[VIDEO] Hạnh phúc - Leonard Peikoff
Giờ thì hãy chuyển qua chủ đề “hạnh phúc”. Chủ nghĩa khách quan tin rằng “sự đoan chắc” là tình trạng bình thường của tâm trí, “hạnh phúc” là tình trạng bình thường của tâm hồn. Hãy xem xét tại sao như vậy. Chúng ta hãy nhớ lại điểm mấu chốt từng bước từng bước một trong triết lý của một người theo chủ nghĩa khách quan về “hạnh phúc” như cách chúng ta gọi. Tôi muốn bắt đầu bằng một khái niệm rộng hơn “hạnh phúc” (happiness), khái niệm “niềm vui sướng” (pleasure). Tạm thời tôi dùng khái niệm này cho bất cứ dạng thức nào của sự vui vẻ hay thích thú. Trước hết phải lưu ý rằng nếu đi sâu về chủ đề này thì “niềm vui sướng” là một hiệu ứng. Nó là nguyên nhân của việc giành lấy một giá trị, có thể là một bữa ăn khi đói, một biểu hiện tình cảm từ người yêu, một điểm A ở trường hoặc một sự thăng chức chờ đợi bấy lâu ở công ty.
Ngược lại, tiền đề “vũ trụ tiêu cực” là một quan điểm chỉ vũ trụ đối kháng hay thù địch với sự sống của loài người, nghĩa là con người không thể đạt được các giá trị của mình và sự thành công, dù có thể xảy ra, là ngoại lệ. Đó là nguyên tắc: cuộc sống này là thất bại và khốn khổ. Bạn biết rằng như bất kì sinh vật có ý thức nào, tất cả loài người, bao gồm con người “tiền đề vũ trụ tích cực” đều quá quen thuộc với nỗi đau. Tuy nhiên, điểm đáng nói là con người lại từ chối nhìn nhận nỗi đau một cách nghiêm túc. Đó là lời phát biểu đầu tiên của Danneskjöld nơi với John Galt ở thung-lũng-Mulligan6 . Đó là từ chối thừa nhận ý nghĩa quan trọng về mặt siêu hình học của nỗi đau. Đối với kiểu người này, niềm vui sướng chính là sự mặc khải của thực tại- cái thực tại mà sự sống là khả thi, nhưng nỗi đau thì khác; nỗi đau đơn thuần là khích lệ cho hành động sửa sai và cho vấn đề kiểu hành động sửa sai đó căn cứ vào. Vấn đề không phải là “dùng làm gì” mà là “tôi có thể làm gì”. Để tôi nhắc lại 1, 2 câu của nhân vật Ragnar Danneskjöld7 : “Bi kịch không phải là định mệnh tự nhiên của chúng ta và chúng ta không sống trong nỗi khiếp hãi thường trực về tai ương. Chúng ta không mong chờ tai ương cho tới khi có lí do cụ thể để mong chờ. Và khi đối diện với tai ương, chúng ta tự do chiến đấu. Không phải hạnh phúc mà sự chịu đựng chính là điều tôi xem là không tự nhiên”. Nếu bạn giữ quan điểm này, đến lúc nó sẽ trở thành một lời tiên tri tự ứng nghiệm, cũng như quan điểm đối lập: kẻ nào không chấp nhận “các khó khăn là do hoàn cảnh thực tại” thì sẽ luôn ấp ủ cách duy nhất giải quyết chúng.
Giờ tôi muốn làm rõ là “tiền đề vũ trụ tích cực” không hề nói rằng nó có liên quan tới “chủ nghĩa lạc quan” (optimism). Nếu như nó có nghĩa như vậy thì cũng vì mục đích tốt. Rất nhiều thứ trong báo chí ngày nay rõ ràng là ngược lại. Tiền đề này cũng không có nghĩa là sự thật sẽ được phơi bày trừ khi bạn thêm vào từ “cuối cùng” (ultimately). Mà cuối thì lâu lắm. Sự tích cực cũng không giống với Pollyannaism (người lạc quan quá mức). Nó không phải là sự lừa phỉnh rằng luôn có cơ hội thành công thậm chí trong những tình huống tuyệt vọng. Nhưng, phương án sửa chữa những sai lầm này không phải là trở thành một kẻ bi quan, vốn cũng là một hình thức tự lừa phỉnh khác. Hướng giải quyết đúng đắn là: chủ nghĩa hiện thực, nói cách khác, sự chấp nhận thực tại cùng với những hiểu biết về cuộc sống mà nó mang lại; cụ thể như hạnh phúc, dù hiếm hoi nhưng cũng không phải là kì tích gì. Tại sao nó hiếm? Vì đó là thành quả đỉnh cao mà chỉ có mục tiêu cực kì khắc khe, đạo đức và hợp triết lí mới tạo ra được. Và về khía cạnh này, tôi cho rằng những điểm rút ra từ sự quan sát trứ danh này hết sức đúng đắn; những điều tuyệt vời vừa hiếm vừa khó đạt được.
Dưới một góc nhìn khác, và cũng là góc nhìn riêng của Ayn Rand về cách theo đuổi hạnh phúc trong cuộc sống: việc này hoàn toàn không khó khăn gì cả, mà ngược lại còn là việc đơn giản nhất trần đời. Nói ngắn gọn theo cách của bà ấy thì điều ta cần làm là: SỐNG. Và để đạt được “sự đoan chắc” thì cũng tương tự, việc duy nhất ta cần làm là: TƯ DUY.
Sau khi đã suy ngẫm về 2 điều trên, giờ ta hãy tìm hiểu xem vấn đề triết lý cốt lõi của lối sống ''phản hạnh phúc'' và ''phản đoan chắc'' là gì? Hay nói một cách nhẹ hơn: vấn đề gốc rễ của quan điểm khách quan về hai chủ đề này là như thế nào?
Ta bắt đầu với chủ đề hạnh phúc nhé. Nguồn gốc sâu xa nhất của góc nhìn khách quan về hạnh phúc là gì? Hay nói cách khác, nguồn gốc của quan điểm cho rằng “đạo đức là thực tế”, và “hạnh phúc do đó rất bình thường” là gì? Thật ra, việc này sẽ dễ giải thích hơn nếu ta đặt câu hỏi ngược lại: tại sao mọi người lại cho rằng hạnh phúc là ao ước không thể với tới, là đáng thèm muốn và rồi khăng khăng rằng đạo đức và thực tế là điều trái ngược?
Hãy nghĩ xem: Tại sao người ta lại chịu sống chung với sự phân đôi rạch ròi, một sự đối lập một mất một còn giữa luân lý và thực tiễn? Tại sao họ vẫn chưa loại bỏ đạo lý truyền thống cứng nhắc đó? Chỉ vì nó là thứ quá xa vời nên nó sẽ dẫn tới đau khổ và tội lỗi mà thôi? Nếu bạn trả lời được câu hỏi trên thì bạn đã hiểu được gốc rễ của đạo lý này, và đương nhiên bạn cũng đã hiểu nền tảng của đạo đức học chính là triết lý cơ bản của vấn đề.
Vậy cốt lõi của vấn đề sâu hơn mà ta đang bàn bạc là gì? Nếu bạn trả lời không đúng thì không hay đâu vì tôi đang muốn giải quyết từng vấn đề một. Nào, cốt lõi của vấn đề sâu hơn ta đang bàn bạc là gì? Là lưỡng cực phân đôi: tâm trí và cơ thể. Một người ủng hộ quan điểm này sẽ chỉ đồng ý một cách miễn cưỡng khi thấy những điều mà họ ca tụng gây họa trên thực tế. Dù người ấy suốt ngày nói rằng đạo đức là vấn đề của tâm hồn và rằng tâm hồn trái ngược với thể xác. Vậy anh ta chỉ còn lựa chọn: hoặc là bám lấy tinh thần, mang lý tưởng của mình rút lui về nhà thờ hay sa mạc ở ẩn, để rồi được phong Thánh với tư cách một người căm ghét chính cuộc sống của mình; hoặc là bám víu vào cuộc sống vật chất rồi vứt bỏ đạo đức của chính mình. Ta có thể thấy cả hai lựa chọn này thống nhất ở một điểm cốt lõi: bản chất đạo đức là vô dụng, thậm chí gây hại trong cả đời sống tinh thần và thể chất. Như vậy, cuộc sống không nhất thiết cần đức hạnh mà có thể chỉ cần ''thủ đoạn'' thôi. Điều đó dẫn tới một bước khác. Chúng ta có thể nhìn nhận sự thống nhất đó theo cách như vầy: cả hai lựa chọn này đồng ý rằng những nguyên lý dẫn lối trong cuộc sống không phải là điều cốt yếu của hành động thắng lợi, mà cũng không phải là điều cốt yếu của hạnh phúc, ngay lúc này và trên toàn vũ trụ.
Ngược lại, cả hai trường phái đều nhất trí rằng các nguyên lý bất kỳ là vật cản trở chúng ta, một cái ''gai tinh thần'' trong da thịt của mỗi người khiến chúng ta hoặc là chịu đựng một cách khoái trá bệnh hoạn, hoặc là rút nó ra một cách thật ''đạo đức''. Một bên cho ta lối sống tự hy sinh khổ hạnh, bên kia thì lại tôn thờ những mong muốn bất chợt và khoái lạc.
Nguồn gốc của những giá trị mà các sinh vật sống có nhu cầu theo đuổi là gì? Rõ ràng đó là nhu cầu của sự sinh tồn. Chúng ta có thể tóm tắt điểm này bằng cách nói rằng bản năng bảo toàn dẫn đến hành động hướng tới mục đích, rồi tới thành công chính là lúc đạt được “niềm vui sướng”. Đó là trường hợp của các sinh vật sống có ý thức. Và đó cũng là nguyên tắc của một người theo chủ nghĩa khách quan, rằng “niềm vui sướng” là bạn đồng hành của cuộc sống. “Niềm vui sướng” là hệ quả vốn có của các sinh vật sống có ý thức, của mục tiêu thắng lợi chi phối hành động vốn gắn liền với cuộc sống. Và “niềm đau khổ”, theo cách lập luận tương tự, là bạn đồng hành của điều ngược lại.
Như bạn biết, theo quan điểm của Ayn Rand về mức độ thể chất, cơ chế vui sướng-khổ đau là một cái áp kế về sự lựa chọn cơ bản của một người. Cảm giác của sự vui sướng về mặt thể chất cho thấy một người hài lòng với nhu cầu sinh học nào đó, và tuỳ theo mức độ mà có một cơ chế hành động phù hợp. Cảm giác của nỗi đau thể chất là một cảnh báo có gì đó không ổn. Nó cho thấy một sự thiếu hụt hay hỏng hóc nào đó cần được khắc phục. Bạn biết rằng ở mức độ này thì cơ chế là bản năng (vô thức). Tiêu chuẩn giá trị quyết định đúng hay sai về mặt thể chất được cài đặt một cách bản năng, đương nhiên tiêu chuẩn là sự sống. Chúng ta cần làm rõ điều này.
Tôi đã nói rằng niềm vui sướng về thể chất thể hiện rằng bạn đang theo đuổi một phương hướng hành động đúng. Nếu bạn chỉ ăn bánh kem trong suốt 6 tuần và điều này mang đến những niềm vui liên tục, vậy là bạn vẫn hành động đúng? Hoặc tôi nói cảm giác đau đớn về thể chất là dấu hiệu cho thấy có gì đó không ổn thì thế là bạn không bao giờ nên đi nha sĩ để khoan răng vì sẽ gây đau đớn và đó là một dấu hiệu có gì đó bất ổn? Rõ ràng bạn không thể diễn dịch điểm này theo cách như vậy. Một cảm giác không nhất thiết thể hiện một chuỗi những hệ quả kéo dài và do đó không nên nghe theo một cách mù quáng. Quá nhiều đồ ngọt có thể làm bạn sung sướng trong khoảnh khắc nhưng sau đó sẽ dẫn đến đau bụng hay sâu răng, bạn có thể thêm nữa. Thậm chí trong trường hợp này thì nguyên lí vẫn đúng ở mối tương quan giữa niềm vui sướng và cuộc sống. Niềm vui sướng xuất phát từ sự thật là đường có thể thoả mãn một nhu cầu sinh học nhưng bởi vì lượng đường tiêu thụ quá nhiều sẽ gây hại nên hậu quả cuối cùng là nỗi đau khổ. Tương tự, cái đau khi khoan răng thực sự cho thấy một số tế bào thần kinh đang bị huỷ hoại, nhưng đây chính là khoảnh khắc đáp ứng cho sự sống của sinh vật. Do đó, kết quả lâu dài và những việc tương tự là cảm xúc tích cực đi cùng với sức sống nguyên vẹn.
Vậy, nguyên tắc vẫn đúng nhưng không thể áp dụng một cách đơn giản thái quá, một cách vô lí. Cũng như cơ thể có niềm vui sướng, và cảm giác đau đớn để bảo vệ và dẫn dắt nó, ý thức có hai cảm xúc cơ bản, theo Ayn Rand gọi là: niềm vui (joy) và sự chịu đựng (suffering); như một cái áp kế cho sự lựa chọn thay phiên: sống hoặc chết. Niềm vui là kết quả của việc đạt được chân giá trị mà một người lựa chọn dựa trên mức độ nhận thức hơn là một giá trị sinh lý thuần bản năng. Còn sự chịu đựng là kết quả của mất mát hay thất bại liên quan tới một chân giá trị đã chọn- chân giá trị mà được xây dựng và hướng đến tầng nhận thức nhất định. Giờ thì tới khái niệm “hạnh phúc” (happiness), một hình thái của “niềm vui” (joy), dạng thức lâu dài và cốt yếu của “niềm vui”. Nên nếu các bạn cần một bảng biểu cho xứng với học phí, tôi sẽ chọn khái niệm rộng lớn nhất, “niềm vui sướng” (pleasure) theo nghĩa hoang dại nhất. Theo nghĩa rộng, nghĩa là sự vui vẻ hay thích thú dưới bất cứ hình thức nào và từ bất kì nguồn nào. Rồi, đi sâu khái niệm “niềm vui sướng” (pleasure) theo nghĩa cảm nhận bằng giác quan, như khi thưởng thức vị bánh kem hay đại loại vậy; và “niềm vui” theo mức độ nhận thức thuộc về ý chí, nó có thể nhất thời và nông cạn, hoặc thiết yếu và lâu dài và khi nó đạt tới một dạng thức đặc biệt của niềm vui, chúng ta gọi đó là “hạnh phúc” (happiness). Và đó là cách vận hành bảng biểu nguồn gốc của các khái niệm.
Vậy định nghĩa “hạnh phúc” chính thức của Ayn Rand là gì? Không, bà đã rất mạnh mẽ với lập trường là một cảm xúc phải được định nghĩa dựa theo nguyên nhân gây ra. Bạn không thể xác định một cảm xúc đơn giản bằng việc liên hệ tới một cảm xúc khác. Để khách quan, bạn phải cố gắn nó vô thực tiễn bằng việc định nghĩa theo cách mà nó liên hệ với nguyên nhân gây ra nó. Bà có lấy một câu trong bài diễn văn của Galt1 khi định nghĩa “hạnh phúc” theo hướng chủ nghĩa khách quan. Nhưng nếu bạn dùng thời gian cho điểm này, bạn sẽ không có thời gian cho phần câu hỏi. Chính xác rồi. “Trạng thái nhận thức bắt nguồn từ việc đạt được các giá trị của con người.” Tôi muốn phân tích định nghĩa này một chút.
Như chúng ta biết, về mức độ nhận thức, tiêu chuẩn giá trị-dùng để quyết định phản ứng của con người-không do bản năng (tiêu chuẩn giá trị do ý thức của con người). Những giá trị được lựa chọn không nhất thiết phải hoà hợp với những yêu cầu của sự sinh tồn. Trái lại, một người có thể chịu đựng và theo đuổi những giá trị phi lý để từ đó đạt được những niềm vui từ quá trình huỷ hoại bản thân. Kiểu người như vầy đảo ngược áp kế cảm xúc của mình, biến nó thành một công cụ huỷ hoại. Cơ chế không còn chức năng bảo vệ mà trở thành còi báo hoặc một thế lực xấu xa thôi thúc anh ta tự huỷ hoại bản thân. Ví dụ như những người tạo niềm vui cuộc sống từ việc phạm pháp, hút chích, lười nhác, thèm khát quyền lực hoặc được cộng đồng chấp nhận. Bạn chắc chắn có thể kể thêm vô danh sách này.
Tuy vậy, niềm vui sướng là bạn đồng hành của cuộc sống và nguyên tắc này là bất di bất dịch. Do đó bạn sẽ không thể đạt được hạnh phúc bằng bất cứ cách nào trong số vừa liệt kê. Bạn không thể, bởi vì một hành vi “chống sự sống” là một hành vi “chống giá trị” hoặc một cách diễn đạt khác là: một hành động tối kị với phương hướng hành động nhắm tới mục tiêu thắng lợi.
Tôi cứ coi như các bạn đã rành rẽ về quy tắc đạo đức của một người theo chủ nghĩa Khách Quan. Nhưng thôi cứ tóm tắt điểm cần thiết. Một người có đạo đức là một người tiêu biểu có bản năng tự bảo toàn. Theo chủ nghĩa Khách Quan, anh ấy là người dùng năng lực tư duy, lí luận của mình để đưa ra vô số những quyết định liên quan tới việc lựa chọn các chân giá trị và theo đuổi mục tiêu. Chỉ có người có đạo đức mới lựa chọn mục tiêu và phương thức phù hợp với bản chất tồn tại và sự nhất quán trong ý thức của chính mình; chỉ anh ta từ chối huỷ hoại con người và mục đích của bản thân bằng những khao khát hay nỗi sợ vô lí. Và cho nên chỉ có anh ta mới có thể đạt được cái giá trị của mình. Và chỉ có anh ta mới có thể gặt hái được kết quả và phần thưởng về mặt cảm xúc cho một thành tựu như vậy.
Vậy chúng ta đã nhất trí một nguyên tắc quan trọng: người có đạo đức, người thiết thực và người hạnh phúc không thể tách rời. Về bản chất, ba đối tượng này tạo nên một thể thống nhất và lời giải thích cho nó là nguyên tắc này: người nào hiểu được thực tế sẽ có thể đạt được mục tiêu và từ đó có thể tận hưởng quá trình sống. Người có đạo đức, hiểu được thực tế, sẽ có thể đạt được mục tiêu, trở thành người thiết thực, và từ đó tận hưởng cuộc sống, là người hạnh phúc. Theo dấu hiệu nhận biết tương tự, kẻ xấu xa, người thiếu thực tế và người bất hạnh cũng tạo một sự thống nhất. Người vô đạo đức là người trốn tránh, tự biến mình thành người bất lực, thiếu thực tế và trải nghiệm cuộc sống theo kiểu chịu đựng, và trở thành kẻ bất hạnh.
Khi Ayn Rand nói rằng “hạnh phúc có được từ việc đạt được giá trị mà một người theo đuổi”, không có nghĩa là từ việc đạt được bất kì mục đích nào, hợp lẽ phải hay không. Nếu một người nắm giữ và đạt được những giá trị hợp lẽ phải, kết quả là anh ấy sẽ hạnh phúc và niềm hạnh phúc sẽ phản ánh sự thật là phương hướng hành động của anh ấy hướng tới cuộc sống. Ngược lại, nếu các giá trị anh ấy theo đuổi trái lẽ phải, anh ấy sẽ đạt được một mục tiêu trớt quớt nào đó, thậm chí một mớ mục tiêu như vậy. Nhưng anh ta không thể “đạt được giá trị của mình”. Vì sao? “Đâu có đúng. Ừ thì các giá trị của tôi không tồn tại, nhưng trên thực tế tôi vẫn có thể đạt được chúng chứ.” Nguyên nhân sâu xa là, nếu nắm giữ những giá trị trái lẽ phải, chúng tự khắc sẽ xung đột với nhau, xung đột với thực tế và vì thế anh ta không bao giờ đạt được chúng.
Ví dụ đơn giản nhất là khi một gã rối loạn thần kinh cố đạt được lòng tự tôn thông qua tình yêu phổ quát. Hắn ở vào cái thế mà hắn không bao giờ đạt được giá trị của mình, và dù làm gì đi nữa hắn cũng đánh mất nó. Nếu mọi người ban phát tình yêu cho anh ta, anh ta sẽ phải bẻ cong nhân phẩm của mình để đón nhận tình cảm đó, và rồi sẽ tự ghét bỏ bản thân vì làm như vậy. Mặt khác, nếu anh ta dám đứng lên bảo vệ những giá trị của mình mà không nhận được tình yêu của thiên hạ, anh ấy sẽ rất khổ sở. Anh ta bị lạc lối. Không có phương hướng hành động, chuyện thần tiên hay truyền thuyết nào có thể hướng anh ta đến việc “đạt lấy các giá trị” của mình, nếu theo đuổi một giá trị như vậy.
Nếu cần một ví dụ có tính chính trị, tôi sẽ liên hệ tới chương sách nói về các trại tập trung khi giá trị của Đức quốc xã là “quyền lực tuyệt đối”. Và tới khi đạt được, họ chẳng còn gì để thể hiện sức mạnh. Mục tiêu là có được những con người có chức năng suy nghĩ chủ động để làm những con tốt thí cho quyền lực tuyệt đối. Và đơn giản là họ không thể đạt được điều này. Mục tiêu này mâu thuẫn với thực tiễn.
Đó là 2 ví dụ cho luận điểm tại sao lại định nghĩa hạnh phúc chính là được tạo nên từ việc một người đạt được những giá trị của họ. Bạn phải nhớ rằng, các giá trị không hợp lẽ phải thì không thể đạt được. Một mục tiêu phi lí có thể thành toàn, như việc Hitler có thể tiêu diệt Ba Lan nhưng ông ta không thể đạt được là “hành động tiêu diệt này để làm gì.” Một người không có lí trí, phải bị hành hạ và đây là tôi diễn đạt lúc này. Trong cách tiếp cận thế giới của người phi lý: thất bại nghĩa là chịu đựng và thành công cũng vậy. Thành công theo kiểu Hitler, nói cách khác, là phớt lờ hoặc chống lại thực tiễn, đó là một mối đe doạ. Sự đạt được là nỗi lo lắng, khao khát là tội lỗi, sung sướng gắn với cảm giác mệt mỏi ngầy ngật sau khi tỉnh rượu, niềm vui thì bị khuất phục trước nỗi đau...Trạng thái này dù gọi là gì đi nữa cũng không phải là “hạnh phúc”. Đó là lí do tại sao Ayn Rand cực kì chú ý cẩn trọng trong định nghĩa của bà. Đó không còn là một định nghĩa nữa, đó là quá trình phát triển học thuyết công phu, thiết yếu.
Rand viết, tôi dẫn nguyên văn từ diễn văn của nhân vật Galt: “Hạnh phúc là một trạng thái của niềm vui không chứa đựng mâu thuẫn, một niềm vui không tội lỗi hay chịu phạt, một niềm vui không đi ngược lại các giá trị của bạn và không được dùng để huỷ hoại, không phải niềm vui có được từ việc trốn khỏi tâm trí mình mà là niềm vui từ việc sử dụng trọn vẹn năng lực của tâm trí, không phải niềm vui của việc giả tạo thực tế mà của việc đạt được các giá trị thực, không phải niềm vui của một kẻ say xỉn mà là của một nhà sáng chế.” Đó là quá trình phát triển của quan điểm học thuyết mà chúng ta đã và đang đưa ra.
Rand viết, tôi dẫn nguyên văn từ diễn văn của nhân vật Galt: “Hạnh phúc là một trạng thái của niềm vui không chứa đựng mâu thuẫn, một niềm vui không tội lỗi hay chịu phạt, một niềm vui không đi ngược lại các giá trị của bạn và không được dùng để huỷ hoại, không phải niềm vui có được từ việc trốn khỏi tâm trí mình mà là niềm vui từ việc sử dụng trọn vẹn năng lực của tâm trí, không phải niềm vui của việc giả tạo thực tế mà của việc đạt được các giá trị thực, không phải niềm vui của một kẻ say xỉn mà là của một nhà sáng chế.” Đó là quá trình phát triển của quan điểm học thuyết mà chúng ta đã và đang đưa ra.
Tôi muốn xem xét mối quan hệ giữa sự hợp lẽ phải và hạnh phúc theo một khía cạnh khác. Nếu hạnh phúc bao gồm việc đạt được các giá trị, hãy tập trung cụm “các giá trị”, nó buộc các giá trị này đối lập với những mong muốn bất chợt. Nói cách khác, niềm tin về sự đúng đắn của các mục tiêu đề ra và niềm khao khát đạt được chúng so với sự nuông chiều bản thân và những theo đuổi tuỳ tiện dẫn đến cảm giác mơ hồ. Cũng có thể nói là nó cần một mục đích rõ ràng thay vì cứ bị cuốn theo. Nếu hiểu nguyên tắc đạo đức của chủ nghĩa khách quan, bạn sẽ biết rằng người có lí lẽ sẽ thực hiện yêu cầu này, còn người vô lí thì không. Trong chừng mực của một người thiếu lí trí, anh ta sẽ không được dẫn dắt bởi sự theo đuổi những điều tích cực mà là cuộc trốn chạy khỏi những tiêu cực. Nói theo ngôn ngữ tâm lí: không phải sự tự khẳng định một cách lành mạnh mà là một sự phòng thủ loạn thần kinh. Còn theo cách nói của Ayn Rand thì: không phải động cơ tình yêu mà là động cơ sợ hãi. Tình yêu trong ngữ cảnh này là khát khao đạt được và tận hưởng một giá trị. Sợ hãi là mong muốn thoát khỏi một giá trị tiêu cực. Sự phân biệt tuỳ vào động cơ chính yếu của một người, trong một sự việc hoặc lĩnh vực cụ thể. Ví dụ, một người nỗ lực sáng tạo ra một điều gì mới mẻ trong công việc có thể phải chiến đấu với các chướng ngại gặp phải trên đường như là một phần không tránh khỏi. Ngược lại, là người đơn giản chỉ không muốn bị sếp chê trách hay đuổi việc. Một người tìm kiếm tình yêu mãnh liệt với một tâm hồn đồng điệu khác với một người ngủ với bất cứ ai chỉ vì không muốn cô đơn. Một người biết chăm sóc sức khoẻ để có được một cuộc sống chất lượng khác với một người mắc chứng rối loạn lo âu bị bệnh (hypochondriac) cứ ám ảnh với chuyện bản thân thực sự không có vấn đề bệnh lý gì. Một người nghe nhạc Rachmanioff2 để lấy cảm hứng và thưởng thức giai điệu khác với một người mở nhạc Schoenberg3 chỉ vì sợ mình bị lỗi thời hoặc, để dễ ngủ hơn. Ứng viên tổng thống thực sự có gì đó để trình bày trong một chương trình nghị sự trên TV, để thật sự muốn chứng minh cho cả nước thấy và chiến thắng với lập luận của mình khác với một ông chỉ muốn không bị phạm lỗi trên màn hình và không bị thua cuộc.
Về một mặt nào đó thì hai kiểu người này đều có thể xem như “có mục đích”, có nghĩa là họ đều cư xử, hành động và theo đuổi điều gì đó, chứ không phải là vô tri, bất động như...cái cặp sách này. Nhưng không phải cả hai đều là tiêu biểu của mục đích theo ý mà chúng ta nói đến: giá trị của mục đích. Theo mặt đạo lí thì họ không có mục đích bởi vì đạo đức được định nghĩa dựa trên những yêu cầu của sự sinh tồn. Và mục tiêu của cuộc sống không thể nào đạt được bằng cách tìm kiếm hư không, tôi đảm bảo vậy. Một trích dẫn từ Galt “đạt thành sự sống không đồng nghĩa với né tránh cái chết. Sự tồn tại không phải là phủ định của những điều tiêu cực. Không phải giá trị mà sự xấu xa mới chính là điều không tồn tại và là một điều tiêu cực.”
Thế nên, hạnh phúc cũng không phải là sự không tồn tại. Hạnh phúc cũng không phải những niềm vui tội lỗi chỉ để cảm thấy bớt bất an. Nói dễ hiểu, hạnh phúc không phải là điều bạn cảm thấy khi dừng đập đầu vô tường mà là điều bạn cảm thấy khi từ chối thực hiện hành vi đập đầu đó, nói cách khác, khi bạn nỗ lực bảo vệ cái đầu của mình như là một điều hiển nhiên của nguyên tắc sống. Hạnh phúc, phần thưởng của cuộc sống, là một khía cạnh của cuộc sống và vì thế nó yêu cầu rằng giá trị không phải là sự trốn tránh mà là một đầu óc hoạt động bình thường.
Và quan điểm theo chủ nghĩa khách quan thì bạn không thể đạt được bản năng tự bảo toàn một cách tuỳ hứng mà phải bằng lí lẽ; và chỉ bằng lí lẽ bạn mới có được hạnh phúc, chứ không phải một cách tuỳ ý. Sự thật là bản năng tự bảo toàn và hạnh phúc không phải là hai ý niệm hoàn toàn tách biệt. Chúng là một sự thật không thể phân chia, được nhìn nhận từ hai góc độ khác nhau: hành động bên ngoài và hậu quả bên trong; hoặc nguyên nhân sinh học và kết quả tâm lí; hoặc sự tồn tại và ý thức.
Giờ tôi có vài lời muốn nói về câu hỏi khi chấp nhận rằng đức hạnh (virtue) là điều kiện cần của hạnh phúc thì nó có phải là điều kiện đủ luôn không? Câu trả lời là có, sự thật đúng như vậy.
Hãy xem xét ví dụ về một người có đạo đức và chưa đạt được thành công về nghề nghiệp hay yêu đương và nhân vật chính của Ayn Rand, cứ gọi là Galt đi, vào thời điểm anh ấy một mình đương đầu với cả thế giới, bị cấm ở chỗ làm và nghèo rớt. Một người như thế rõ ràng là chưa “đạt được giá trị của anh ta”. Ngược lại là đằng khác, anh ấy bị khó khăn trắc trở bao vây. Tuy nhiên, là nhân vật chính của Ayn Rand, anh ấy vẫn tự tin, sống hoà bình với bản thân mình và vô cùng thanh thản. Anh ta vẫn là người hạnh phúc dù phải trải qua một giai đoạn bất hạnh. Anh ấy thực sự đối diện với sự túng thiếu, vỡ mộng và đau khổ. Nhưng theo một cụm từ rất đáng ghi nhớ từ tác phẩm “Suối nguồn”, “nỗi đau chỉ xuống đến một điểm nhất định.” Một miêu tả cực kì sâu sắc. Và dưới cái điểm được nói tới đó là những thuộc tính cốt yếu mà một người đã bồi đắp vào tâm hồn, lí trí, mục tiêu và cả lòng tự tôn của mình. Quan trọng là, người kiểu này đã đạt được giá trị của mình, không phải những giá trị hiện hữu nhưng là những giá trị về triết lý sống vốn là tiền đề của các giá trị. Cái mà anh ấy đạt được không phải là thành công mà là khả năng có thể đi tới thành công, nói cách khác, là mối quan hệ đúng đắn với thực tại.
Cho nên, đối với một người như vậy thì nét chủ đạo về mặt tình cảm là một hình thức vui sướng độc đáo và bền lâu, niềm vui có được từ một thực tế đơn giản là anh ta đang sống, nếu anh ta là người biết trân trọng sự sống. Bạn biết tôi đã miêu tả cái cảm xúc cụ thể này trong các bài giảng trước đây rồi, là gì nhỉ? Một kiểu của sự vui sướng. À, tôi tưởng mình không cần phải tự lặp lại chứ. “Niềm vui sướng siêu hình” (metaphysical pleasure), đối lập với những niềm vui sướng cụ thể khác như công việc, tình bạn, vân vân...
Niềm vui sướng siêu hình không thể xoá bỏ những nỗi đau khổ vốn có trong cuộc sống hằng ngày. Nhưng nói một cách tích cực, “niềm vui sướng vô hình” muốn những nỗi đau khổ đó cũng như làm cho niềm vui sướng mỗi ngày mãnh liệt hơn. Ngược lại, người không có đạo đức sẽ chịu đựng nỗi đau khổ siêu hình, hoặc có thể gọi là sự bất an kéo dài, mâu thuẫn, nghi ngờ bản thân, một kẻ thù cố hữu của hiện thực. Nỗi đau khổ kiểu này sẽ càng làm sự thất bại mỗi ngày của anh ta tệ hại hơn, và trong khi nó biến niềm vui sướng của anh ta trở thành nông cạn và hời hợt “chỉ xuống đến một điểm nhất định”, một sự miêu tả hoàn hảo dành cho Keating (nhân vật trong tác phẩm Suối Nguồn-Ayn Rand). Anh ta chỉ có thể cảm nhận niềm vui sướng, nhưng chỉ đến một điểm nhất định nào đó thôi.
Niềm vui sướng siêu hình tuỳ thuộc vào những chọn lựa và hành động của một người. Theo nghĩa này, đức hạnh bảo chứng cho hạnh phúc, không phải niềm hạnh phúc trọn vẹn khi đạt được giá trị trong thực tế mà là nỗi rộn ràng của việc biết rằng, thành tựu đó hoàn toàn nằm trong tầm tay. Trạng thái này thể hiện ở đoạn cuối tác phẩm “Suối Nguồn”, khi nhân vật Roark, hân hoan thắng lợi, đứng trên tầng cao nhất của toà nhà Wynard, nhìn xuống Dominique. 100% đó là hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc còn là cả giai đoạn đầu và xuyên suốt hành trình của Roark, thậm chí trong phiên toà vụ mỏ đá granite của nhân vật này.
Có hai điều chính mà tôi muốn nói ở đây nếu không chúng sẽ vô ích và bị nhầm lẫn hoặc gây cho ai đó cảm giác tội lỗi hoặc nghi ngờ bản thân. Tạm coi như không ai trong phòng này phạm phải cái lỗi tôi đang nghĩ nhưng có thể ai đó mà bạn biết sẽ bị thì sao. Hai sự điều chỉnh, một gắn liền với ý thức và một gắn liền với sự tồn tại.
Trước hết, trong thế giới điên đảo ngày nay, dễ dàng hình dung một đứa trẻ ngoan ngoãn, được nuôi dưỡng một cách tàn ác bởi gia đình và thầy cô, chất chứa vô vàn mâu thuẫn, phải chịu nhiều bất công và vô lí đến nỗi đứa trẻ đã lớn lên trở thành một người có quan điểm bất hoà nghiêm trọng với sự tồn tại của mọi người và của chính bản thân mình. Một người như thế, dù có nhiều phẩm chất tốt đẹp, vẫn sẽ trở nên bất hạnh, giằng xé bởi những mâu thuẫn nội tại mà anh ta không thể nhận ra hay giải quyết. Thêm vào đó, tâm lý ở dạng nguyên thuỷ, và cho tới giờ, theo nghĩa tốt nhất có thể, tâm lí chúng ta vẫn đang ở thời đại tiền-Socrates4 nếu chúng ta vẫn còn sai lầm, thiếu sót. Và điều đó có nghĩa là nếu đứa trẻ đó có đi tới một chuyên gia tâm lý trị liệu thì chưa chắc nó được giúp đỡ gì nhiều, đơn giản vì môn khoa học này còn chưa đủ phát triển.
Trong những tình thế này, ai cũng có thể dễ dàng hình dung cảnh một người trung thực, có đạo đức, cần cù nhưng vẫn không thể đạt được niềm vui sướng siêu hình như tâm tư bên trong anh ta. Tôi dễ dàng hình dung ra hiện tượng này. Tinh thần bài nói của tôi theo đó hoàn toàn không phải là: nếu bạn không hạnh phúc thì bạn là người xấu.
Tôi muốn nói là, tôi nghĩ một người trung thực dù có mâu thuẫn gì cũng hạnh phúc hơn là một người gian dối. Nhưng nó không nhất thiết có nghĩa là anh ấy nhất định cảm nhận được niềm hạnh phúc cơ bản của Roark. Tôi xem hiện tượng này, dù rất thực, nhưng vẫn là vấn đề lối sống tạm thời chứ không phải là một vấn đề triết lý. Căn nguyên của việc này là do xã hội xấu xa mà chúng ta đang sống và trạng thái tâm lý ban sơ. Đúng thời điểm thì, tôi tin rằng khi nền văn minh nhân loại tiến bộ hơn, nếu có, và khi tâm lý con người phát triển hơn nếu có, trường hợp này sẽ giảm dần và cuối cùng hoàn toàn biến mất. Nhưng tạm thời và trong thế hệ của chúng ta, một thực tế bạn cần nhớ như một điều chỉnh đi kèm triết lý sống: đức hạnh sẽ dẫn đến hạnh phúc.
Sự điều chỉnh còn lại mà tôi muốn nói gắn liền với hoàn cảnh tồn tại của một đời người. Giả sử một người không hề có vấn đề tâm lí nào, một người đạt được tâm hồn kiểu của Roark: anh ta không chịu những mâu thuẫn nội tại khốc liệt, anh ta có năng lực tự tạo để đạt được thành công. Dù có thế thì anh ta không nhất thiết sẽ hạnh phúc. Năng lực đạt được giá trị sẽ vô dụng nếu hoàn cảnh sống của bạn không cho phép bạn sử dụng năng lực đó. Có nhiều hoàn cảnh tồn tại là nguyên nhân cho chuyện này. Vài ví dụ như, bạn bị mắc kẹt trong một chế độ độc tài và hi vọng muốn thoát ra, hay bạn đang ở giai đoạn cuối của một căn bệnh, hay bạn mất đi một người cực kì quan trọng đối với sự tồn tại của bạn, một người không thể thay thế, như sự ra đi của một người vợ hoặc chồng hết mực yêu thương.
Trong những tình huống này, chỉ có thể hoặc chịu đựng hoặc theo chủ nghĩa khắc kỷ. Ta luôn phải nhớ rằng luân lý là phương tiện để hành động trong thực tế. Có một mục tiêu quan trọng cần xem như là nguyên lý sống: linh hồn, bản thân nó và tự nó không phải là một thực thể, không phải là một đích đến và cũng không phải là một sự hoàn chỉnh. Nếu cho nó là một thực thể hay một đích đến thì đó là quan điểm của Thiên chúa Giáo. Từ đó có thể nói, chỉ có phẩm hạnh thôi, không gắn liền với một hoàn cảnh tồn tại cần thiết thì cũng sẽ không tạo ra được hạnh phúc, thậm chí là niềm vui sướng siêu hình cũng không. Ví dụ điển hình trong các tác phẩm của Ayn Rand là ai? Ai có linh hồn? Tôi nghĩ tới Leo, vì Cara đã cố bỏ trốn.
Nói đơn giản hơn, chẳng có niềm vui nào trong việc tồn tại nếu bạn không thể sống. Vậy thì tóm gọn 2 ngoại lệ này như sau: đức hạnh có thể đảm bảo hạnh phúc theo nghĩa siêu hình, trừ trường hợp bản thân sự sống trở nên bất khả đối với một người. Bởi vì lí do này hoặc lí do kia thì sự theo đuổi để đạt được các giá trị cũng theo đó mà bất khả thi.
Tôi phải nói thêm vài phút nữa. Tôi muốn xem xét lại một cách ngắn gọn hai quan điểm về hạnh phúc thống trị trong văn hoá đương đại bởi vì nó sẽ giúp chúng ta đi đúng hướng cho câu hỏi cơ bản trong tối nay. Như đã biết, đó là cách tiếp cận theo thuyết nội tại và chủ nghĩa chủ quan.
Cách tiếp cận theo thuyết nội tại xem hạnh phúc là thấp kém và xấu xa. Cách tiếp cận thường gặp của chủ nghĩa chủ quan là khoái lạc luận. Chủ nghĩa nội tại, theo tôi là dù có hứa hẹn gì liên quan tới kiếp sống khác cũng sẽ khiến con người đi tới cảnh chịu đựng. Sự vui hưởng theo đó trở thành một mối hoài nghi. Nó trở thành dấu hiệu của sự buông xuôi về đạo đức, của sự ích kỉ, tham vọng, vốn được gọi là “chủ nghĩa duy vật”. Thế là, theo triết lý này, không thể có việc theo đuổi hạnh phúc, vận số luân lý của bạn là điều đối lập: bổn phận, sự mất mát và hi sinh. Đây chính là vị tha luận, và cách tốt nhất để gọi tên triết lý này theo góc độ đương thời là: sự tôn sùng nỗi đau. Tình trạng được biểu tượng hoá một cách hùng hồn ở phương Tây qua cách chấp nhận hình thức đóng đinh vào giá chữ thập như một lý tưởng. Kiểu tôn sùng này đã đạt đến một mức độ độc hại chưa có tiền lệ ngay trong thời đại hiện nay.
Đối với người theo chủ nghĩa khách quan thì sự tôn sùng nỗi đau thực sự tồi tệ theo nghĩa đen. Không có gì để nói, ngoài việc ghi nhận nguyên nhân của nó là sự chối bỏ chính đáng các giá trị, hay nói cách khác là tôn sùng cái chết. Khoái lạc luận có vẻ như nắm giữ một quan điểm đối lập. Khoái Lạc Luận là học thuyết cho rằng niềm vui sướng hay hạnh phúc là tiêu chuẩn của giá trị. Để xác định giá trị hay đức hạnh thì học thuyết này đơn giản đặt câu hỏi liệu một vật thể hay hành động có tối đa hoá niềm vui của chính bạn và/hoặc của người khác hay không. Các bạn chắc cũng biết quan niệm này có vấn đề. Tôi cho rằng niềm vui sướng là kết quả cách nhìn nhận giá trị có trước đó của một người. Lý thuyết này luẩn quẩn và nó dẫn đến lời khuyên rằng hãy trân trọng những gì mà bạn đã trân trọng dù lí do là gì. Nói vậy thực chất nghĩa là: cứ làm bất cứ điều gì bạn thấy muốn làm.
Tôi phản đối Khoái Lạc Luận ở điểm này; coi sự theo đuổi niềm vui sướng như là một kim chỉ nam thì thật là thất sách vì chỉ niềm vui sướng nào phục vụ cho việc đạt được những giá trị hợp lẽ phải mới dẫn đến hạnh phúc. Cho nên nếu người tìm kiếm niềm vui sướng cố làm theo lời khuyên đó thì trước hết phải phân biệt được những giá trị hợp lí và những giá trị vô lý rồi mới hành động. Làm thế nào đây? Anh ấy cần một cách tiếp cận, không theo thuyết nội tại hay chủ nghĩa chủ quan mà phải là một cách tiếp cận đạo đức theo chủ nghĩa khách quan. Thực tế mà nói, cách duy nhất để thực hiện công cuộc tìm kiếm niềm hạnh phúc là: trở thành một người theo chủ nghĩa khách quan.
Một người theo thuyết nội tại nói: “từ bỏ hạnh phúc đi”. Một người theo chủ nghĩa chủ quan trả lời: “không, hãy theo đuổi hạnh phúc bằng bất cứ phương tiện nào”. Một người cho rằng: sự vui sướng là thuộc tính của động vật, không có tâm hồn, là tha hoá. Người kia lại nói: “đúng, vậy thì hãy sống như những con vật, cứ thoả mãn mà được vui sướng đi”. Cả hai trường phái, dù bất đồng thế nào đi nữa cũng dẫn tới một kết quả, một sự chệch hướng. Cả hai trường phái đều hất con người ra khỏi con đường tìm niềm vui và rơi xuống cống rãnh của sự chịu đựng. Như tôi đã mở ngoặc trong phần nhận thức luận, triết lý tương đương- chủ nghĩa thần bí và chủ nghĩa hoài nghi- hất loài người ra khỏi con đường nhận thức.
Đương nhiên, sự chệch hướng này hướng đa số mọi người tới kết luận rằng hạnh phúc là bất khả và bản chất cuộc sống là địa ngục. Ngược lại, người theo chủ nghĩa khách quan cho rằng: rõ ràng đó là cách tiếp cận với luân lí học, và vì thế niềm vui sướng phù hợp đạo đức và thế nên hạnh phúc không chỉ hoàn toàn có thể mà còn là tình trạng bình thường của con người. Đây chính là kết luận mà Ayn Rand gọi là “tiền đề vũ trụ tích cực” (benevolent universe premise5 ).
Tôi sẽ cho bạn định nghĩa của “tích cực” dù tôi chưa từng làm trước đây. Trong ngữ cảnh “vũ trụ nhân từ”: chính là “tốt lành cho sự sống loài người.” Khi chúng ta nói vũ trụ tích cực thì nghĩa đen có nghĩa là tốt lành cho sự sống loài người. Nói cách khác, nếu một người chấp nhận và thích nghi với thực tại, anh ấy có thể đạt được các giá trị của mình trong thực tại. Anh ta có thể và sẽ đạt được. Vì thế, thất bại đối với một người có đạo đức, dù có thể xảy ra, là ngoại lệ đối với nguyên tắc, vì nguyên tắc là thành công. Trạng thái ý thức chúng ta đấu tranh để có được và mong chờ chính là hạnh phúc.
Ngược lại, tiền đề “vũ trụ tiêu cực” là một quan điểm chỉ vũ trụ đối kháng hay thù địch với sự sống của loài người, nghĩa là con người không thể đạt được các giá trị của mình và sự thành công, dù có thể xảy ra, là ngoại lệ. Đó là nguyên tắc: cuộc sống này là thất bại và khốn khổ. Bạn biết rằng như bất kì sinh vật có ý thức nào, tất cả loài người, bao gồm con người “tiền đề vũ trụ tích cực” đều quá quen thuộc với nỗi đau. Tuy nhiên, điểm đáng nói là con người lại từ chối nhìn nhận nỗi đau một cách nghiêm túc. Đó là lời phát biểu đầu tiên của Danneskjöld nơi với John Galt ở thung-lũng-Mulligan6 . Đó là từ chối thừa nhận ý nghĩa quan trọng về mặt siêu hình học của nỗi đau. Đối với kiểu người này, niềm vui sướng chính là sự mặc khải của thực tại- cái thực tại mà sự sống là khả thi, nhưng nỗi đau thì khác; nỗi đau đơn thuần là khích lệ cho hành động sửa sai và cho vấn đề kiểu hành động sửa sai đó căn cứ vào. Vấn đề không phải là “dùng làm gì” mà là “tôi có thể làm gì”. Để tôi nhắc lại 1, 2 câu của nhân vật Ragnar Danneskjöld7 : “Bi kịch không phải là định mệnh tự nhiên của chúng ta và chúng ta không sống trong nỗi khiếp hãi thường trực về tai ương. Chúng ta không mong chờ tai ương cho tới khi có lí do cụ thể để mong chờ. Và khi đối diện với tai ương, chúng ta tự do chiến đấu. Không phải hạnh phúc mà sự chịu đựng chính là điều tôi xem là không tự nhiên”. Nếu bạn giữ quan điểm này, đến lúc nó sẽ trở thành một lời tiên tri tự ứng nghiệm, cũng như quan điểm đối lập: kẻ nào không chấp nhận “các khó khăn là do hoàn cảnh thực tại” thì sẽ luôn ấp ủ cách duy nhất giải quyết chúng.
Giờ tôi muốn làm rõ là “tiền đề vũ trụ tích cực” không hề nói rằng nó có liên quan tới “chủ nghĩa lạc quan” (optimism). Nếu như nó có nghĩa như vậy thì cũng vì mục đích tốt. Rất nhiều thứ trong báo chí ngày nay rõ ràng là ngược lại. Tiền đề này cũng không có nghĩa là sự thật sẽ được phơi bày trừ khi bạn thêm vào từ “cuối cùng” (ultimately). Mà cuối thì lâu lắm. Sự tích cực cũng không giống với Pollyannaism (người lạc quan quá mức). Nó không phải là sự lừa phỉnh rằng luôn có cơ hội thành công thậm chí trong những tình huống tuyệt vọng. Nhưng, phương án sửa chữa những sai lầm này không phải là trở thành một kẻ bi quan, vốn cũng là một hình thức tự lừa phỉnh khác. Hướng giải quyết đúng đắn là: chủ nghĩa hiện thực, nói cách khác, sự chấp nhận thực tại cùng với những hiểu biết về cuộc sống mà nó mang lại; cụ thể như hạnh phúc, dù hiếm hoi nhưng cũng không phải là kì tích gì. Tại sao nó hiếm? Vì đó là thành quả đỉnh cao mà chỉ có mục tiêu cực kì khắc khe, đạo đức và hợp triết lí mới tạo ra được. Và về khía cạnh này, tôi cho rằng những điểm rút ra từ sự quan sát trứ danh này hết sức đúng đắn; những điều tuyệt vời vừa hiếm vừa khó đạt được.
Dưới một góc nhìn khác, và cũng là góc nhìn riêng của Ayn Rand về cách theo đuổi hạnh phúc trong cuộc sống: việc này hoàn toàn không khó khăn gì cả, mà ngược lại còn là việc đơn giản nhất trần đời. Nói ngắn gọn theo cách của bà ấy thì điều ta cần làm là: SỐNG. Và để đạt được “sự đoan chắc” thì cũng tương tự, việc duy nhất ta cần làm là: TƯ DUY.
Sau khi đã suy ngẫm về 2 điều trên, giờ ta hãy tìm hiểu xem vấn đề triết lý cốt lõi của lối sống ''phản hạnh phúc'' và ''phản đoan chắc'' là gì? Hay nói một cách nhẹ hơn: vấn đề gốc rễ của quan điểm khách quan về hai chủ đề này là như thế nào?
Ta bắt đầu với chủ đề hạnh phúc nhé. Nguồn gốc sâu xa nhất của góc nhìn khách quan về hạnh phúc là gì? Hay nói cách khác, nguồn gốc của quan điểm cho rằng “đạo đức là thực tế”, và “hạnh phúc do đó rất bình thường” là gì? Thật ra, việc này sẽ dễ giải thích hơn nếu ta đặt câu hỏi ngược lại: tại sao mọi người lại cho rằng hạnh phúc là ao ước không thể với tới, là đáng thèm muốn và rồi khăng khăng rằng đạo đức và thực tế là điều trái ngược?
Hãy nghĩ xem: Tại sao người ta lại chịu sống chung với sự phân đôi rạch ròi, một sự đối lập một mất một còn giữa luân lý và thực tiễn? Tại sao họ vẫn chưa loại bỏ đạo lý truyền thống cứng nhắc đó? Chỉ vì nó là thứ quá xa vời nên nó sẽ dẫn tới đau khổ và tội lỗi mà thôi? Nếu bạn trả lời được câu hỏi trên thì bạn đã hiểu được gốc rễ của đạo lý này, và đương nhiên bạn cũng đã hiểu nền tảng của đạo đức học chính là triết lý cơ bản của vấn đề.
Vậy cốt lõi của vấn đề sâu hơn mà ta đang bàn bạc là gì? Nếu bạn trả lời không đúng thì không hay đâu vì tôi đang muốn giải quyết từng vấn đề một. Nào, cốt lõi của vấn đề sâu hơn ta đang bàn bạc là gì? Là lưỡng cực phân đôi: tâm trí và cơ thể. Một người ủng hộ quan điểm này sẽ chỉ đồng ý một cách miễn cưỡng khi thấy những điều mà họ ca tụng gây họa trên thực tế. Dù người ấy suốt ngày nói rằng đạo đức là vấn đề của tâm hồn và rằng tâm hồn trái ngược với thể xác. Vậy anh ta chỉ còn lựa chọn: hoặc là bám lấy tinh thần, mang lý tưởng của mình rút lui về nhà thờ hay sa mạc ở ẩn, để rồi được phong Thánh với tư cách một người căm ghét chính cuộc sống của mình; hoặc là bám víu vào cuộc sống vật chất rồi vứt bỏ đạo đức của chính mình. Ta có thể thấy cả hai lựa chọn này thống nhất ở một điểm cốt lõi: bản chất đạo đức là vô dụng, thậm chí gây hại trong cả đời sống tinh thần và thể chất. Như vậy, cuộc sống không nhất thiết cần đức hạnh mà có thể chỉ cần ''thủ đoạn'' thôi. Điều đó dẫn tới một bước khác. Chúng ta có thể nhìn nhận sự thống nhất đó theo cách như vầy: cả hai lựa chọn này đồng ý rằng những nguyên lý dẫn lối trong cuộc sống không phải là điều cốt yếu của hành động thắng lợi, mà cũng không phải là điều cốt yếu của hạnh phúc, ngay lúc này và trên toàn vũ trụ.
Ngược lại, cả hai trường phái đều nhất trí rằng các nguyên lý bất kỳ là vật cản trở chúng ta, một cái ''gai tinh thần'' trong da thịt của mỗi người khiến chúng ta hoặc là chịu đựng một cách khoái trá bệnh hoạn, hoặc là rút nó ra một cách thật ''đạo đức''. Một bên cho ta lối sống tự hy sinh khổ hạnh, bên kia thì lại tôn thờ những mong muốn bất chợt và khoái lạc.
Đó là một luận điểm rất quan trọng; trong triết lý chiếm ưu thế ngày nay, quyền năng của nguyên lý ấy đều bị đảo ngược. Nó không những xa rời bản năng tự bảo toàn, mà còn nghiêng về phía ''phản cuộc sống''. Câu hỏi đặt ra là làm sao có ai có thể chấp nhận một thứ nguyên lý ngược ngạo như vậy- nguyên lý với tư cách kẻ thù cuộc sống?
Giờ thì chúng ta sắp tìm ra câu trả lời: Thế nào là một nguyên lý? Đó là một hình thức khái niệm hóa, vậy chống lại những nguyên lý của cuộc sống là chống lại những khái niệm cơ bản của cuộc sống, cũng có nghĩa là chấp nhận một lỗ hổng giữa lý thuyết và thực tế, và chính điều ấy bao hàm một cái nhìn cụ thể về khái niệm. Tôi không quá tin bất cứ điều gì, trừ điều này: những khái niệm sai lệch đang khiến thế giới hiện đại ghét bỏ sự chỉ dẫn từ những nguyên lý hiện hữu. Sự ghét bỏ ấy là vô lí và lạ lùng trong mắt những cá nhân vốn đang xem những khái niệm đó là phương tiện để hiểu biết về sự tồn tại. Nhưng nó lại cần thiết đối với những ai theo chủ nghĩa nội tại hoặc chủ nghĩa chủ quan, vì sự trừu tượng đối với họ là vô nghĩa do họ không tiếp nhận nó bằng tri giác.
Những người theo chủ nghĩa nội tại thì lợi dụng chính sự vô nghĩa này. Họ nói ''Hãy cứ trung thành với những nguyên lý tách biệt thực tại, để rồi hứng chịu hậu quả trong cuộc sống''. Những người ủng hộ quan điểm chủ quan lại bảo rằng đó là cái giá đắt phải trả của những nguyên lý, nên cũng phải chấp nhận. Tâm lý một bên khiến chúng ta nghĩ rằng những thứ trừu tượng, dù đa dạng về mức độ, hoàn toàn không đền đáp xứng đáng bằng cách này, và sự thật là vậy, theo cách diễn giải của họ. Còn bên kia đáp trả: ''trừu tượng thế đủ rồi, thực tế lên chút nào'', và đó là cảnh tượng huy hoàng giữa hai bên. Cái cảnh tượng khi mà con người có lý trí, chấp nhận rằng khả năng thiên phú về nhận thức, khả năng khái niệm hóa vấn đề, lại chính là rào cản đối với sự tồn vong của họ, vậy mà nó lại là một đúc kết thông thái đúng chuẩn của thời nay.
Chỉ có các triết gia mới có thể gây ra một ''đại họa'' cỡ này, không có sai lầm cá nhân nào có thể khiến cả một giống loài coi thường phương thức nhận thức của chính chính mình như vậy. Chỉ có cái nhìn lệch lạc của tâm trí con người, đồng nghĩa với một lý thuyết sai lầm về các khái niệm, mới có thể khiến chúng ta đi tới mức độ coi thường kiểu này. Khi nhân loại tiếp nhận một quan điểm lệch lạc về các khái niệm của chủ nghĩa nội tại hay chủ quan, họ đồng thời tạo ra một ''lỗ hổng'' giữa ý thức và sự tồn tại trong sâu thẳm suy nghĩ của chính họ, và đây là cách duy nhất để tạo ''lỗ hổng” ấy; bạn không thể tạo ''lỗ hổng” ấy ở một mức độ nhận thức được. Tại sao không thể? Vì nhận thức sẽ được tự động chuyển thành thực tiễn. Nếu bạn muốn tách rời ý thức của một người khỏi thực tiễn thì bạn chỉ có thể làm được từ mức độ nhận thức và bằng cách tách các khái niệm ra khỏi đối tượng tri giác.
Và đó là những gì mà một lý thuyết với các khái niệm sai lệch có thể làm đối với tất cả mọi người, và rồi, một cách bất khả kháng, cái ''lỗ hổng” đó sẽ tiêm nhiễm suy nghĩ của con người trong từng vấn đề, và vì vậy, trong nhận thức luận, người ta kết luận rằng sự đoan chắc là bất khả thi. Các khái niệm mà họ cho rằng chẳng liên quan gì tới nhận thức thực tại, chúng chỉ là một trò chơi ngôn ngữ, chứ không có giá trị về mặt nhận thức. Trong đạo đức học thì cũng chính “lỗ hổng” giữa các khái niệm và nhận thức đó khiến người ta cảm thấy đạo đức và thực tiễn trái ngược nhau, và lựa chọn hoặc tự hy sinh hoặc tôn thờ những mong muốn bất chợt; nói cách khác, con đường tới hạnh phúc hoặc sự thông thái đã đóng lại.
Xét cách tiếp nhận thông thường về các khái niệm này, không thể tránh khỏi sự hoài nghi và phản bác. Những dấu hiệu của sự thất bại và lụi tàn đang hiện hữu ở khắp mọi nơi. Những lời này chúng ta nghe hằng ngày rằng cuộc đời của chúng ta chỉ có thất bại, sự ngu dốt và thống khổ. Đó là một triệu chứng rõ rệt của sai lầm, sự sai lầm chết người ngay điểm mấu chốt trong quan điểm của ta về thế giới. Nó cho thấy sự kém cỏi của các triết gia trong việc nắm bắt mối quan hệ giữa khái niệm trừu tượng và nhận thức thực tại.
Triết lý của chủ nghĩa khách quan thì ngược lại. Chúng tôi xem lời khẳng đinh về sự đoan chắc và về sự hài hòa giữa đạo đức, thực tiễn và hạnh phúc là đỉnh điểm. Chúng tôi không xem nhẹ những kết luận tích cực, vì trước khi đạt được chúng, chúng tôi luôn ủng hộ tư tưởng khách quan về những tiền đề và những khái niệm của nó. Chúng tôi xem đạo đức mang tính thực tiễn vì nhận thức mang tính thực tiễn, và vì nhận thức mang tính thực tiễn nên nó mang tính hiệu quả cao trong cả suy nghĩ và hành động như một công cụ vậy. Những khái niệm là công cụ của một con người trong việc nhận thức cuộc sống. Tôi xin mượn lời của Ayn Rand về việc nhận thức mang tính thực tiễn vì nó là:''bộ máy nhận biết những thứ đang tồn tại xung quanh ta.'' Tất cả những gì mà bạn cần làm để đạt được kết luận ấy của chủ nghĩa Khách Quan là bám sát công thức của Ayn Rand, nếu bạn muốn biết thêm chi tiết thì xin tìm đọc cuốn sách sắp tới của tôi. Xin cảm ơn.
Nguồn: https://youtu.be/NWfZt2I4rTU
