnh tranh.

Một trong những lập luận thường gặp chống lại việc tư hữu hóa các kênh truyền hình là các kênh này “khan hiếm”, nên phải do chính phủ sở hữu và phân bổ. Nhưng với một nhà kinh tế học, đó là một lập luận ngớ ngẩn. Tất cả các nguồn lực đều khan hiếm; thực tế, bất cứ thứ gì có giá trên thị trường thì chính vì nó khan hiếm mới có giá đó. Chúng ta phải trả tiền cho một ổ bánh mì, một đôi giày, hay một chiếc váy vì chúng khan hiếm. Nếu chúng dư thừa như không khí thì đã miễn phí, chẳng ai phải bận tâm đến việc sản xuất hay phân phối chúng. Trong lĩnh vực báo chí cũng vậy: giấy in báo khan hiếm, máy in khan hiếm, xe vận chuyển khan hiếm… Càng khan hiếm thì giá càng cao, và ngược lại. Hơn nữa, xét trên thực tế, số lượng kênh truyền hình khả dụng còn nhiều hơn rất nhiều so với số kênh hiện được sử dụng. Chính quyết định ban đầu của Ủy ban Truyền thông Liên bang (FCC) ép các đài phải vào dải VHF thay vì UHF mới là nguyên nhân tạo ra tình trạng khan hiếm kênh một cách nhân tạo.

Một phản đối khác thường thấy đối với quyền sở hữu tư nhân trong phát thanh – truyền hình là lo ngại các đài sẽ gây nhiễu lẫn nhau, khiến chương trình không thể nghe hay xem được. Nhưng đó cũng là một lập luận phi lý để biện minh cho việc quốc hữu hóa sóng, chẳng khác nào nói rằng vì người ta có thể lái xe qua đất của người khác nên tất cả ô tô – hoặc toàn bộ đất đai – phải bị quốc hữu hóa. Vấn đề là, trong cả hai trường hợp, tòa án phải phân định ranh giới quyền sở hữu rõ ràng, để bất cứ hành vi xâm phạm nào cũng minh bạch và có thể bị truy tố. Trong trường hợp đất đai, điều này vốn đã rõ ràng. Nhưng điểm mấu chốt là tòa án hoàn toàn có thể áp dụng cùng một quy trình để xác lập quyền sở hữu trong các lĩnh vực khác – dù là sóng phát thanh, nguồn nước hay mỏ dầu. Với sóng vô tuyến, nhiệm vụ chỉ là xác định đơn vị kỹ thuật – tức điểm phát, khoảng cách truyền sóng và độ rộng tần số của một kênh rõ ràng – rồi phân bổ quyền sở hữu cho đơn vị kỹ thuật cụ thể đó. Thí dụ, nếu đài phát thanh WXYZ được trao quyền sở hữu phát sóng ở 1500 kilocycle, cộng trừ một biên độ nhất định, trong phạm vi 200 dặm quanh Detroit, thì bất kỳ đài nào sau đó phát sóng vào Detroit trên tần số này đều có thể bị truy tố vì xâm phạm quyền sở hữu. Nếu tòa án nghiêm túc thực hiện chức năng phân định và bảo vệ quyền sở hữu, thì không có lý do gì để cho rằng các quyền này sẽ bị xâm phạm thường xuyên trong lĩnh vực sóng hơn so với bất kỳ lĩnh vực nào khác.

Hầu hết mọi người đều tin rằng đây chính là lý do sóng vô tuyến bị quốc hữu hóa: rằng trước Đạo luật Phát thanh năm 1927, các đài phát thanh đã gây nhiễu tín hiệu của nhau, hỗn loạn nảy sinh, và cuối cùng chính phủ liên bang buộc phải nhảy vào để lập lại trật tự và biến ngành công nghiệp phát thanh trở thành khả thi. Nhưng đó chỉ là huyền thoại lịch sử, chứ không phải sự thật. Thực tế thì hoàn toàn ngược lại. Khi tình trạng nhiễu sóng trên cùng một kênh bắt đầu xuất hiện, bên bị hại đã đưa kẻ gây nhiễu ra tòa, và các tòa án đã bắt đầu lập lại trật tự từ hỗn loạn bằng cách áp dụng rất thành công lý thuyết thông luật về quyền sở hữu—trên nhiều phương diện rất gần với lý thuyết tự do cá nhân—vào lĩnh vực công nghệ mới này. Nói ngắn gọn, các tòa án đã bắt đầu công nhận và trao quyền sở hữu sóng vô tuyến cho những người “khai phá” sử dụng trước tiên. Chính khi chính phủ liên bang nhận thấy khả năng mở rộng quyền sở hữu tư nhân này, họ đã vội vã lao vào quốc hữu hóa sóng vô tuyến, vin vào cái cớ “hỗn loạn”.

Để phác họa bức tranh đầy đủ hơn: trong những năm đầu thế kỷ, radio hầu như chỉ được dùng làm phương tiện liên lạc cho tàu thuyền—giữa tàu với tàu, hoặc tàu với đất liền. Bộ Hải quân quan tâm đến việc quản lý radio như một phương tiện bảo đảm an toàn hàng hải, và đạo luật liên bang năm 1912 chỉ đơn giản quy định rằng mọi đài phát thanh phải có giấy phép do Bộ trưởng Thương mại cấp. Tuy nhiên, luật không trao cho Bộ trưởng quyền quản lý hay quyền từ chối gia hạn giấy phép. Khi phát thanh công cộng bắt đầu nở rộ vào đầu thập niên 1920, Bộ trưởng Thương mại Herbert Hoover đã tìm cách can thiệp quản lý các đài, nhưng các phán quyết tòa án năm 1923 và 1926 đã bác bỏ quyền của chính phủ trong việc điều tiết giấy phép, không gia hạn, hay thậm chí ấn định bước sóng hoạt động[2]. Cùng thời gian đó, các tòa án đang dần hình thành khái niệm về quyền sở hữu tư nhân theo kiểu “khai phá” đối với sóng phát thanh—đáng chú ý nhất là vụ Tribune Co. kiện Oak Leaves Broadcasting Station (Tòa Lưu động, Quận Cook, Illinois, 1926). Trong vụ này, tòa phán rằng một đài đã hoạt động trước đó có quyền sở hữu được thiết lập bởi việc sử dụng sớm, đủ cơ sở để ngăn một đài mới dùng tần số gây nhiễu tín hiệu của mình[3]. Nhờ đó, trật tự đang dần được thiết lập từ hỗn loạn thông qua việc thừa nhận quyền sở hữu. Nhưng chính sự phát triển này mà chính phủ đã nhanh chóng can thiệp để chặn đứng

Quyết định Zenith năm 1926[4] đã bãi bỏ quyền hạn của chính phủ trong việc quản lý hoặc từ chối gia hạn giấy phép, và buộc Bộ Thương mại phải cấp phép cho bất kỳ đài nào nộp đơn, qua đó tạo ra sự bùng nổ lớn trong ngành phát thanh. Chỉ trong chín tháng sau quyết định này, đã có hơn 200 đài mới được thành lập. Kết quả là, đến tháng 7 năm 1926, Quốc hội vội vã thông qua biện pháp tạm thời nhằm ngăn chặn mọi quyền sở hữu tư nhân đối với tần số vô tuyến, và quy định rằng tất cả giấy phép chỉ có hiệu lực trong 90 ngày. Đến tháng 2 năm 1927, Quốc hội đã ban hành đạo luật thành lập Ủy ban Phát thanh Liên bang (Federal Radio Commission), cơ quan quốc hữu hóa sóng vô tuyến và được trao quyền lực tương tự như FCC hiện nay. Mục tiêu thực sự của các chính trị gia thạo tin không phải là ngăn chặn hỗn loạn, mà là ngăn chặn khả năng hình thành quyền sở hữu tư nhân trên sóng vô tuyến—giải pháp cho tình trạng hỗn loạn—điều này đã được nhà sử học pháp lý H.P. Warner chứng minh. Warner viết: “các nhà lập pháp và những người được giao trách nhiệm quản lý thông tin liên lạc đã bày tỏ lo ngại sâu sắc rằng việc quản lý hữu hiệu của chính phủ có thể bị vô hiệu vĩnh viễn thông qua việc tích lũy quyền sở hữu trong giấy phép hoặc phương tiện truy cập, và như thế, những đặc quyền trị giá hàng triệu đô la có thể được thiết lập vĩnh viễn.”[5] Thế nhưng, kết quả rốt cuộc vẫn là những đặc quyền có giá trị tương đương được hình thành—nhưng lần này theo lối độc quyền, thông qua sự ban phát của Ủy ban Phát thanh Liên bang và sau đó là FCC, thay vì bằng con đường chiếm hữu cạnh tranh.

Trong số vô số vụ xâm phạm trực tiếp quyền tự do ngôn luận do thẩm quyền cấp phép của FRC và FCC thực hiện, chỉ cần dẫn ra hai trường hợp tiêu biểu là đủ. Trường hợp thứ nhất xảy ra năm 1931, khi FRC từ chối gia hạn giấy phép cho ông Baker, người điều hành một đài phát thanh ở Iowa. Khi từ chối gia hạn, Ủy ban cho biết:

Ủy ban này không bênh vực cho các Hiệp hội Y khoa hay các bên khác mà ông Baker không ưa. Những tội lỗi bị cáo buộc của họ đôi khi có thể có ý nghĩa quan trọng đối với công chúng, cần được đưa ra trên sóng phát thanh theo một cách đúng đắn. Nhưng hồ sơ này cho thấy ông Baker không hề làm như vậy một cách cao thượng. Nó cho thấy ông ta liên tục, một cách thất thường, lợi dụng sóng phát thanh để cổ vũ sở thích cá nhân, những ý tưởng chữa ung thư của mình, cùng những thiện cảm và ác cảm đối với một số người và sự việc nhất định. Chắc chắn việc ông ta áp đặt tất cả những điều này lên thính giả không phải là cách sử dụng đúng đắn một giấy phép phát sóng. Nhiều phát ngôn của ông ta là thô tục, nếu không muốn nói là khiếm nhã. Chắc chắn chúng không hề có tính nâng cao hay giải trí.”[6]

Liệu chúng ta có thể tưởng tượng được sự phản đối kịch liệt đến mức nào nếu chính phủ liên bang đóng cửa một tờ báo hoặc một nhà xuất bản vì những lý do tương tự?

Một hành động gần đây hơn của FCC là đe dọa không gia hạn giấy phép cho đài phát thanh KTRG ở Honolulu, một đài lớn tại Hawaii. KTRG đã phát sóng các chương trình theo khuynh hướng tự do cá nhân trong nhiều giờ mỗi ngày trong khoảng hai năm. Cuối cùng, cuối năm 1970, FCC quyết định mở các phiên điều trần kéo dài nhằm tiến tới việc không gia hạn giấy phép; chi phí khổng lồ bị đe dọa từ quy trình này đã buộc chủ sở hữu phải đóng cửa đài vĩnh viễn[7].

Khiêu dâm

Đối với những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân, những tranh luận giữa phe bảo thủ và phe tự do về luật cấm nội dung khiêu dâm là đáng buồn và hoàn toàn lạc hướng. Phe bảo thủ có xu hướng cho rằng khiêu dâm là đồi trụy và vô đạo đức, do đó nên bị cấm. Phe tự do lại phản bác rằng tình dục vốn lành mạnh và tốt đẹp, vì thế khiêu dâm chỉ mang lại tác động tích cực, và thay vào đó nên cấm các hình ảnh bạo lực trên truyền hình, phim ảnh hay truyện tranh. Cả hai phía đều bỏ qua điểm mấu chốt: việc khiêu dâm là tốt, xấu hay trung tính – dù tự nó có thể là một vấn đề đáng bàn – thì hoàn toàn không liên quan đến câu hỏi liệu nó có nên bị cấm hay không. Người theo chủ nghĩa tự do cá nhân cho rằng luật pháp – tức quyền dùng bạo lực để trừng phạt – không phải là công cụ để áp đặt quan niệm đạo đức của bất kỳ ai. Luật pháp không có nhiệm vụ, và thực ra cũng hầu như không thể, biến ai đó trở nên tốt đẹp, đạo hạnh, trong sạch hay ngay thẳng. Đây là điều mỗi cá nhân phải tự quyết định cho chính mình. Nhiệm vụ duy nhất của bạo lực hợp pháp là bảo vệ con người khỏi bạo lực – bảo vệ họ trước những sự xâm phạm bạo lực vào thân thể hay tài sản của mình. Nhưng nếu chính phủ lại tự cho mình quyền đặt nội dung khiêu dâm ra ngoài vòng pháp luật, thì chính nó mới trở thành kẻ ngoài vòng pháp luật đích thực – bởi nó đang xâm phạm quyền sở hữu của con người trong việc sản xuất, mua bán hay sở hữu những tài liệu khiêu dâm.

Chúng ta không ban hành luật để khiến con người trở nên ngay thẳng; chúng ta không ban hành luật để buộc họ phải tử tế với hàng xóm, hay không được quát mắng tài xế xe buýt; chúng ta không ban hành luật để buộc họ phải trung thực với người thân yêu của mình. Chúng ta cũng không ban hành luật để ép họ phải ăn một lượng vitamin nhất định mỗi ngày. Chính phủ – hay bất kỳ cơ quan pháp luật nào – không có thẩm quyền ban hành luật để cấm việc tự nguyện sản xuất hay buôn bán nội dung khiêu dâm. Việc nội dung khiêu dâm là tốt, xấu hay trung tính hoàn toàn không phải là là lĩnh vực mà pháp luật cần quan tâm.

Điều này cũng đúng với nỗi ám ảnh của những người theo phái tự do về cái gọi là “nội dung khiêu dâm bạo lực”. Việc xem những cảnh bạo lực trên truyền hình có dẫn đến tội phạm thực sự hay không không nằm trong phạm vi quản lý của Nhà nước. Việc cấm phim bạo lực với lý do chúng có thể khiến ai đó một ngày nào đó phạm tội chẳng khác nào phủ nhận ý chí tự do của con người, và dĩ nhiên, cũng là phủ nhận hoàn toàn quyền được xem phim của những người không phạm tội. Quan trọng hơn, việc cấm phim bạo lực vì lý do này không hề hợp lý hơn—thực ra còn kém hợp lý hơn—so với việc, như chúng ta đã nêu, giam giữ toàn bộ thanh niên da đen chỉ vì họ có xu hướng phạm tội cao hơn phần còn lại của dân chúng.

Cũng cần phải nói rõ rằng việc cấm nội dung khiêu dâm là xâm phạm quyền sở hữu, quyền sản xuất, bán, mua và sở hữu. Những người bảo thủ kêu gọi cấm nội dung khiêu dâm dường như không nhận ra rằng họ đang vi phạm chính khái niệm về quyền sở hữu mà họ tự nhận là ủng hộ. Đó cũng là vi phạm quyền tự do báo chí, mà như chúng ta đã thấy, thực sự là một phần của quyền sở hữu tư nhân nói chung.

Đôi khi, có vẻ như lý tưởng cao đẹp của nhiều người theo phái bảo thủ cũng như nhiều người theo phái tự do là nhốt toàn bộ nhân loại vào một cái lồng, để rồi ép buộc họ làm những điều mà phe bảo thủ hay phe tự do cho là “đạo đức”. Dĩ nhiên, đó sẽ là những cái lồng được thiết kế khác nhau, nhưng vẫn là lồng cả thôi. Người theo phái bảo thủ sẽ cấm tình dục ngoài luồng, ma túy, cờ bạc là “vô đạo đức”, rồi cưỡng ép mọi người hành động theo quan niệm đạo đức và tôn giáo của họ. Người theo phái tự do thì cấm phim bạo lực, quảng cáo phản thẩm mỹ, bóng đá và phân biệt chủng tộc, và ở mức cực đoan hơn, sẽ đặt tất cả mọi người vào một “chiếc hộp Skinner”[8] được vận hành bởi một nhà độc tài theo phái tự do được cho là nhân từ. Nhưng hệ quả cuối cùng vẫn như nhau: hạ thấp con người xuống dưới mức nhân loại và tước đoạt của mỗi người phần quý giá nhất của nhân tính – quyền tự do lựa chọn.

Trớ trêu là, bằng cách buộc con người phải “có đạo đức” – tức là cư xử có đạo đức – những kẻ cai ngục theo phái bảo thủ hay theo phái tự do thực chất lại tước đoạt chính khả năng trở thành đạo đức của con người. Khái niệm “đạo đức” sẽ trở nên vô nghĩa nếu hành động đạo đức không được lựa chọn một cách tự do. Thử lấy ví dụ: giả sử có một tín đồ Hồi giáo sùng đạo mong muốn càng nhiều người cúi lạy về thánh địa Mecca ba lần mỗi ngày thì càng tốt; với ông ta, đó là hành động đạo đức cao nhất. Nhưng nếu ông ta dùng cưỡng ép để buộc mọi người phải cúi đầu trước Mecca, thì ông ta đã tước đi của họ cơ hội để thực sự sống đạo đức – tức là tự do lựa chọn cúi đầu. Cưỡng ép là tước đoạt tự do lựa chọn của con người, và vì thế, cũng tước đoạt luôn khả năng lựa chọn một cách đạo đức

Người theo chủ nghĩa tự do cá nhân, trái ngược với phần lớn người theo phái bảo thủ hay phái tự do, không muốn nhốt con người vào bất kỳ cái lồng nào. Điều họ mong muốn cho tất cả mọi người là tự do – tự do hành động có đạo đức hay phi đạo đức – tùy theo lựa chọn của mỗi cá nhân.

Luật về tình dục

Trong những năm gần đây, những người theo phái tự do đã may mắn khi đi đến kết luận rằng “bất kỳ hành vi nào giữa hai (hoặc nhiều) người trưởng thành có sự đồng thuận” đều phải được coi là hợp pháp. Đáng tiếc là họ vẫn chưa mở rộng tiêu chí này từ tình dục sang thương mại và trao đổi; bởi nếu làm như thế, họ sẽ gần như trở thành những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân trọn vẹn. Bởi lẽ, chính những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân mới thực sự quan tâm đến việc hợp pháp hóa mọi quan hệ giữa “những người trưởng thành đồng thuận”. Họ cũng đã bắt đầu kêu gọi xóa bỏ “các tội phạm không có nạn nhân”, điều này sẽ thật tuyệt vời nếu như “nạn nhân” được định nghĩa một cách chính xác hơn là nạn nhân của bạo lực hung hãn.

Vì tình dục là một khía cạnh riêng tư đặc biệt trong đời sống, nên việc chính phủ tự cho mình quyền điều chỉnh và ban hành luật về hành vi tình dục là điều đặc biệt không thể chấp nhận được. Thế nhưng, đây lại luôn là một trong những thú vui ưa thích của Nhà nước. Tất nhiên, những hành vi bạo lực như hiếp dâm phải được xem là tội ác, giống như bất kỳ hành vi bạo lực nào khác chống lại con người.

Điều kỳ lạ là, trong khi các hoạt động tình dục tự nguyện thường bị Nhà nước coi là bất hợp pháp và truy tố, thì những kẻ bị buộc tội hiếp dâm lại thường được chính quyền đối xử nhẹ nhàng hơn nhiều so với những kẻ phạm các hình thức tấn công thân thể khác. Thậm chí, trong nhiều trường hợp, chính nạn nhân hiếp dâm lại bị các cơ quan thực thi pháp luật coi như kẻ có tội — một thái độ gần như không bao giờ xảy ra đối với nạn nhân của các loại tội phạm khác. Rõ ràng là, tiêu chuẩn kép về tình dục không thể chấp nhận được đã và đang tồn tại. Như Hội đồng Quốc gia của Liên minh Tự do Dân sự Hoa Kỳ đã tuyên bố vào tháng 3 năm 1977:

Nạn nhân của những vụ tấn công tình dục không nên bị đối xử khác biệt so với nạn nhân của các tội phạm khác. Họ thường phải chịu thái độ hoài nghi và lạm dụng từ phía các nhân viên thực thi pháp luật cũng như nhân viên y tế. Cách đối xử này trải rộng từ ngờ vực và vô cảm của chính quyền cho đến những cuộc thẩm vấn tàn nhẫn và khắc nghiệt về lối sống và động cơ của nạn nhân. Việc các cơ quan vốn được lập ra để hỗ trợ và bảo vệ lại thoái thác trách nhiệm như vậy chỉ càng làm trầm trọng thêm chấn thương mà nạn nhân phải gánh chịu.

Tiêu chuẩn kép mà chính phủ áp đặt chỉ có thể được khắc phục bằng cách loại bỏ hiếp dâm khỏi danh mục đặc biệt của pháp luật và tư pháp, để đưa nó trở lại nằm trong luật chung về xâm hại thân thể. Bất kỳ tiêu chuẩn nào được dùng để làm hướng dẫn của thẩm phán cho bồi thẩm đoàn, hay cho việc thừa nhận bằng chứng, cũng nên được áp dụng như nhau cho tất cả các trường hợp này.

Nếu lao động và con người nói chung được tự do, thì mại dâm cũng phải được tự do. Mại dâm là tự nguyện bán dịch vụ, và chính phủ không có quyền cấm đoán hay hạn chế những giao dịch như vậy. Cần lưu ý rằng nhiều khía cạnh u ám của nghề mại dâm đường phố chính là hậu quả của việc các nhà thổ bị cấm. Những nhà thổ lâu đời do các tú bà điều hành —mong muốn duy trì thiện chí với khách hàng trong thời gian dài — từng cạnh tranh để cung cấp dịch vụ chất lượng cao và gây dựng “thương hiệu” của mình. Việc cấm nhà thổ đã đưa mại dâm thành một loại “chợ đen”, tồn tại chộp giật qua đêm, với tất cả những nguy hiểm và sự suy giảm chất lượng vốn luôn gắn liền với chợ đen. Gần đây, tại Thành phố New York, cảnh sát có xu hướng trấn áp mại dâm với lý do nghề này không còn là “không có nạn nhân”, bởi vì nhiều gái mại dâm đã phạm tội đối với chính khách hàng của họ. Tuy nhiên, nếu viện cớ một ngành nghề có thể thu hút tội phạm để cấm đoán nó, thì cũng đồng nghĩa với việc phải cấm cả quán bar, vì nhiều vụ ẩu đả xảy ra ở đó. Lời giải không phải là cấm đoán những hoạt động tự nguyện và thực sự hợp pháp, mà là cảnh sát phải bảo đảm rằng những tội ác thực sự không được phép xảy ra. Cần nhấn mạnh rằng, đối với người theo chủ nghĩa tự do cá nhân, việc ủng hộ tự do mại dâm hoàn toàn không có nghĩa là ủng hộ mại dâm. Tóm lại, nếu một chính phủ khắt khe nào đó cấm toàn bộ mỹ phẩm, thì người theo chủ nghĩa tự do cá nhân sẽ kêu gọi hợp pháp hóa mỹ phẩm — điều này hoàn toàn không hàm ý rằng họ ủng hộ hay phản đối việc dùng mỹ phẩm. Ngược lại, tùy theo đạo đức hay quan điểm thẩm mỹ cá nhân, họ có thể sẽ vận động chống lại việc dùng mỹ phẩm ngay cả sau khi nó được hợp pháp hóa; bởi nỗ lực của họ luôn nhằm thuyết phục chứ không bao giờ là cưỡng ép.

Nếu tình dục cần phải được tự do, thì dĩ nhiên, việc kiểm soát sinh sản cũng phải được tự do. Thật không may là, đặc điểm quen thuộc của xã hội chúng ta là: khi việc kiểm soát sinh sản vừa mới được hợp pháp hóa, thì ngay lập tức có người — lần này là những người theo phái tự do — lại đứng lên kêu gọi bắt buộc kiểm soát sinh sản. Dĩ nhiên, đúng là nếu người hàng xóm của tôi sinh con, điều đó có thể ảnh hưởng tốt hoặc xấu đến tôi. Nhưng gần như mọi việc mà một ai đó làm cũng đều có thể ảnh hưởng đến một hoặc nhiều người khác. Với người theo chủ nghĩa tự do cá nhân, đây rõ ràng không thể là lý do biện minh cho việc sử dụng vũ lực, vốn chỉ chính đáng khi được dùng để chống lại hoặc ngăn chặn chính hành vi bạo lực. Không có quyền nào cá nhân hơn, cũng không có tự do nào quý giá hơn việc một người phụ nữ được tự mình quyết định có hay không có con. Và thật là cực đoan đến mức toàn trị khi bất kỳ chính phủ nào dám tước bỏ quyền đó. Hơn nữa, nếu một gia đình sinh nhiều con hơn khả năng nuôi dưỡng thoải mái, thì chính gia đình đó sẽ gánh chịu hậu quả trước tiên; vì thế, kết quả gần như phổ biến là mong muốn duy trì mức sống quý giá đã đạt được sẽ khiến các gia đình tự nguyện hạn chế sinh con.

Điều này đưa chúng ta đến một trường hợp phức tạp hơn: vấn đề phá thai. Đối với người theo chủ nghĩa tự do cá nhân, lập luận “Công giáo” chống phá thai—nếu cuối cùng bị bác bỏ là thiếu cơ sở—cũng không thể bị gạt bỏ ngay từ đầu. Bởi cốt lõi của lập luận đó—thực ra không hẳn mang tính “Công giáo” theo nghĩa thần học—là phá thai đồng nghĩa với hủy diệt một sinh mạng con người, tức là giết người, và vì vậy, không thể được dung thứ. Hơn nữa, nếu phá thai thực sự là hành vi giết người, thì một người Công giáo—hay bất kỳ ai chia sẻ quan điểm này—không thể chỉ nhún vai nói rằng: quan điểm “Công giáo” không nên áp đặt lên những người không theo Công giáo. Giết người không bao giờ là vấn đề “tự do tôn giáo”; không một giáo phái nào có thể, nhân danh tôn giáo của mình, biện minh cho tội giết người. Vậy, câu hỏi then chốt là: Liệu phá thai có phải là giết người không?

Phần lớn các cuộc tranh luận thường sa lầy trong những chi tiết như: sự sống bắt đầu từ khi nào, thai nhi từ lúc nào có thể được coi là sống, v.v... Nhưng tất cả những điều đó thực ra không liên quan đến vấn đề pháp lý (một lần nữa, không nhất thiết là vấn đề đạo đức) của phá thai. Người Công giáo chống phá thai chẳng hạn, chỉ đơn giản đòi cho thai nhi quyền như bất kỳ con người nào khác—nghĩa là quyền không bị sát hại. Nhưng vấn đề không dừng lại ở đó. Đây mới là điều quan trọng: nếu ta thực sự xem thai nhi có quyền như một con người, thì phải đặt câu hỏi: có con người nào lại có quyền hiện diện, không được mời, như một kẻ ký sinh trong cơ thể của một người khác hay không? Đây chính là mấu chốt: quyền tuyệt đối của mỗi cá nhân—và như thế, của mỗi người phụ nữ—đối với quyền sở hữu thân thể của chính mình. Khi người mẹ phá thai, thực chất cô ấy đang loại bỏ một thực thể không mong muốn ra khỏi cơ thể mình. Nếu vì thế mà thai nhi chết, thì điều này không phủ nhận nguyên tắc rằng: không một sinh vật nào có quyền sống, khi không được mời, như một kẻ ký sinh trong hay trên thân thể của một người khác.

Lập luận phản bác phổ biến rằng: chính người mẹ đã muốn, hoặc chí ít là đã chịu trách nhiệm cho việc mang thai, cũng lại không thích đáng. Ngay cả trong trường hợp mạnh nhất—người mẹ ban đầu thật sự muốn có con—thì cô ấy, với tư cách chủ sở hữu cơ thể mình, vẫn có quyền thay đổi ý định và loại bỏ nó.

Nếu Nhà nước không nên đàn áp hoạt động tình dục tự nguyện, thì cũng không nên phân biệt đối xử với bất kỳ giới nào. Các sắc lệnh “hành động tích cực” (affirmative action[9]) thực chất là một cách áp đặt sự phân biệt đối xử đối với nam giới hoặc các nhóm khác trong tuyển dụng, tuyển sinh, hay bất cứ nơi nào hệ thống hạn ngạch ngầm này được áp dụng. Nhưng các luật lao động “bảo vệ” phụ nữ lại ngấm ngầm giả vờ ưu ái họ, trong khi thực tế lại phân biệt đối xử bằng cách cấm họ làm việc trong những khung giờ nhất định hoặc trong một số ngành nghề nhất định. Như vậy là, phụ nữ bị pháp luật tước đoạt quyền tự do lựa chọn cá nhân, không thể tự quyết định liệu họ có muốn tham gia các ngành nghề đó hay làm việc trong những giờ vốn bị coi là nặng nhọc hay không. Bằng cách này, chính phủ đã cản trở phụ nữ cạnh tranh một cách tự do với nam giới trong những lĩnh vực ấy.

Tóm lại, cương lĩnh năm 1978 của Đảng Tự do Cá nhân đã nêu rất sắc bén và thẳng thắn lập trường của chủ nghĩa tự do cá nhân về vấn đề phân biệt giới tính hay bất kỳ hình thức phân biệt đối xử nào khác của chính phủ: “Không một quyền cá nhân nào được phép bị từ chối hay bị hạn chế bởi luật pháp của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ hoặc bất kỳ bang hay địa phương nào, vì lý do giới tính, chủng tộc, màu da, tín ngưỡng, tuổi tác, nguồn gốc quốc gia, hay khuynh hướng tình dục.”

Nghe lén

Nghe lén là một hành vi xâm phạm quyền riêng tư và quyền sở hữu đáng khinh, và tất nhiên nên bị coi là bất hợp pháp. Hầu như không ai chấp nhận việc nghe lén tư nhân. Tranh cãi chỉ nảy sinh với những người cho rằng cảnh sát nên được phép nghe lén điện thoại của những kẻ mà họ nghi ngờ là tội phạm. Nếu không, làm sao có thể bắt tội phạm?

Trước hết, xét về mặt thực dụng, nghe lén hiếm khi mang lại hiệu quả trong những vụ phạm tội “một lần” như cướp ngân hàng. Nó thường chỉ được sử dụng trong các “hoạt động kinh doanh” có tính thường xuyên và liên tục—chẳng hạn như buôn bán ma túy hay cờ bạc—vốn dễ bị theo dõi và cài thiết bị nghe trộm. Thứ hai, chúng tôi vẫn khẳng định rằng việc xâm phạm tài sản của bất kỳ ai chưa bị kết án phạm tội chính là một hành vi tội ác. Có thể đúng rằng nếu chính phủ huy động một lực lượng gián điệp mười triệu người để theo dõi và nghe lén toàn bộ dân chúng, thì số lượng tội phạm tư nhân sẽ giảm—cũng như sẽ giảm nếu toàn bộ cư dân khu ổ chuột hay nam thanh thiếu niên bị tống giam ngay lập tức. Nhưng so với tội ác quy mô lớn mà chính phủ sẽ gây ra một cách hợp pháp và không chút xấu hổ, thì sự “giảm tội phạm” ấy có ý nghĩa gì?

Có một sự nhượng bộ mà ta có thể đưa ra nhằm ủng hộ lập luận của cảnh sát, dù khó lòng khiến họ hài lòng. Việc xâm phạm tài sản của một tên trộm, chẳng hạn, có thể coi là chính đáng, khi hắn đã xâm phạm tài sản của người khác ở mức độ lớn hơn nhiều. Giả sử cảnh sát kết luận rằng John Jones là một kẻ trộm trang sức. Họ nghe lén điện thoại của hắn và dùng bằng chứng này để kết tội. Ta có thể nói rằng việc nghe lén ấy là hợp pháp và không nên bị trừng phạt—nhưng với điều kiện, nếu Jones chứng minh được rằng mình không phải là kẻ trộm, thì cảnh sát và các thẩm phán đã ra lệnh nghe lén phải bị xét xử như tội phạm, và ngồi tù vì hành vi nghe lén bất chính. Cải cách này sẽ mang lại hai kết quả tốt đẹp: (1) không cảnh sát hay thẩm phán nào dám tham gia nghe lén trừ khi họ chắc chắn rằng nạn nhân thực sự là tội phạm; và (2) cảnh sát cùng thẩm phán cuối cùng cũng sẽ đứng ngang hàng với mọi công dân khác, chịu sự chi phối của luật hình sự. Quả thực, sự bình đẳng về tự do đòi hỏi luật pháp phải áp dụng đối với tất cả mọi người; do đó, bất kỳ hành vi xâm phạm tài sản của người vô tội nào, bởi bất kỳ ai, đều phải bị coi là phạm pháp. Vì vậy, một cảnh sát đoán sai và xâm hại người vô tội thì phải bị coi là có tội chẳng khác nào một kẻ nghe lén tư nhân.

Cờ bạc

Ít có luật nào vô lý và bất công hơn luật cấm cờ bạc. Trước hết, luật này, theo nghĩa rộng nhất của nó, rõ ràng là không thể thực thi. Nếu mỗi lần Jim và Jack kín đáo đặt cược vào một trận bóng đá, hoặc vào một cuộc bầu cử, hoặc hầu như bất cứ điều gì khác, mà điều này là bất hợp pháp, thì một lực lượng Gestapo khổng lồ với hàng triệu người sẽ được huy động để thực thi luật đó và theo dõi tất cả mọi người và tìm ra mọi vụ cá cược. Khi đó, sẽ cần một lực lượng siêu gián điệp lớn khác để theo dõi các điệp viên để đảm bảo rằng họ không bị mua chuộc. Những người bảo thủ thích phản bác lại những lập luận như vậy—được sử dụng để chống lại các luật cấm các hành vi tình dục, khiêu dâm, ma túy, v.v.—rằng lệnh cấm giết người cũng không thể thực thi hoàn toàn, nhưng đây không phải là lý lẽ để bãi bỏ luật đó. Tuy nhiên, lập luận này bỏ qua một điểm quan trọng: đại bộ phận dân chúng, với một sự phân biệt theo bản năng tự do cá nhân, ghê tởm và lên án hành vi giết người và không tham gia vào nó; do đó, lệnh cấm trở nên có hiệu lực thi hành rộng rãi. Tuy nhiên, đại đa số dân chúng không tin vào tính chất phạm tội của cờ bạc, do đó vẫn tiếp tục tham gia, và luật pháp - đúng ra - trở thành không thể thực thi được.

Vì luật chống cá cược kín đáo rõ ràng là không thể thực thi, cho nên chính quyền quyết định tập trung vào một số hình thức cờ bạc dễ thấy và giới hạn hoạt động của họ trong phạm vi đó: roulette, nhà cái, cá cược “số”—nói tóm lại, vào những lĩnh vực mà cờ bạc mang tính thường xuyên và có tổ chức. Nhưng rồi lại xuất hiện một kiểu phán đoán đạo đức kỳ lạ và hoàn toàn không thể chấp nhận được: roulette, cá cược đua ngựa, v.v. thì bằng cách nào đó bị xem là xấu xa về mặt đạo đức và phải bị cảnh sát trấn áp, trong khi cá cược kín đáo lại được coi là hợp pháp về mặt đạo đức và chẳng cần bận tâm.

Ở bang New York, một sự ngu xuẩn đặc biệt đã phát triển qua nhiều năm: cho đến gần đây, tất cả các hình thức cá cược đua ngựa đều bất hợp pháp, ngoại trừ những vụ được thực hiện ngay tại trường đua. Tại sao việc cá cược ngựa ở trường đua Aqueduct hay Belmont lại hoàn toàn hợp pháp và “có đạo đức”, trong khi đặt cược cùng một cuộc đua ấy với một nhà cái thân thiện trong khu phố lại bị coi là tội lỗi, kéo theo sự trừng phạt nặng nề của pháp luật? Điều này thật khó tưởng tượng—trừ phi ta xem xét rằng mục đích của luật pháp chỉ là buộc người cá cược phải làm đầy két bạc của các trường đua. Gần đây còn xuất hiện một biến tướng mới: chính quyền Thành phố New York tự mình nhảy vào kinh doanh cá cược đua ngựa, và việc đặt cược tại các cửa hàng thuộc sở hữu thành phố bỗng nhiên trở nên hoàn toàn hợp pháp và “đúng đắn”, trong khi cá cược với các nhà cái tư nhân cạnh tranh vẫn tiếp tục bị coi là tội lỗi và bị cấm đoán. Rõ ràng là, mục đích của hệ thống này trước tiên là trao đặc quyền cho các trường đua, và sau đó cho chính các cơ sở cá cược của thành phố. Nhiều bang khác cũng đang bắt đầu tài trợ cho những khoản chi tiêu ngày càng phình to ra của họ thông qua xổ số, và thế là chúng lại khoác lên mình lớp vỏ đạo đức và sự chính đáng.

Một lập luận quen thuộc để biện minh cho việc cấm cờ bạc là: nếu người công nhân nghèo được phép đánh bạc, anh ta sẽ dại dột tiêu sạch tiền lương và khiến gia đình lâm vào cảnh túng quẫn. Ngoài việc anh ta hiện đã có thể tiêu tiền lương vào những trò cá cược bạn bè vô hại, thì lập luận mang tính gia trưởng và độc đoán này thật nực cười. Nó chứng minh quá nhiều: nếu ta phải cấm cờ bạc vì quần chúng có thể tiêu xài hoang phí, thì tại sao lại không cấm luôn vô số mặt hàng tiêu dùng khác? Suy cho cùng, nếu một công nhân thực sự quyết tâm “đốt sạch” tiền lương của mình, anh ta có hàng trăm cách để làm: anh ta có thể phung phí vào TV, dàn âm thanh, rượu, dụng cụ bóng chày, hay vô vàn thứ khác. Logic của việc cấm một người đàn ông đánh bạc vì lợi ích của bản thân hay gia đình anh ta dẫn thẳng đến cái lồng toàn trị—nơi “Người Cha Chính phủ” ra lệnh cho dân chúng chính xác phải làm gì, tiêu tiền như thế nào, uống bao nhiêu vitamin, và bắt buộc họ phải tuân thủ mệnh lệnh của Nhà nước.

Ma tuý và các chất gây nghiện khác

Lập luận ủng hộ việc cấm bất kỳ sản phẩm hay hoạt động nào, về cơ bản, cũng giống như lập luận hai mặt được dùng để biện minh cho việc cưỡng bức điều trị bệnh nhân tâm thần: hoặc là nó gây hại cho chính người đó, hoặc là nó khiến người đó phạm tội với người khác. Điều lạ lùng là nỗi kinh hoàng chung – và có cơ sở – về ma túy lại dẫn quần chúng đến thái độ nhiệt tình phi lý trong việc kêu gọi cấm đoán. Thực ra, lập luận chống lại việc cấm ma túy và chất gây ảo giác còn yếu hơn nhiều so với lập luận chống lại Lệnh Cấm Rượu – một thí nghiệm mà thời kỳ tăm tối của thập niên 1920 hy vọng đã làm mất uy tín mãi mãi. Bởi vì, mặc dù ma túy chắc chắn nguy hại hơn rượu, thì rượu cũng có thể gây hại; và nếu cấm một thứ chỉ vì nó có thể gây hại cho người dùng, ta sẽ đi thẳng vào con đường dẫn đến cái lồng toàn trị, nơi người ta bị cấm ăn kẹo và buộc phải ăn sữa chua “vì lợi ích của chính mình.” Nhưng trong lập luận nghiêm trọng hơn nhiều – về tác hại đối với người khác – thì rượu có khả năng dẫn đến tội phạm, tai nạn xe cộ, v.v. cao hơn hẳn so với ma túy, vốn thường khiến người dùng trở nên bình thản và thụ động một cách khác thường. Tất nhiên, có liên hệ rất mạnh giữa nghiện ngập và tội phạm, nhưng liên hệ đó lại đi ngược hoàn toàn với lập luận ủng hộ cấm đoán: tội phạm nảy sinh bởi những kẻ nghiện ngập bị buộc phải trộm cắp vì giá ma túy quá cao – mà chính cấm đoán đã gây ra! Nếu ma túy được hợp pháp hóa, nguồn cung sẽ tăng mạnh, chi phí chợ đen và hối lộ cảnh sát sẽ biến mất, và giá sẽ hạ xuống đủ để loại bỏ hầu hết tội phạm do nghiện ngập.

Điều này, tất nhiên, không có nghĩa là biện hộ cho việc cấm rượu; bởi một lần nữa, việc cấm một thứ chỉ vì nó có thể dẫn đến tội phạm là cuộc tấn công bất hợp pháp và xâm phạm quyền con người cũng như quyền sở hữu. Theo logic đó, lẽ ra phải bỏ tù ngay lập tức tất cả nam thanh thiếu niên. Chỉ những hành vi phạm tội công khai mới nên bị coi là bất hợp pháp. Và cách chống lại tội phạm do rượu gây ra là xử lý nghiêm chính những tội ác đó, chứ không phải cấm rượu. Cách làm này còn có lợi ích phụ là giảm bớt cả những tội ác vốn chẳng liên quan gì đến rượu.

Chủ nghĩa gia trưởng trong lĩnh vực này không chỉ đến từ cánh hữu. Thật kỳ lạ: trong khi những người theo phái tự do thường ủng hộ hợp pháp hóa cần sa, thậm chí đôi khi cả heroin, thì họ lại khao khát cấm thuốc lá – với lý do thuốc lá gây ung thư. Họ đã thành công trong việc dùng quyền kiểm soát liên bang đối với truyền hình để cấm quảng cáo thuốc lá trên TV – và bằng cách đó, giáng một đòn mạnh vào chính quyền tự do ngôn luận mà họ vốn rao giảng là trân trọng.

Một lần nữa: Mỗi người đều có quyền lựa chọn. Anh hãy tuyên truyền chống thuốc lá bao nhiêu cũng được, nhưng hãy để cá nhân tự do định đoạt đời sống của chính mình. Nếu không, ta có thể sẽ phải cấm tất cả những tác nhân gây ung thư tiềm ẩn – từ giày chật, răng giả không vừa, tắm nắng quá nhiều, cho đến việc ăn quá nhiều kem, trứng, hay bơ vốn có thể dẫn đến bệnh tim. Và nếu những lệnh cấm này cũng không thể thực thi, thì theo logic, giải pháp cuối cùng sẽ là nhốt tất cả vào lồng – để họ được kiểm soát lượng ánh nắng hợp lý, chế độ ăn uống chuẩn mực, giày dép vừa vặn, v.v.

Tham nhũng trong lực lượng cảnh sát

Mùa thu năm 1971, Ủy ban Knapp đã thu hút được sự chú ý của công chúng vào vấn nạn tham nhũng tràn lan trong lực lượng cảnh sát Thành phố New York. Giữa những vụ việc mang tính cá nhân, có nguy cơ người ta bỏ qua vấn đề cốt lõi – điều mà chính Ủy ban Knapp đã hoàn toàn ý thức được. Trong hầu hết các vụ tham nhũng, cảnh sát đều dính líu đến những hoạt động kinh doanh vốn bị chính phủ tuyên bố là bất hợp pháp. Thế nhưng, số đông người dân, bằng việc tiếp tục đòi hỏi các hàng hóa và dịch vụ này, đã cho thấy họ không đồng tình với việc xếp chúng vào cùng loại với tội giết người, trộm cắp hay hành hung. Thực tế, hầu như không có trường hợp nào việc “mua chuộc” cảnh sát lại liên quan đến những tội ác tày đình đó. Trong đa số trường hợp, cảnh sát chỉ đơn giản là làm ngơ để các giao dịch hợp pháp, tự nguyện diễn ra.

Thông luật phân biệt rõ ràng giữa một tội ác vốn tự thân đã là xấu (malum in se) và một tội ác chỉ trở thành sai trái vì bị cấm đoán (malum prohibitum). Malum in se là hành vi mà đại đa số con người, theo bản năng, cảm thấy là một tội ác đáng lên án và cần bị trừng phạt. Điều này gần tương ứng với định nghĩa của những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân về tội ác như là sự xâm phạm đến con người hoặc tài sản: hành hung, trộm cắp và giết người. Các tội khác là những hoạt động được chính phủ quy định thành tội: nạn tham nhũng của cảnh sát xảy ra chính trong lĩnh vực được nhiều người dung thứ này.

Tóm lại, tham nhũng trong cảnh sát xảy ra ở những lĩnh vực mà các doanh nhân cung cấp dịch vụ tự nguyện cho người tiêu dùng, nhưng lại bị chính phủ tuyên bố là bất hợp pháp: ma túy, mại dâm và cờ bạc. Chẳng hạn, ở những nơi cờ bạc bị cấm, luật pháp đã trao vào tay cảnh sát có nhiệm vụ quản lý cờ bạc quyền bán đặc quyền tham gia vào ngành này. Nói ngắn gọn, chẳng khác nào cảnh sát được trao quyền cấp giấy phép đặc biệt để hành nghề, rồi sau đó lại bán những “giấy phép” không chính thức nhưng thiết yếu ấy với bất kỳ giá nào mà người mua có thể chấp nhận. Một cảnh sát từng làm chứng rằng, nếu luật được thực thi đầy đủ, thì không một công trường xây dựng nào ở Thành phố New York có thể tiếp tục hoạt động, vì chính phủ đã giăng một mạng lưới chằng chịt những quy định vụn vặt và bất khả thi bao trùm lên ngành xây dựng. Tóm lại, dù có ý thức hay không, chính phủ vận hành theo cách sau: trước hết cấm một hoạt động nhất định — ma túy, cờ bạc, xây dựng, hay bất cứ thứ gì khác — rồi sau đó cảnh sát lại bán cho những ai muốn khởi nghiệp trong lĩnh vực ấy đặc quyền được gia nhập và tiếp tục kinh doanh.

Trong trường hợp “tốt đẹp” nhất, kết quả chỉ là chi phí bị đội lên và sản lượng bị hạn chế hơn so với trong thị trường tự do. Nhưng hậu quả còn tai hại hơn thế. Thông thường, thứ mà cảnh sát bán không chỉ là quyền được hoạt động, mà thực chất là đặc quyền độc quyền. Trong tình huống này, người kinh doanh cờ bạc trả tiền cho cảnh sát không chỉ để được tiếp tục làm ăn, mà còn để gạt bỏ bất kỳ đối thủ nào có thể muốn chen chân vào lĩnh vực này. Người tiêu dùng, vì thế, phải gánh chịu các nhà độc quyền được ưu ái, và bị tước mất lợi ích của cạnh tranh. Không có gì khó hiểu khi Luật Cấm rượu - cuối cùng bị bãi bỏ vào đầu thập niên 1930 - đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ không chỉ từ các nhóm cực đoan và những người theo phái Cấm rượu, mà còn từ chính các băng nhóm buôn rượu lậu có tổ chức — những kẻ đã hưởng đặc quyền độc quyền nhờ vào các thỏa thuận riêng với cảnh sát và các cơ quan thực thi pháp luật của chính phủ.

Vậy thì, biện pháp loại bỏ tham nhũng trong cảnh sát vừa đơn giản vừa hiệu quả: bãi bỏ các đạo luật chống lại hoạt động kinh doanh tự nguyện và tất cả những “tội phạm không có nạn nhân”. Làm như thế không chỉ xóa bỏ được tham nhũng, mà còn giải phóng một lực lượng lớn cảnh sát để họ tập trung đối phó với những tội phạm thực sự — những kẻ xâm hại đến con người và tài sản. Xét cho cùng, đó mới chính là chức năng ban đầu của cảnh sát.

Do đó, cần nhận thức rằng vấn đề tham nhũng trong cảnh sát, cũng như vấn đề rộng lớn hơn về tham nhũng trong chính phủ, phải được đặt trong một bối cảnh toàn diện hơn. Thực chất, với những luật lệ bất công và phi lý nhằm cấm đoán, kiểm soát và đánh thuế một số hoạt động nhất định, tham nhũng lại tỏ ra có lợi cho xã hội. Ở nhiều quốc gia, nếu không có tham nhũng — đã vô hiệu hóa các lệnh cấm, các sắc thuế và các khoản vơ vét của chính phủ — thì gần như không một ngành thương mại hay công nghiệp nào có thể vận hành. Tham nhũng, theo nghĩa đó, đóng vai trò “bôi trơn bánh xe” thương mại. Vì vậy, giải pháp không phải là lên án tham nhũng và gia tăng cưỡng chế chống lại nó, mà là bãi bỏ những chính sách và đạo luật hà khắc của chính phủ vốn làm cho tham nhũng trở thành cần thiết.

Luật về súng

Trong hầu hết các hoạt động được bàn đến trong chương này, phe tự do thường ủng hộ tự do thương mại và hoạt động, trong khi phe bảo thủ lại muốn thực thi nghiêm ngặt và trấn áp tối đa những người vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, thật kỳ lạ, khi bàn đến luật về súng, lập trường của hai phe dường như lại đảo ngược. Mỗi khi súng được sử dụng trong một vụ bạo lực, phe tự do lại càng gia tăng vận động nhằm siết chặt, thậm chí cấm đoán việc sở hữu súng cá nhân, trong khi phe bảo thủ phản đối những hạn chế đó nhân danh quyền tự do cá nhân.

Nếu, như những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân tin tưởng, rằng mỗi cá nhân đều có quyền sở hữu thân thể và tài sản của mình, thì tất yếu họ cũng có quyền dùng vũ lực để tự vệ trước bạo lực của kẻ xâm hại. Thế nhưng, vì một lý do kỳ lạ nào đó, phe tự do đã cố gắng tước đoạt một cách có hệ thống phương tiện để những người vô tội tự vệ trước hành động gây hấn. Mặc cho Tu chính án thứ Hai của Hiến pháp đã bảo đảm rằng “quyền của người dân được sở hữu và mang vũ khí sẽ không bị xâm phạm”, chính phủ vẫn liên tục bào mòn phần lớn quyền này. Ở bang New York, cũng như phần lớn các bang khác, Luật Sullivan cấm mang theo “vũ khí giấu kín” nếu không có giấy phép của nhà chức trách. Sắc lệnh vi hiến này không chỉ hạn chế nghiêm ngặt việc mang theo súng, mà còn mở rộng sang hầu hết mọi vật dụng có thể được dùng như vũ khí — ngay cả những thứ vốn chỉ có thể sử dụng để tự vệ. Hệ quả là, các nạn nhân tiềm năng của tội phạm bị cấm mang dao, bút hơi cay, hay thậm chí cả ghim cài mũ; và những ai sử dụng các vật này để tự vệ khi bị tấn công lại bị chính quyền truy tố. Tại các thành phố, lệnh cấm mang vũ khí giấu kín trên thực tế đã tước bỏ gần như toàn bộ khả năng tự vệ của nạn nhân trước tội phạm. (Đúng là không có lệnh cấm chính thức đối với việc mang vũ khí công khai, nhưng một người đàn ông ở Thành phố New York, vài năm trước, đã thử thách luật bằng cách đi bộ ngoài phố với một khẩu súng trường, liền bị bắt ngay lập tức vì tội “gây rối trật tự công cộng”). Hơn nữa, các nạn nhân lại còn bị bó buộc bởi những điều khoản hạn chế việc dùng “vũ lực quá mức” khi tự vệ, đến mức kẻ tội phạm mặc nhiên được hưởng lợi thế khổng lồ vốn có trong hệ thống pháp luật hiện hành.

Cần nói rõ rằng không một vật thể nào tự thân mang tính hung hãn; bất kỳ vật gì, dù là súng, dao hay gậy, đều có thể được dùng để gây hấn, để tự vệ, hoặc cho nhiều mục đích khác không liên quan tới tội phạm. Việc cấm hoặc hạn chế mua và sở hữu súng cũng chẳng hợp lý hơn việc cấm sở hữu dao, dùi cui, trâm cài mũ hoặc đá. Và làm sao có thể cấm tất cả những thứ này, và nếu đã cấm thì làm thế nào để thi hành lệnh cấm? Thay vì truy bắt những người vô tội mang theo hay sở hữu nhiều loại đồ vật khác nhau, pháp luật nên quan tâm đến việc đấu tranh và bắt giữ những tên tội phạm thật sự.

Hơn nữa, một cân nhắc khác củng cố kết luận của chúng ta. Nếu súng bị hạn chế hoặc bị cấm, thì không có lý do gì để nghĩ rằng những tên tội phạm quyết tâm thực hiện tội ác sẽ tôn trọng luật. Khi đó, bọn tội phạm vẫn luôn có thể mua và mang súng; chỉ có những nạn nhân vô tội của chúng là phải chịu thiệt do lập trường tự do đầy “quan tâm” áp đặt các luật chống súng và vũ khí khác. Cũng như ma túy, cờ bạc và khiêu dâm nên được hợp pháp hóa, súng và bất cứ vật gì có thể dùng làm vũ khí tự vệ cũng nên được hợp pháp hóa.

Trong một bài viết đáng chú ý phản đối việc kiểm soát súng ngắn (loại súng mà những người theo phái tự do muốn hạn chế nhất), giáo sư luật học Don B. Kates, Jr. của Đại học St. Louis đã chỉ trích những người cùng theo phái tự do với ông vì không áp dụng cùng một logic đối với súng như họ từng áp dụng đối với luật cần sa. Ông chỉ ra rằng hiện nay ở Mỹ có hơn 50 triệu người sở hữu súng ngắn, và dựa trên các cuộc thăm dò cũng như kinh nghiệm trong quá khứ, từ hai phần ba đến hơn 80% người Mỹ sẽ không tuân thủ lệnh cấm súng ngắn. Kết quả tất yếu, giống như trường hợp luật về tình dục và cần sa, sẽ là những hình phạt khắc nghiệt nhưng lại có tính chọn lọc cao – làm xói mòn sự tôn trọng đối với luật pháp và cơ quan thực thi pháp luật. Luật sẽ được thực thi một cách có chọn lọc đối với những người không được nhà chức trách ưa thích: “Việc thực thi ngày càng trở nên hỗn loạn hơn cho đến khi cuối cùng luật chỉ được áp dụng đối với những người không được cảnh sát ưa chuộng. Chúng ta hầu như không cần phải nhắc lại về những chiến thuật khám xét và bắt giữ đáng khinh mà cảnh sát và các nhân viên chính phủ thường dùng để bẫy những người vi phạm luật này.” Kates nói thêm: “Nếu những lập luận này có vẻ quen thuộc, thì có lẽ là vì chúng gần giống với lập luận chuẩn mực của những người theo phái tự do chống lại luật cần sa.”[10]

Kates sau đó nêu ra nhận định sâu sắc về điểm mù kỳ lạ này của những người theo phái tự do. Vì:

Cấm súng là ý tưởng của những người da trắng thuộc tầng lớp trung lưu theo phái tự do, những kẻ hoàn toàn không biết đến hoàn cảnh của người nghèo và các nhóm thiểu số đang sống ở những khu vực mà cảnh sát đã buông bỏ việc kiểm soát tội phạm. Trong những năm 1950, những người theo phái tự do này cũng không hề bất bình với luật cần sa, khi các cuộc truy quét chỉ nhắm vào các khu ổ chuột. An toàn trong những vùng ngoại ô được cảnh sát tuần tra nghiêm ngặt, hoặc trong những căn hộ an ninh cao có lính gác Pinkerton[11] (mà chẳng ai đề nghị tước vũ khí), những người theo phái tự do vô tri ấy lại chế giễu việc sở hữu súng là “một tàn dư lỗi thời của miền Tây hoang dã.”[12]

Kates tiếp tục chỉ ra giá trị thực nghiệm được chứng minh rõ ràng của việc tự vệ bằng súng; chẳng hạn, trong năm năm qua tại Chicago, thường dân có vũ trang đã giết chết số tội phạm bạo lực gấp ba lần so với cảnh sát. Trong một nghiên cứu về hàng trăm vụ đối đầu bạo lực với tội phạm, Kates phát hiện được rằng thường dân có vũ trang thành công hơn cảnh sát: họ bắt giữ, làm bị thương, giết hoặc xua đuổi tội phạm trong 75% các vụ đối đầu, trong khi tỷ lệ thành công của cảnh sát chỉ đạt 61%. Đúng là nạn nhân chống trả cướp bóc có nguy cơ bị thương cao hơn so với những người thụ động. Nhưng Kates nhấn mạnh hai yếu tố thường bị bỏ qua: (1) chống trả mà không có súng nguy hiểm gấp đôi so với chống trả có súng; và (2) việc lựa chọn chống trả là quyền của nạn nhân, tùy vào hoàn cảnh và giá trị quan của họ.

Với một học giả da trắng, theo phái tự do, có tài khoản ngân hàng đủ để sống sung túc, thì ưu tiên hàng đầu là tránh bị thương. Nhưng điều ấy tất nhiên ít quan trọng hơn đối với người lao động thời vụ hay người sống nhờ trợ cấp xã hội đang bị cướp mất nguồn thu nhập nuôi sống gia đình cả tháng — hoặc với một chủ tiệm da đen không thể mua bảo hiểm chống cướp và có nguy cơ thực sự phá sản vì những vụ cướp nối tiếp nhau.

Cuộc khảo sát toàn quốc năm 1975 về chủ sở hữu súng ngắn, do tổ chức Decision Making Information thực hiện, phát hiện được rằng các nhóm sở hữu súng chỉ để tự vệ chủ yếu gồm: người da đen, nhóm thu nhập thấp nhất và người cao tuổi. Kates hùng hồn cảnh báo: “Đây là những người mà người ta đề nghị chúng ta bỏ tù — chỉ vì họ khăng khăng giữ lại phương tiện bảo vệ duy nhất cho gia đình mình trong những khu vực mà cảnh sát đã từ bỏ.”[13]

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy điều gì? Liệu lệnh cấm súng ngắn có thực sự làm giảm đáng kể mức độ bạo lực trong xã hội, như những người theo phái tự do tuyên bố? Bằng chứng lại cho thấy điều ngược hẳn. Mùa thu năm 1975, một công trình nghiên cứu quy mô lớn tại Đại học Wisconsin đã kết luận dứt khoát: “luật kiểm soát súng không có tác dụng mang tính cá nhân hay tập thể nào trong việc làm giảm tỷ lệ tội phạm bạo lực.” Ví dụ, nghiên cứu này đã kiểm chứng giả thuyết cho rằng những người bình thường ôn hòa, khi tức giận, sẽ không cưỡng nổi việc nổ súng nếu trong tay họ có sẵn súng ngắn. Kết quả: không phát hiện bất kỳ mối tương quan nào giữa tỷ lệ sở hữu súng ngắn và tỷ lệ giết người khi so sánh giữa các bang.

Phát hiện này còn được củng cố bởi một nghiên cứu của Đại học Harvard năm 1976 về đạo luật Massachusetts quy định án tù tối thiểu bắt buộc đối với bất kỳ ai bị phát hiện sở hữu súng ngắn mà không có giấy phép. Quả thật, trong năm 1975, luật năm 1974 này đã làm giảm đáng kể số người mang theo súng và số vụ tấn công bằng súng. Nhưng, thật bất ngờ! các nhà nghiên cứu Harvard phát hiện không hề có sự sụt giảm tương ứng nào ở bất kỳ loại bạo lực nào khác. Nghĩa là,

Như những công trình tội phạm học trước đó từng chỉ ra: khi bị tước súng ngắn, một công dân tức giận nhất thời sẽ tìm đến khẩu súng trường nguy hiểm hơn nhiều; và khi bị tước bỏ mọi loại súng, anh ta vẫn có thể gây chết người gần như ngang vậy với dao, búa, v.v.

Rõ ràng, “nếu việc giảm sở hữu súng ngắn không làm giảm các vụ giết người hoặc bạo lực khác, thì lệnh cấm súng ngắn chỉ đơn thuần là một cách chuyển hướng nguồn lực của cảnh sát khỏi tội phạm thực sự để đổ vào loại tội phạm không có nạn nhân.”[14]

Cuối cùng, Kates nêu thêm một quan điểm đáng chú ý: xã hội mà những công dân ôn hòa được trang bị vũ khí sẽ có nhiều khả năng trở thành nơi mà các “Samaritan nhân lành”[15] – những người tự nguyện ra tay giúp đỡ nạn nhân của tội phạm – được khích lệ và lan tỏa. Nhưng khi bị tước súng, công chúng — tai hại thay cho các nạn nhân — sẽ có xu hướng phó mặc mọi việc cho cảnh sát. Trước khi bang New York ban hành lệnh cấm súng ngắn, những trường hợp Samaritan nhân lành xuất hiện phổ biến hơn nhiều so với hiện nay. Và trong một khảo sát gần đây về các vụ việc Samaritan, có đến 81% những người Samaritan ấy sở hữu súng. Nếu chúng ta muốn khuyến khích một xã hội nơi công dân sẵn sàng cứu giúp hàng xóm khi gặp nạn, thì không thể tước bỏ khả năng thực sự để họ hành động trước tội phạm. Thật là nghịch lý cùng cực khi tước vũ khí của công dân ôn hòa rồi, như vẫn thường thấy, lại quay sang lên án họ là “thờ ơ” vì không kịp thời ứng cứu nạn nhân của những vụ tấn công bạo lực.


[1] Tham khảo bài phê phán tiêu chí “nguy cơ rõ ràng và hiện hữu” là không đủ để vạch rõ ranh giới giữa việc vận động và hành động công khai, mời đọc Alexander Meiklejohn, Political Freedom (New York: Harper and Bros., 1960), pp. 29–50; và O. John Rogge, The First and the Fifth (New York: Thomas Nelson and Sons, 1960), pp. 88ff.

[2] Trong các phán quyết Hoover kiện Intercity Radio Co., 286 Fed. 1003 (Appeals D.C., 1923); và United States kiện Zenith Radio Corp., 12 F. 2d 614 (ND. Ill., 1926). Mời đọc bài báo xuất sắc của Ronald H. Coase, “The Federal Communications Commission,” Journal of Law and Economics (October 1959): 4–5.

[3] Ibid., p. 31n

[4] Quyết định Zenith năm 1926 là phán quyết của tòa án liên bang trong vụ Zenith Radio Corp. kiện Bộ Thương mại, theo đó Bộ không có thẩm quyền hạn chế hay từ chối gia hạn giấy phép phát thanh; hệ quả là bùng nổ các đài phát thanh mới, thúc đẩy Quốc hội ban hành Đạo luật Phát thanh 1927 và quốc hữu hóa sóng vô tuyến - ND.

[5] Harry P. Warner, Radio and Television Law (1958), p. 540. Trích trong Coase, “The Federal Communications Commission,” p

[6] Quyết định của FRC, Docket No. 967, June 5, 1931. Trích trong Coase, “The Federal Communications Commission,” p. 9.

[7] Mô tả tốt nhất và được triển khai đầy đủ nhất về cách phân bổ quyền sở hữu tư nhân đối với sóng radio và truyền hình là trong bài của A. DeVany và cộng sự, “A Property System for Market Allocation of the Electromagnetic Spectrum: A Legal-Economic-Engineering Study,” Stanford Law Review (tháng 6, 1969). Xem thêm William H. Meckling, “National Communications Policy: Discussion,” American Economic Review, Papers and Proceedings (tháng 5, 1970): 222–23. Kể từ bài viết của DeVany, sự phát triển của truyền hình cộng đồng và cáp đã làm giảm bớt sự khan hiếm tần số và mở rộng phạm vi cạnh tranh tiềm tàng .

[8] Buồng thí nghiệm do nhà tâm lý học B. F. Skinner phát minh (1930s), còn gọi là hộp điều kiện hóa vận hành (operant conditioning chamber). Ngày nay, còn được dùng như là ẩn dụ cho môi trường kiểm soát hành vi con người bằng hệ thống thưởng – phạt (ví dụ: mạng xã hội, game online)- ND.

[9] “Affirmative action” là chính sách can thiệp tích cực của nhà nước (hoặc tổ chức) nhằm thúc đẩy cơ hội bình đẳng cho các nhóm yếu thế, thường thông qua việc ưu tiên trong tuyển dụng, giáo dục, hay các lĩnh vực khác. Mục tiêu: Xóa bỏ bất bình đẳng lịch sử do phân biệt giới tính, chủng tộc, màu da… bằng cách áp dụng cơ chế hạn ngạch, ưu tiên hoặc hỗ trợ đặc biệt -ND.

[10] Don B. Kates, Jr., “Handgun Control: Prohibition Revisited,” Inquiry (December 5, 1977): 21.Sự leo thang trong việc cưỡng chế nghiêm khắc và áp dụng các biện pháp khám xét – thu giữ mang tính chuyên chế như thế thực ra đã có mặt rồi. Không chỉ ở Anh và nhiều quốc gia khác, nơi những cuộc khám xét bừa bãi để tìm súng vẫn diễn ra; mà còn ở Malaysia, Rhodesia, Đài Loan và Philippines – những nơi áp dụng hình phạt tử hình đối với hành vi sở hữu súng; mà ngay cả tại tiểu bang Missouri, nơi cảnh sát St. Louis trong những năm gần đây đã thực hiện hàng nghìn cuộc khám xét đối người da đen, xuất phát từ giả định rằng bất kỳ người da đen nào lái một chiếc xe đời mới đều phải có súng bất hợp pháp; và ở Michigan, nơi gần 70% các vụ truy tố liên quan đến súng đã bị tòa phúc thẩm bác bỏ với lý do thủ tục khám xét là bất hợp pháp. Thậm chí, một quan chức cảnh sát ở Detroit đã từng đề xuất bãi bỏ Tu chính án thứ Tư để cho phép tiến hành các cuộc khám xét tổng quát một cách tùy tiện nhằm phát hiện các hành vi vi phạm trong trường hợp có một lệnh cấm sở hữu súng ngắn trong tương lai. Ibid., p. 23.

[11] Pinkerton National Detective Agency được thành lập năm 1850 tại Chicago bởi Allan Pinkerton, một người Scotland nhập cư. Ban đầu, công ty chuyên về dịch vụ thám tử tư và bảo vệ. Nhiệm vụ: Cung cấp dịch vụ an ninh tư nhân cho các doanh nghiệp, đặc biệt là đường sắt và các công ty công nghiệp lớn, tham gia vào việc bảo vệ tài sản, truy bắt tội phạm, điều tra trộm cướp. Và được thuê để đàn áp đình công và phá vỡ các tổ chức lao động vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX - ND.

[12] Ibid., p. 21.

[13] Ibid. Quan điểm cực kỳ hà khắc – bỏ tù người chỉ vì đơn thuần sở hữu súng ngắn – không phải là lập luận giả định phi thực tế, mà chính xác lại là “mẫu lý tưởng” của phe tự do. Tu chính án hiến pháp Massachusetts – rất may là đã bị cử tri bác bỏ với tỷ lệ áp đảo vào năm 1977 – từng đề xuất áp dụng mức án tối thiểu bắt buộc là một năm tù giam đối với bất kỳ ai bị phát hiện có sở hữu súng ngắn.

[14] Ibid., p. 22. Tương tự ở Anh, công trình nghiên cứu của Đại học Cambridge năm 1971 cho thấy, tỉ lệ giết người ở Anh – dù đã có lệnh cấm súng ngắn – đã tăng gấp đôi trong vòng 15 năm qua. Hơn nữa, trước khi lệnh cấm súng ngắn được ban hành năm 1920, khi hoàn toàn không có bất kỳ hạn chế nào về súng, việc sử dụng súng trong các hành vi phạm tội còn thấp hơn nhiều so với hiện nay.

[15] Nguồn gốc Kinh Thánh: “Người Sa-ma-ri nhân lành” xuất phát từ một dụ ngôn nổi tiếng của Chúa Giê-su trong Phúc Âm Lu-ca 10:25–37. Trong đó, một người Do Thái bị cướp đánh, bị bỏ mặc nửa sống nửa chết. Một thầy tế lễ và một thầy Lê-vi đi ngang nhưng tránh qua bên kia đường, không giúp. Cuối cùng, một người Sa-ma-ri – vốn là dân bị người Do Thái khinh thường – lại dừng lại, chăm sóc và cứu giúp -ND.

Nguyên tác: For a New Liberty, Murray N. Rothbard

Bản dịch: Phạm Nguyên Trường dịch

 

Dịch giả:
Phạm Nguyên Trường