Vì một nền tự do mới - Chương 5: Lao dịch cưỡng bức
Nếu có điều gì mà một người theo chủ nghĩa tự do cá nhân phải dứt khoát và tuyệt đối phản đối, thì đó chính là chế độ lao dịch cưỡng bức — tức là lao động bị ép buộc — một hành vi phủ nhận quyền tự sở hữu cơ bản nhất. “Tự do” và “nô lệ” từ lâu đã được thừa nhận là hai cực đối lập. Vì vậy, người theo chủ nghĩa tự do cá nhân hoàn toàn chống lại chế độ nô lệ.[1] Một câu hỏi hàn lâm trong thời nay, có người sẽ phản bác chăng? Nhưng liệu có thực sự như thế không? Bởi nô lệ chẳng phải là gì khác ngoài việc (a) buộc con người phải làm những công việc mà chủ nô mong muốn, và (b) trả cho họ hoặc chỉ vừa đủ mức sinh tồn, hoặc thấp hơn mức mà người nô lệ sẽ chấp nhận một cách tự nguyện. Nói gọn lại, đó chính là lao động cưỡng bức với mức thù lao thấp hơn mức lương tự do trên thị trường.
Vậy thì, ở nước Mỹ ngày nay, chúng ta đã thực sự thoát khỏi “chế độ nô lệ”, thoát khỏi cảnh lao dịch cưỡng bức hay chưa? Liệu điều khoản cấm lao dịch cưỡng bức trong Tu chính án thứ Mười Ba có thật sự được tuân thủ?[2]
Chế độ quân dịch
Ví dụ, chắc chắn không có trường hợp nào hiển nhiên hơn về lao dịch cưỡng bức ngoài toàn bộ hệ thống nghĩa vụ quân sự của chúng ta. Tất cả thanh niên đều bị buộc phải đăng ký vào hệ thống quân dịch khi vừa tròn mười tám tuổi. Họ phải luôn mang theo thẻ quân dịch, và bất cứ lúc nào chính phủ liên bang thấy phù hợp, họ đều có thể bị chính quyền bắt đi và đưa vào quân ngũ. Tại đó, thân thể và ý chí của họ không còn thuộc về chính họ nữa; họ hoàn toàn phải phục tùng mệnh lệnh của chính phủ; và họ có thể bị buộc phải giết người hay đem mạng sống mình ra đặt vào chỗ hiểm nguy nếu chính quyền ra lệnh. Vậy, nếu quân dịch không phải là lao dịch cưỡng bức, thì còn là gì?
Khía cạnh công lợi thấm đẫm lập luận biện minh cho chế độ quân dịch. Chính phủ thường nêu luận điểm: Ai sẽ bảo vệ chúng ta trước cuộc tấn công từ bên ngoài nếu chúng ta không dùng đến cưỡng bức và bắt lính? Có một số phản bác mà người theo chủ nghĩa tự do cá nhân có thể đưa ra trước lối lập luận này. Trước hết, nếu bạn, tôi, và người hàng xóm của chúng ta nghĩ rằng chúng ta cần được bảo vệ, thì chúng ta không có bất kỳ quyền đạo đức nào để dùng đến sự cưỡng bức — bằng lưỡi lê hay súng lục — để bắt người khác phải bảo vệ chúng ta. Hành động cưỡng bức này chính là hình thức xâm lược vô lý — một kiểu bắt cóc, thậm chí có thể dẫn đến giết người — chẳng khác gì sự xâm lược mà ngay từ đầu chúng ta cho là cần phải tự vệ. Nếu nói thêm rằng những người bị bắt đi lính phải dâng hiến thân thể và mạng sống của họ, nếu cần, cho “xã hội” hay “đất nước”, thì chúng ta phải hỏi vặn lại: Ai là cái gọi là “xã hội” hay “đất nước” ấy, đang được dùng như lá bùa để biện minh cho sự nô dịch này? Thực ra, nó chỉ là tất cả những cá nhân đang sống trong vùng lãnh thổ đó, ngoại trừ chính những thanh niên bị bắt đi lính. “Xã hội” và “đất nước” trong trường hợp này chỉ là những khái niệm trừu tượng, mang tính huyền thoại, được dùng để che đậy sự cưỡng bức trắng trợn nhằm phục vụ lợi ích của một số cá nhân cụ thể.
Thứ hai, nếu xét trên bình diện công lợi, tại sao việc bắt lính lại được xem là cần thiết? Trên thị trường tự do, không ai bị ép buộc, vậy mà con người vẫn có thể — thông qua mua bán tự nguyện — có được mọi loại hàng hóa và dịch vụ có thể tưởng tượng được, kể cả những thứ thiết yếu nhất. Trên thị trường, con người vẫn có được lương thực, chỗ ở, quần áo, y tế, v.v. Vậy thì tại sao lại không thể thuê cả những người bảo vệ? Thực tế, có vô số người đang được thuê mỗi ngày để thực hiện những công việc nguy hiểm: lính cứu hỏa, kiểm lâm, phi công thử nghiệm, cũng như cảnh sát, vệ sĩ tư nhân, và lính gác. Thế thì tại sao binh lính lại không thể được thuê theo cách tương tự như thế?
Hay nói cách khác, chính phủ thuê hàng ngàn người để làm đủ loại công việc, từ tài xế xe tải, nhà khoa học cho đến nhân viên đánh máy; vậy thì tại sao không ai trong số họ bị bắt đi lính? Tại sao ở những nghề này lại không có tình trạng “thiếu hụt” đến mức buộc chính phủ phải dùng đến cưỡng bức? Tiến thêm một bước, ngay trong quân đội cũng không hề “thiếu hụt” sĩ quan và chẳng cần bắt họ nhập ngũ; không ai cưỡng bức tướng lĩnh hay đô đốc. Câu trả lời hết sức đơn giản: không thiếu nhân viên đánh máy cho chính phủ vì chính phủ ra thị trường và thuê họ với mức lương thị trường; không thiếu tướng lĩnh vì họ được trả công cực kỳ hậu hĩnh, với lương bổng, phụ cấp và lương hưu. Chỉ thiếu binh nhì, bởi vì tiền lương của họ – cho đến tận gần đây – thấp thảm hại so với mức lương trên thị trường. Suốt nhiều năm, ngay cả khi cộng thêm giá trị bằng tiền của thực phẩm miễn phí, chỗ ở và các dịch vụ khác dành cho lính Mỹ, thì thu nhập của một binh nhì cũng chỉ bằng khoảng một nửa mức lương mà anh ta có thể kiếm được trong đời sống dân sự. Thế thì có gì đáng ngạc nhiên khi tình trạng thiếu hụt lính nghĩa vụ cứ kéo dài mãi? Từ lâu người ta đã biết rằng cách duy nhất để khuyến khích người ta tình nguyện làm những công việc nguy hiểm là trả thêm tiền bù đắp. Nhưng chính phủ lại chỉ trả cho những thanh niên này một nửa số tiền mà họ hoàn toàn có thể kiếm được ở ngoài đời.
Ngoài ra, còn có một sự ô nhục đặc biệt là “chế độ quân dịch dành cho bác sĩ”, trong đó các bác sĩ bị gọi nhập ngũ ở độ tuổi muộn hơn hẳn bất kỳ ai khác. Vậy có phải các bác sĩ bị trừng phạt chỉ vì họ đã chọn nghề y? Căn cứ đạo đức nào biện minh cho việc đặt lên một ngành nghề đặc biệt quan trọng này những gánh nặng như vậy? Đây có phải là cách để giải quyết tình trạng thiếu hụt bác sĩ – tức là răn đe mọi người rằng nếu người nào đó trở thành bác sĩ thì chắc chắn sẽ bị gọi nhập ngũ, và lại ở một độ tuổi đặc biệt muộn? Một lần nữa, nhu cầu bác sĩ cho quân đội hoàn toàn có thể được đáp ứng nếu chính phủ chịu trả cho họ mức lương thị trường, cộng thêm khoản thù lao bù đắp cho rủi ro nghề nghiệp. Khi chính phủ muốn thuê các nhà vật lý hạt nhân hay các chiến lược gia “think-tank”, họ chẳng ngần ngại trả mức lương trên trời. Vậy thì các bác sĩ là loại người kém cỏi hơn chăng?
Quân đội
Trong khi cưỡng bức nhập ngũ là một hình thức lao dịch cưỡng bức trắng trợn và nghiêm trọng, thì vẫn còn một hình thức khác, tinh vi hơn nhiều và do đó ít bị nhận ra hơn: cơ cấu của quân đội. Hãy thử xem: trong ngành nghề nào khác ở đất nước này lại có những hình phạt nghiêm khắc — bao gồm cả tù giam, và trong một số trường hợp thậm chí là tử hình — đối với hành vi “đào ngũ”, tức là bỏ việc? Nếu ai đó nghỉ việc ở General Motors, liệu anh ta có bị xử bắn lúc bình minh không?
Có thể có người phản đối rằng: trong trường hợp nhập ngũ, người lính hoặc sĩ quan đã tự nguyện đồng ý phục vụ trong một thời hạn nhất định, do đó, anh ta có nghĩa vụ phải tiếp tục phục vụ trong thời gian đó. Nhưng chính toàn bộ khái niệm “thời hạn phục vụ” lại là một phần của vấn đề. Ví dụ, giả sử một kỹ sư ký hợp đồng với ARAMCO để làm việc ba năm ở Ả Rập Xê Út. Sau vài tháng, anh ta quyết định rằng cuộc sống ở đó không hợp với mình và anh ta nghỉ việc. Đây có thể là một sự thất tín về mặt đạo đức — vi phạm nghĩa vụ đạo đức. Nhưng liệu đó có phải là một nghĩa vụ có thể thực thi về mặt pháp lý? Nói cách khác, liệu anh ta có thể, hoặc nên, bị buộc — bằng sức mạnh độc quyền vũ khí của chính phủ — phải tiếp tục làm việc cho đến hết hợp đồng hay không? Nếu vậy, đó chính là lao động cưỡng bức và nô lệ. Bởi lẽ, dù đúng là anh ta đã hứa làm việc trong tương lai, nhưng trong xã hội tự do, thân thể anh ta vẫn thuộc quyền sở hữu của chính mình. Do đó, cả trong thực tiễn lẫn trong lý thuyết của chủ nghĩa tự do cá nhân, người kỹ sư này có thể bị phê phán về mặt đạo đức vì đã thất tín, có thể bị các công ty dầu mỏ khác đưa vào danh sách đen, có thể bị buộc phải hoàn lại bất kỳ những khoản tiền tạm ứng mà công ty đã trao cho anh ta, nhưng anh ta sẽ không bị ARAMCO bắt làm nô lệ trong thời hạn ba năm.
Nhưng nếu điều này đúng với ARAMCO, hay bất kỳ nghề nghiệp hoặc công việc nào khác trong đời sống dân sự, thì tại sao quân đội lại phải khác? Nếu một người ký nhập ngũ bảy năm rồi muốn bỏ ngang, anh ta nên được phép ra đi. Anh ta sẽ mất quyền hưởng lương hưu, bị chỉ trích về mặt đạo đức, có thể bị đưa vào danh sách đen, nhưng với tư cách là một con người tự chủ, anh ta không thể bị biến thành nô lệ trái với ý chí của mình.
Người ta có thể phản đối rằng lực lượng vũ trang là một nghề nghiệp đặc biệt quan trọng, cần có những biện pháp trừng phạt mang tính cưỡng chế mà các nghề khác không cần. Nhưng thử gác qua tầm quan trọng của những nghề như y tế, nông nghiệp hay vận tải – vốn cũng chẳng phải dùng đến những cách như vậy – và xem xét một nghề nghiệp quốc phòng tương tự trong đời sống dân sự: cảnh sát. Chắc chắn cảnh sát cũng thực hiện nhiệm vụ không kém phần trọng yếu, thậm chí có thể còn quan trọng hơn. Thế nhưng, mỗi năm vẫn có người gia nhập rồi rời khỏi lực lượng cảnh sát, và không hề có nỗ lực nào nhằm cưỡng bức ràng buộc họ bằng những “hợp đồng nhiều năm phục vụ”. Do đó, ngoài việc kêu gọi chấm dứt chế độ cưỡng bức nghĩa vụ quân sự, người theo chủ nghĩa tự do cá nhân còn chủ trương loại bỏ toàn bộ khái niệm về “thời hạn nhập ngũ” cùng với thực tiễn nô dịch mà nó bao hàm. Hãy để quân đội vận hành giống như cảnh sát, lính cứu hỏa, kiểm lâm, vệ sĩ tư nhân, v.v. — không vướng vào sự ô nhục và tội ác đạo đức của lao dịch cưỡng bức.
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều điều cần nói về quân đội như một thiết chế, ngay cả khi nó hoàn toàn mang tính tự nguyện. Người Mỹ gần như đã quên mất một trong những yếu tố cao quý và mạnh mẽ nhất trong di sản ban sơ của mình: phản đối kiên quyết đối với toàn bộ thiết chế “quân đội thường trực”. Một chính phủ có trong tay quân đội thường trực sẽ luôn bị cám dỗ để sử dụng nó — và sử dụng theo cách hung hăng, can thiệp, hiếu chiến. Dù chính sách đối ngoại sẽ được bàn đến ở phần sau, nhưng rõ ràng quân đội thường trực chính là sự cám dỗ thường trực đối với Nhà nước nhằm mở rộng quyền lực, áp bức dân chúng cũng như các quốc gia khác, và thống trị đời sống nội bộ của quốc gia. Mục tiêu ban đầu của phong trào Jefferson — vốn mang đậm tinh thần tự do cá nhân trong nền chính trị Mỹ — là xóa bỏ hoàn toàn quân đội và hải quân thường trực. Nguyên tắc căn bản thuở ban đầu của người Mỹ là: nếu quốc gia bị tấn công, công dân sẽ nhanh chóng tự nguyện đứng lên chống trả kẻ xâm lược. Như vậy, quân đội thường trực chỉ có thể dẫn đến rắc rối và mở rộng quyền lực của Nhà nước. Trong bài công kích sắc bén và tiên tri của mình tại hội nghị phê chuẩn Hiến pháp ở Virginia, Patrick Henry đã cảnh báo về đội quân thường trực: “Quốc hội, bằng quyền lực thuế khóa, bằng quyền lực lập ra quân đội, và bằng quyền kiểm soát dân quân, đã có thanh gươm trong một tay và hầu bao trong tay kia. Liệu chúng ta có thể an toàn khi họ nắm cả hai không?”[3]
Vậy, bất kỳ quân đội thường trực nào cũng là một mối đe dọa thường trực đối với tự do. Sự độc quyền về vũ khí cưỡng chế, xu hướng hiện đại tạo ra và duy trì “tổ hợp công nghiệp – quân sự” để nuôi dưỡng quân đội ấy, và — như Patrick Henry đã chỉ ra — quyền đánh thuế để tài trợ cho quân đội, tất cả đều đặt ra hiểm họa triền miên: sự bành trướng không ngừng về quy mô và quyền lực của quân đội. Đúng là bất kỳ thể chế nào được nuôi bằng thuế khóa đều bị người theo chủ nghĩa tự do cá nhân phản đối vì tính cưỡng chế, nhưng quân đội là mối đe dọa đặc biệt nghiêm trọng, bởi nó gom vào một tay sức mạnh khủng khiếp của vũ khí hiện đại.
Luật chống đình công
Ngày 4 tháng 10 năm 1971, Tổng thống Nixon đã viện dẫn Đạo luật Taft-Hartley để xin lệnh tòa án để xin lệnh của tòa án buộc đình chỉ một cuộc đình công tại bến tàu trong vòng 80 ngày; đây là lần thứ chín chính phủ liên bang sử dụng Đạo luật này trong một cuộc đình công ở bến cảng. Vài tháng trước đó, người đứng đầu công đoàn giáo viên thành phố New York đã bị giam vài ngày vì vi phạm luật cấm công chức đình công. Quả thực, việc công chúng – vốn đã phải chịu đựng lâu dài – thoát khỏi những gián đoạn do đình công gây ra là một sự tiện lợi. Thế nhưng, “giải pháp” được áp đặt ở đây lại là lao động cưỡng bức, thuần túy và đơn giản; người lao động bị ép buộc, trái với ý chí của mình, phải quay lại làm việc. Trong xã hội tự xưng là phản đối chế độ nô lệ, và trong quốc gia đã đặt ngoài vòng pháp luật chế độ lao động cưỡng bức, thì không có bất kỳ lý do đạo đức nào để biện minh cho các hành động pháp lý hay tư pháp cấm đình công – hoặc bỏ tù lãnh đạo công đoàn vì không tuân lệnh. Sự thật là chế độ nô lệ thường tiện lợi hơn cho những chủ nô.
Đúng là đình công là một dạng ngừng việc đặc biệt. Những người đình công không chỉ đơn thuần rời bỏ công việc; họ còn khẳng định rằng, bằng một cách nào đó – theo nghĩa mang tính siêu hình – họ vẫn “sở hữu” công việc ấy, có quyền với nó, và dự định sẽ quay lại khi các vấn đề được giải quyết. Nhưng cách khắc phục cho chính sách tự mâu thuẫn này, cũng như cho sức mạnh gây rối của các công đoàn, không phải là thông qua việc ban hành luật cấm đình công; mà là phải xóa bỏ phần lớn hệ thống luật pháp liên bang, bang và địa phương đã trao cho công đoàn những đặc quyền đặc biệt từ phía chính quyền. Tất cả những gì cần thiết, cả theo nguyên tắc tự do lẫn vì một nền kinh tế lành mạnh, là xóa bỏ và hủy bỏ những đặc quyền này.
Những đặc quyền này đã được ghi nhận trong luật liên bang—đặc biệt là trong Đạo luật Wagner-Taft-Hartley, được thông qua lần đầu năm 1935, và Đạo luật Norris-LaGuardia năm 1931. Đạo luật Norris-LaGuardia cấm tòa án ban hành lệnh cấm trong những trường hợp bạo lực công đoàn sắp xảy ra; còn Đạo luật Wagner buộc người sử dụng lao động phải thương lượng “một cách thiện chí” với bất kỳ công đoàn nào giành được đa số phiếu trong một đơn vị lao động do chính phủ liên bang tùy tiện xác định—đồng thời cũng cấm người sử dụng lao động phân biệt đối xử với những người tổ chức công đoàn. Chỉ sau Đạo luật Wagner—và tiền thân của nó, Đạo luật NIRA năm 1933—các công đoàn lao động mới có thể trở thành lực lượng hùng mạnh trong đời sống xã hội Mỹ. Chính vào thời điểm đó, tỷ lệ công đoàn viên đã tăng vọt từ khoảng 5% lên hơn 20% lực lượng lao động. Thêm vào đó, luật pháp bang và địa phương thường bảo vệ công đoàn khỏi bị kiện tụng, đặt ra những hạn chế đối với việc chủ sử dụng lao động thuê lao động phá đình công; và cảnh sát cũng thường được chỉ thị không can thiệp khi công đoàn sử dụng bạo lực chống lại những người phá đình công. Nếu tước bỏ những đặc quyền và quyền miễn trừ đặc biệt này, công đoàn sẽ trở lại vai trò không đáng kể trước đây của họ trong nền kinh tế Mỹ.
Một đặc điểm điển hình của xu hướng nhà nước hiện thời là: khi làn sóng phẫn nộ của công chúng đối với công đoàn dẫn đến việc ban hành Đạo luật Taft-Hartley năm 1947, chính phủ đã không hủy bỏ bất kỳ đặc quyền nào trong số đó. Trái lại, họ còn bổ sung thêm những hạn chế đặc biệt đối với công đoàn, nhằm kiềm chế quyền lực mà chính chính phủ đã tạo ra. Khi đứng trước lựa chọn, xu hướng tự nhiên của Nhà nước là mở rộng quyền lực chứ không phải cắt giảm; và vì thế, ta có tình cảnh đặc biệt: chính phủ trước hết nuôi dưỡng công đoàn, rồi sau đó lại kêu gào hạn chế quyền lực của họ. Điều này gợi nhớ đến các chương trình nông nghiệp ở Mỹ, nơi một nhánh của Bộ Nông nghiệp trả tiền cho nông dân để hạn chế sản xuất, trong khi một nhánh khác của cùng bộ đó lại trả tiền cho họ để gia tăng năng suất. Xét từ góc độ người tiêu dùng và người đóng thuế thì quả là phi lý, nhưng lại hoàn toàn hợp lý từ góc độ những nông dân được trợ cấp và quyền lực ngày càng lớn của bộ máy quan liêu. Tương tự, chính sách tưởng chừng mâu thuẫn của chính phủ về công đoàn vừa nhằm khuếch trương quyền lực của Nhà nước đối với quan hệ lao động, vừa nhằm thúc đẩy một hình thức công đoàn “hội nhập”, tư tưởng gắn với giới cầm quyền, để trở thành đối tác cấp dưới trong vai trò quản lý kinh tế của chính phủ.
Hệ thống thuế
Theo một nghĩa nào đó, toàn bộ hệ thống thuế chính là hình thức lao động cưỡng bức. Lấy thuế thu nhập làm ví dụ. Thuế thu nhập cao đồng nghĩa với việc tất cả chúng ta phải làm việc một phần lớn thời gian trong năm—vài tháng—cho “Chú Sam” mà không hề được trả công, trước khi được hưởng phần thu nhập của mình trên thị trường. Xét cho cùng, bản chất của chế độ nô lệ chính là lao động cưỡng bức cho kẻ khác với đồng lương ít ỏi hoặc hoàn toàn không công. Mà thuế thu nhập lại đồng nghĩa với việc chúng ta đổ mồ hôi, kiếm ra thu nhập, chỉ để chứng kiến chính phủ cưỡng đoạt một phần lớn số tiền đó cho mục đích riêng của nó. Đây chẳng phải là lao động cưỡng bức không công hay sao?
Nguyên tắc khấu trừ thuế thu nhập ngay tại nguồn là một ví dụ rõ ràng hơn nữa về hình thức nô lệ cưỡng bức. Như nhà công nghiệp quả cảm Vivien Kellems ở bang Connecticut đã từng lập luận từ nhiều năm trước, người sử dụng lao động bị buộc phải bỏ thời gian, công sức và tiền bạc để khấu trừ rồi chuyển khoản thuế của nhân viên cho chính quyền liên bang và bang—nhưng lại không hề được bù đắp cho khoản chi phí này. Nguyên tắc đạo đức nào có thể biện minh cho việc chính phủ bắt buộc người sử dụng lao động phải đóng vai trò người thu thuế không công?
Nguyên tắc khấu trừ thuế tại nguồn, tất nhiên, là trụ cột của toàn bộ hệ thống thuế thu nhập liên bang. Nếu không có quy trình khấu trừ đều đặn và tương đối “êm ái” này từ tiền lương của người lao động, chính phủ sẽ chẳng bao giờ có thể thu được mức thuế cao chỉ trong một lần duy nhất. Ít ai còn nhớ rằng hệ thống khấu trừ này chỉ mới được áp dụng trong Thế chiến II và vốn chỉ được coi là một biện pháp tạm thời trong thời chiến. Thế nhưng, giống như bao đặc trưng khác của chế độ chuyên quyền nhà nước, “biện pháp khẩn cấp” đã nhanh chóng trở thành một phần gần như bất khả xâm phạm của hệ thống thuế Mỹ.
Có lẽ điều đáng chú ý là chính phủ liên bang, khi bị Vivien Kellems thách thức kiểm chứng tính hợp hiến của hệ thống khấu trừ thuế, đã không dám chấp nhận thách thức ấy. Tháng 2 năm 1948, bà Kellems, một nhà sản xuất nhỏ ở Westport, Connecticut, tuyên bố bà sẽ công khai vi phạm luật khấu trừ và từ chối khấu trừ thuế từ lương của nhân viên. Bà yêu cầu chính phủ liên bang truy tố mình, để tòa án có thể phán quyết về tính hợp hiến của hệ thống khấu trừ. Thế nhưng, chính phủ đã từ chối, và thay vào đó lại tịch thu số tiền “thiếu hụt” từ tài khoản ngân hàng của bà. Sau đó, bà Kellems đã kiện lên tòa án liên bang yêu cầu hoàn trả số tiền đó. Khi vụ kiện cuối cùng được đưa ra xét xử vào tháng 2 năm 1951, bồi thẩm đoàn đã ra lệnh cho chính phủ phải hoàn trả. Nhưng phép thử về tính hợp hiến đã không bao giờ diễn ra[4].
Tệ hại hơn nữa, khi điền vào mẫu khai thuế, người nộp thuế cá nhân còn bị chính phủ buộc phải làm việc không công cho một nhiệm vụ nặng nề và bạc bẽo: tính toán số tiền mình nợ chính phủ. Một lần nữa, họ không thể bắt chính phủ bồi hoàn cho chi phí và công sức bỏ ra trong việc khai thuế. Hơn thế nữa, luật buộc mọi người phải tự khai thuế rõ ràng vi phạm Tu chính án thứ Năm của Hiến pháp, vốn cấm chính phủ ép buộc bất kỳ ai phải tự buộc tội chính mình. Thế nhưng, các tòa án—thường rất sốt sắng bảo vệ quyền theo Tu chính án thứ Năm trong những lĩnh vực ít nhạy cảm hơn—lại không hề hành động trong trường hợp này, nơi mà sự tồn tại toàn bộ của cơ cấu chính phủ liên bang phình to đang bị đặt thành vấn đề. Việc bãi bỏ thuế thu nhập, hoặc bãi bỏ các điều khoản khấu trừ và tự buộc tội, sẽ buộc chính phủ phải lùi lại mức quyền lực tương đối hạn chế mà đất nước từng có trước thế kỷ XX.
Thuế bán lẻ, thuế tiêu thụ đặc biệt, và thuế vào cửa cũng đều ép buộc lao động không công—trong những trường hợp này là lao động không công của người bán lẻ—để thu và nộp thay thuế cho chính phủ.
Chi phí thu thuế cao ngất của chính phủ còn có một tác động đáng tiếc khác—có lẽ không nằm ngoài tính toán của những người cầm quyền. Những chi phí này, vốn các doanh nghiệp lớn dễ dàng gánh chịu, lại trở thành gánh nặng, thậm chí mang tính hủy diệt đối với các doanh nghiệp nhỏ. Nhờ vậy, doanh nghiệp lớn có thể vui vẻ gánh chi phí ấy, bởi họ biết rằng đối thủ cạnh tranh nhỏ bé của mình đang phải oằn lưng chịu gánh nặng gấp nhiều lần.
Toà án
Lao động cưỡng bức thấm đẫm trong cơ cấu pháp lý và tư pháp của chúng ta. Do đó, phần lớn các thủ tục tư pháp vốn được nhiều người tôn sùng lại dựa trên lời khai bị ép buộc. Bởi vì theo chủ nghĩa tự do cá nhân, mọi sự cưỡng bức — trong trường hợp này là mọi hình thức lao động cưỡng bức — đối với tất cả mọi người, trừ tội phạm đã bị kết án, đều phải bị loại bỏ; có nghĩa là lời khai cưỡng bức cũng phải bị bãi bỏ. Trong những năm gần đây, đúng là các tòa án đã viện dẫn Tu chính án thứ Năm để bảo vệ rằng không một bị cáo nào bị buộc phải khai chống lại chính mình — tức là không bị bắt buộc cung cấp bằng chứng để tự kết tội. Thế nhưng, các cơ quan lập pháp đã làm suy yếu đáng kể biện pháp bảo vệ này bằng cách thông qua các luật miễn trừ, theo đó một người có thể được miễn truy tố nếu đồng ý ra làm chứng chống lại đồng bọn — và hơn thế nữa, buộc nhân chứng phải chấp nhận điều khoản này và khai chống lại người khác. Nhưng việc ép buộc khai báo từ bất kỳ ai vì bất kỳ lý do gì vẫn là lao động cưỡng bức — và hơn nữa, chẳng khác gì một hành vi bắt cóc, bởi vì người ta bị cưỡng bức phải ra hầu tòa rồi buộc phải thực hiện công việc khai báo. Vấn đề không chỉ dừng ở các luật miễn trừ gần đây; mà cốt lõi là phải xóa bỏ hoàn toàn mọi hình thức lời khai bị ép buộc, kể cả việc triệu tập nhân chứng trong một vụ án rồi buộc họ phải ra khai. Trong trường hợp nhân chứng, vốn không hề có bất kỳ dấu hiệu phạm tội nào, việc cưỡng chế họ — một biện pháp gần như chưa từng bị đặt câu hỏi cho đến nay — thậm chí còn ít có cơ sở chính đáng hơn cả việc ép buộc lời khai từ bị cáo.
Trên thực tế, toàn bộ quyền triệu tập cũng cần bị bãi bỏ, bởi vì quyền này buộc người ta phải có mặt tại phiên tòa. Ngay cả bị cáo hay người bị tố cáo gây thiệt hại dân sự cũng không nên bị cưỡng bức phải tham dự phiên xử của chính mình, vì họ vẫn chưa bị kết án. Nếu thật sự — theo nguyên tắc cao quý và mang tính tự do cá nhân của luật Anglo-Saxon — một người là vô tội cho đến khi được chứng minh là có tội, thì tòa án không có quyền ép buộc bị cáo ra hầu tòa. Hãy nhớ rằng, ngoại lệ duy nhất đối với lệnh cấm lao động cưỡng bức trong Tu chính án thứ Mười ba là: “ngoại trừ trường hợp hình phạt dành cho một tội danh mà đương sự đã bị kết án một cách hợp lệ”; còn bị cáo thì chưa bị kết án. Như vậy, điều tối đa mà tòa án có thể làm chỉ là thông báo cho bị cáo rằng y sẽ bị đưa ra xét xử, và mời y hoặc luật sư của y tham dự; nếu không, nếu họ chọn vắng mặt, phiên tòa sẽ tiến hành xét xử khiếm diện. Khi đó, dĩ nhiên, bị cáo sẽ không được hưởng sự trình bày tốt nhất cho vụ việc của mình.
Cả Tu chính án thứ Mười ba lẫn tín điều của chủ nghĩa tự do cá nhân đều dành ngoại lệ cho tội phạm đã bị kết án. Người theo chủ nghĩa tự do cá nhân tin rằng kẻ phạm tội đánh mất quyền của mình ở mức độ mà hắn đã xâm phạm quyền của người khác; bởi vậy, việc giam giữ tội phạm đã bị kết án và bắt hắn phải chịu khổ sai trong giới hạn đó là chính đáng. Tuy nhiên, trong thế giới tự do cá nhân, mục đích của việc giam giữ và trừng phạt tất yếu sẽ khác: sẽ không còn những công tố viên nhân danh “xã hội” vốn không hề tồn tại để đứng ra xét xử, rồi lại nhân danh “xã hội” mà trừng phạt kẻ phạm tội. Trong thế giới đó, công tố viên sẽ luôn là người đại diện trực tiếp cho từng nạn nhân, và hình phạt được áp dụng nhằm mang lại lợi ích cụ thể cho chính nạn nhân đó. Vì thế, trọng tâm cốt yếu của hình phạt là buộc kẻ phạm tội phải trả nợ, bồi hoàn cho người bị hại. Mô hình này từng được áp dụng ở nước Mỹ thời thuộc địa. Thay vì giam giữ, chẳng hạn một kẻ đã cướp của một nông dân trong vùng, tội phạm sẽ bị cưỡng bức ký khế ước lao dịch với người nông dân đó – thực chất là “bị bắt làm nô lệ” trong một thời gian – để làm việc cho đến khi trả hết nợ. Quả thật, trong thời Trung cổ, việc bồi thường cho nạn nhân chính là quan niệm chủ đạo của hình phạt; chỉ khi Nhà nước ngày càng lớn mạnh, các cơ quan cầm quyền – vua chúa và lãnh chúa – mới từng bước lấn át quá trình bồi thường, ngày càng tịch thu nhiều tài sản của kẻ phạm tội cho riêng mình, và bỏ mặc nạn nhân khốn khổ. Và khi trọng tâm chuyển từ bồi thường sang trừng phạt cho những tội ác trừu tượng “chống lại Nhà nước”, thì hình phạt do Nhà nước áp đặt lên kẻ phạm tội ngày càng trở nên khắc nghiệt hơn.
Như Giáo sư Schafer viết: “Khi Nhà nước độc quyền chế tài trừng phạt, thì quyền của người bị hại dần dần bị tách rời khỏi luật hình sự.” Hoặc, theo lời nhà tội phạm học William Tallack ở đầu thế kỷ trước: “Chính bởi lòng tham tàn bạo của các lãnh chúa phong kiến và quyền lực giáo hội thời Trung cổ mà quyền của người bị hại đã dần dần bị xâm phạm, và cuối cùng, ở mức độ lớn, bị các thế lực ấy chiếm đoạt. Họ đã thực sự thực thi một vụ trả thù kép đối với kẻ phạm tội: một mặt tịch thu tài sản của y cho riêng mình thay vì cho nạn nhân, mặt khác lại trừng phạt y bằng ngục tối, tra tấn, cọc hành hình hoặc giá treo cổ. Nhưng nạn nhân ban đầu của sự sai trái thì hầu như hoàn toàn bị bỏ quên.”[5]
Dù sao đi nữa, người theo chủ nghĩa tự do cá nhân không phản đối nhà tù như một thiết chế, nhưng họ phản đối nhiều thông lệ phổ biến trong hệ thống tư pháp và hình sự hiện nay. Một trong số đó là việc áp đặt những án tù dài hạn cho bị cáo trong khi chờ xét xử. Quyền hiến định được “xét xử nhanh chóng” không phải là tùy tiện, mà chính là để giảm thiểu khoảng thời gian lao dịch cưỡng bức trước khi có phán quyết kết tội. Thực tế, ngoại trừ trường hợp kẻ phạm tội bị bắt quả tang và vì thế có giả định nhất định về tội trạng, thì không thể biện minh cho bất kỳ sự giam giữ nào trước khi bị kết án, huống hồ là trước khi xét xử. Và ngay cả trong trường hợp bị bắt quả tang, vẫn cần một cải cách quan trọng để bảo đảm sự liêm chính của hệ thống: đó là buộc cảnh sát và các cơ quan công quyền khác phải chịu sự ràng buộc của cùng một luật như mọi người. Như sẽ được bàn thêm ở phần sau, nếu mọi người đều phải tuân thủ cùng một luật hình sự, thì việc miễn trừ cho giới cầm quyền chỉ là sự hợp pháp hóa quyền được gây hấn không ngừng. Người cảnh sát bắt giữ kẻ phạm tội, cũng như các cơ quan tư pháp và hình sự giam giữ nghi phạm trước khi xét xử và kết án — tất cả đều phải chịu sự chi phối của luật phổ quát. Nói cách khác, nếu họ sai và bị cáo hóa ra vô tội, thì các cơ quan ấy phải chịu cùng mức hình phạt như bất kỳ người nào khác đã bắt cóc và giam giữ người vô tội. Quyền miễn trừ trong khi thi hành công vụ không thể được xem như một sự biện hộ — cũng như Trung úy Calley không thể được biện hộ cho những tội ác mà ông ta đã gây ra ở Mỹ Lai trong Chiến tranh Việt Nam[6].
Việc cho phép tại ngoại chỉ là một nỗ lực nửa vời nhằm giảm bớt vấn đề giam giữ trước khi xét xử, nhưng rõ ràng nó phân biệt đối xử với người nghèo. Sự bất công này vẫn tồn tại, mặc dù sự phát triển của dịch vụ bảo lãnh đã giúp nhiều người hơn có thể được tại ngoại. Lời biện hộ rằng tòa án quá tải nên không thể xét xử nhanh chóng, dĩ nhiên, không phải là biện hộ cho hệ thống; trái lại, sự kém hiệu quả vốn có ấy lại là một lý lẽ vững chắc cho việc bãi bỏ các tòa án của chính phủ.
Hơn nữa, việc ấn định mức bảo lãnh nằm hoàn toàn trong tay thẩm phán, người nắm giữ quyền lực gần như tuyệt đối và ít bị kiểm soát trong việc giam giữ con người trước khi họ bị kết án. Điều này càng đáng lo ngại trong các trường hợp khinh thường tòa án, bởi lẽ thẩm phán có quyền lực gần như vô hạn để tống giam bất kỳ ai, sau khi chính ông ta đã đồng thời đóng vai công tố viên, thẩm phán và bồi thẩm đoàn trong việc buộc tội, “kết án” và tuyên án, hoàn toàn không tuân theo những quy tắc thông thường về bằng chứng và xét xử, và vi phạm nguyên tắc pháp lý căn bản rằng không ai có thể làm thẩm phán trong chính vụ án của mình.
Cuối cùng, còn một nền tảng khác của hệ thống tư pháp mà thật khó hiểu vì sao lại không bị phản đối, ngay cả bởi những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân, trong một thời gian quá dài: đó là nghĩa vụ bồi thẩm đoàn bắt buộc. Về bản chất, tuy có khác biệt lớn về mức độ nhưng không khác biệt nhiều về tính chất, nghĩa vụ bồi thẩm đoàn bắt buộc cũng giống như nghĩa vụ quân sự: cả hai đều là hình thức nô dịch, đều buộc cá nhân phải thực hiện nhiệm vụ thay mặt Nhà nước và theo lệnh của Nhà nước. Và cả hai đều gắn liền với chế độ trả công rẻ mạt, chẳng khác nào trả lương cho nô lệ. Cũng như tình trạng thiếu quân nhân tình nguyện bắt nguồn từ việc trả lương thấp hơn nhiều so với mức thị trường, thì mức thù lao vô cùng ít ỏi cho công tác bồi thẩm đoàn đảm bảo rằng, ngay cả khi việc “tuyển mộ” bồi thẩm viên có thể được tiến hành, cũng sẽ chẳng có mấy người tự nguyện. Hơn nữa, các bồi thẩm viên không chỉ bị ép buộc tham gia, mà đôi khi còn bị nhốt sau những cánh cửa đóng kín trong nhiều tuần liền, bị cấm đọc báo. Đó chẳng phải là một hình thức nhà tù và lao dịch cưỡng bức áp đặt lên những người vô tội sao?
Người ta có thể phản đối rằng phục vụ trong bồi thẩm đoàn là một chức năng công dân vô cùng quan trọng, bảo đảm cho bị cáo một phiên tòa công bằng mà thẩm phán có thể không đem lại được, nhất là khi thẩm phán vốn thuộc hệ thống Nhà nước và dễ thiên vị theo phía công tố. Điều này hoàn toàn đúng; nhưng chính vì công tác ấy quan trọng, nên càng cần phải được thực hiện bởi những người sẵn sàng và tự nguyện. Chẳng lẽ chúng ta đã quên rằng lao động tự do thì hạnh phúc và hiệu quả hơn lao động nô lệ? Việc xóa bỏ chế độ nô dịch bồi thẩm đoàn phải trở thành một điểm then chốt trong bất kỳ cương lĩnh tự do cá nhân nào. Các thẩm phán không bị cưỡng bức nhập ngũ; các luật sư đối tụng cũng vậy; thì các bồi thẩm viên cũng không nên bị cưỡng bức.
Có lẽ không phải là sự trùng hợp khi trên khắp nước Mỹ, giới luật sư hầu như đều được miễn nghĩa vụ bồi thẩm đoàn. Và bởi vì chính họ thường là những người soạn thảo luật, ta có thể nhận ra ở đây sự hiện diện của luật pháp mang tính giai cấp và đặc quyền giai cấp.
Bắt buộc nhập viên
Một trong những lĩnh vực đáng xấu hổ nhất của chế độ lao dịch cưỡng bách trong xã hội chúng ta là việc áp dụng rộng rãi biện pháp cam kết bắt buộc, hay nhập viện cưỡng bức, đối với bệnh nhân tâm thần. Trong những thế hệ trước, việc giam giữ những người không phạm tội được tiến hành một cách thẳng thừng như một biện pháp nhằm loại bỏ bệnh nhân tâm thần ra khỏi đời sống xã hội. Thực tiễn của chủ nghĩa tự do thế kỷ XX bề ngoài dường như nhân đạo hơn, nhưng trên thực tế lại nguy hiểm và tinh vi hơn nhiều: giờ đây, các bác sĩ và nhà tâm thần học tham gia vào việc giam giữ những người bất hạnh ấy “vì lợi ích của chính họ”. Lớp vỏ ngôn từ nhân đạo này đã hợp pháp hóa sự mở rộng việc áp dụng biện pháp ấy, đồng thời tạo điều kiện để những người thân bất mãn dễ dàng loại bỏ người ruột thịt của mình mà không cảm thấy vướng bận lương tâm.
Trong thập kỷ vừa qua, bác sĩ tâm thần và nhà phân tâm học theo khuynh hướng tự do cá nhân, Tiến sĩ Thomas S. Szasz, đã khởi xướng một cuộc thập tự chinh đơn độc – thoạt tiên tưởng chừng vô vọng, nhưng ngày càng tạo được ảnh hưởng trong giới tâm thần học – nhằm chống lại chế độ bắt buộc nhập viện. Trong nhiều công trình và bài viết, Tiến sĩ Szasz đã tiến hành cuộc công kích toàn diện và có hệ thống vào phương thức này. Ông khẳng định rằng việc nhập viện cưỡng bức là vi phạm nghiêm trọng đối với đạo đức y khoa. Thay vì phục vụ bệnh nhân, bác sĩ ở đây lại phục vụ những kẻ khác – gia đình, hay Nhà nước – để chống lại, thậm chí đàn áp trọn vẹn chính người mà mình lẽ ra phải giúp đỡ. Hơn nữa, nhập viện cưỡng bức và “liệu pháp” cưỡng bức thường không những không chữa trị, mà còn có khả năng làm trầm trọng và kéo dài tình trạng gọi là “bệnh tâm thần”. Szasz nhiều lần chỉ ra rằng, trên thực tế, việc bắt buộc nhập viện thường chỉ là phương tiện để giam giữ và qua đó loại bỏ những người thân gây phiền toái, chứ hiếm khi là sự trợ giúp đích thực cho bệnh nhân.
Lý lẽ thường được nêu ra để biện minh cho chế độ bắt buộc nhập viện là bệnh nhân có thể “gây nguy hiểm cho chính mình hoặc cho người khác”. Nhưng điểm sai lầm nghiêm trọng đầu tiên trong cách tiếp cận này là: cảnh sát hay pháp luật can thiệp không phải khi một hành vi hung hãn đã và đang xảy ra, mà chỉ dựa trên sự phán đoán rằng hành vi ấy có thể xảy ra trong tương lai. Điều này mở toang cánh cửa cho sự chuyên chế vô giới hạn. Bất cứ ai cũng có thể bị đánh giá là có khả năng, hoặc có khả năng cao, sẽ phạm tội trong một ngày nào đó; và với lý do ấy, bất kỳ ai cũng có thể bị giam giữ hợp pháp – không phải vì một tội ác đã phạm, mà chỉ vì có người nghĩ rằng anh ta có thể phạm tội. Lối tư duy ấy không chỉ biện minh cho việc giam giữ, mà còn hợp thức hóa cả việc giam giữ vĩnh viễn, chỉ dựa trên sự ngờ vực.
Thế nhưng, tín điều cốt lõi của chủ nghĩa tự do cá nhân khẳng định rằng: mỗi cá nhân đều có năng lực của ý chí tự do và sự lựa chọn tự do; rằng không ai – dù bị đánh giá là có khả năng phạm tội trong tương lai, cho dù dựa trên cơ sở thống kê hay bất kỳ cơ sở nào khác – chắc chắn sẽ phạm tội; và rằng, trong mọi trường hợp, việc cưỡng bức bất kỳ ai không phải là tội phạm hiện diện và công khai, mà chỉ là người bị tình nghi, là hành vi vô đạo đức, xâm phạm và chính nó đã là tội ác.
Gần đây, có người hỏi Tiến sĩ Szasz: “Nhưng ông không cho rằng xã hội có quyền và nghĩa vụ chăm sóc những cá nhân bị đánh giá là ‘nguy hiểm cho chính mình và người khác’ sao?” Szasz đã đáp lại một cách đầy thuyết phục:
Tôi cho rằng ý tưởng “giúp đỡ” con người bằng cách giam cầm họ và làm những điều khủng khiếp với họ thực chất là một quan niệm mang tính tôn giáo, tương tự như quan niệm xưa kia về việc “cứu rỗi” phù thủy bằng cách tra tấn và thiêu sống. Về vấn đề “nguy hiểm cho chính mình”, tôi tin, giống như John Stuart Mill, rằng cơ thể và linh hồn của một người thuộc về chính anh ta, chứ không thuộc về nhà nước. Hơn thế nữa, mỗi cá nhân đều có “quyền”, nếu muốn nói như thế, được toàn quyền định đoạt đối với thân thể mình — miễn là anh ta không gây hại cho người khác hay xâm phạm đến quyền của họ.
Còn về vấn đề “nguy hiểm cho người khác”, hầu hết các bác sĩ tâm thần từng làm việc với bệnh nhân nhập viện đều phải thừa nhận rằng đây chỉ là ảo tưởng. Trên thực tế, đã có những khảo cứu thống kê cho thấy bệnh nhân tâm thần tuân thủ pháp luật còn nhiều hơn so với người bình thường.
Luật sư về quyền tự do dân sự, Bruce Ennis, còn bổ sung thêm:
Chúng ta biết rằng có đến 85% số cựu tù nhân sẽ tiếp tục phạm tội trong tương lai; rằng những cư dân trong các khu ổ chuột và nam thanh thiếu niên có xác suất phạm tội cao hơn nhiều so với mức trung bình của xã hội. Chúng ta cũng biết, từ những nghiên cứu gần đây, rằng về mặt thống kê, bệnh nhân tâm thần thậm chí còn ít nguy hiểm hơn so với một người đàn ông bình thường. Vậy thì, nếu điều khiến chúng ta thực sự lo ngại là sự nguy hiểm, tại sao trước tiên chúng ta không giam giữ tất cả các cựu tù nhân, rồi giam giữ toàn bộ cư dân trong các khu ổ chuột, và sau đó, giam giữ tất cả các nam thanh thiếu niên? … Câu hỏi mà Szasz nêu ra là: Nếu một người chưa hề phạm pháp, thì xã hội có quyền gì để giam giữ anh ta?”[7]
Những người bị bắt buộc nhập viện có thể được chia thành hai loại: những người chưa phạm tội, và những người đã phạm tội. Đối với nhóm người chưa phạm tội, những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân kêu gọi trả tự do vô điều kiện cho họ. Nhưng còn những kẻ đã phạm tội thì sao? Những kẻ tội phạm, nhờ viện dẫn chứng mất trí hay những lời biện hộ khác, được cho là thoát khỏi “sự tàn bạo” của hình phạt tù và thay vào đó nhận sự chăm sóc y tế từ tay Nhà nước thì sao? Ở đây, một lần nữa, Tiến sĩ Szasz là người tiên phong với sự phê phán mạnh mẽ và quyết liệt đối với tính chuyên chế của cái gọi là “chủ nghĩa nhân đạo” theo lối tự do. Trước hết, thật lố bịch khi cho rằng việc giam giữ trong một bệnh viện tâm thần nhà nước bằng cách nào đó lại “nhân đạo hơn” so với giam giữ trong nhà tù. Trái lại, sự chuyên chế của nhà cầm quyền ở đó thường khắc nghiệt hơn, và tù nhân có ít cơ hội bảo vệ quyền của mình hơn, bởi khi đã bị chứng nhận là “tâm thần”, anh ta lập tức bị xếp vào hạng “phi nhân cách” mà không ai còn cảm thấy có bổn phận phải coi trọng. Như Tiến sĩ Szasz đã nói đùa: “Nằm trong bệnh viện tâm thần của Nhà nước sẽ khiến bất kỳ ai cũng phát điên!”
Nhưng hơn thế nữa, chúng ta phải đặt lại vấn đề về toàn bộ khái niệm tách một người ra khỏi quy tắc của luật pháp khách quan. Làm như vậy thường gây hại nhiều hơn là đem lại lợi ích cho chính những người bị lựa ra. Giả sử có hai người đàn ông, A và B, cùng phạm một vụ cướp giống nhau, và hình phạt thông thường cho tội này là năm năm tù. Giả sử B “thoát” được hình phạt đó vì được tuyên bố mắc bệnh tâm thần, và được chuyển đến bệnh viện tâm thần nhà nước. Người theo phái tự do chủ nghĩa có thể tập trung vào khả năng rằng, chẳng hạn, B sẽ được thả sau hai năm nếu bác sĩ tâm thần của Nhà nước phán rằng anh ta đã “khỏi bệnh” hay “phục hồi chức năng”. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu vị bác sĩ đó không bao giờ cho rằng anh ta khỏi bệnh, hoặc chỉ đưa ra kết luận đó sau một thời gian chữa trị rất lâu? Khi ấy, B – chỉ vì một tội trộm cắp đơn giản – có thể phải đối mặt với nỗi kinh hoàng bị giam cầm suốt đời trong bệnh viện tâm thần. Như vậy, khái niệm “bản án không xác định” của phái “tự do” – tức là tuyên án một người không vì tội ác khách quan của họ mà dựa trên sự phán xét của Nhà nước về tâm lý hay tinh thần hợp tác – chính là hiện thân của chuyên chế và phi nhân tính ở dạng tồi tệ nhất. Hơn thế nữa, kiểu chuyên chế này còn khuyến khích tù nhân tìm cách dối trá, để lừa gạt bác sĩ tâm thần của Nhà nước – người mà anh ta hoàn toàn coi là kẻ thù – tin rằng mình đã được “chữa khỏi”, hòng thoát ra khỏi cảnh giam cầm. Gọi quá trình đó là “trị liệu” hay “phục hồi chức năng” rõ ràng chỉ là một sự nhạo báng tàn nhẫn đối với những thuật ngữ này. Về nguyên tắc, cũng như về nhân đạo thực sự, cách xử lý đúng đắn hơn cả là đối xử với mọi tù nhân theo đúng luật hình sự khách quan.
[1] Có một ngoại lệ: đó là việc trừng phạt những tội phạm vốn đã là kẻ xâm hại hoặc bắt nô lệ đối với nạn nhân của mình. Trong hệ thống theo chủ nghĩa tự do cá nhân, sự trừng phạt như vậy tối thiểu cũng bao gồm việc buộc tội phạm phải lao động nhằm bồi thường cho nạn nhân.
[2] Đáng chú ý, ngoại lệ duy nhất trong Tu chính án thứ Mười Ba chính là việc trừng phạt tội phạm đã bị kết án, như đã nói trong chú thích trước: “Không ai bị nô dịch hoặc bị ép buộc lao động, trừ trường hợp đó là hình phạt dành cho tội phạm đã được xét xử và kết án hợp pháp; quyền này không được tồn tại trong phạm vi Hợp chúng quốc Hoa Kỳ hoặc tại bất kỳ địa điểm nào thuộc quyền tài phán của nước này.”
[3] Arthur A. Ekirch, Jr., The Civilian and the Military (New York: Oxford University Press, 1956), p. 28. Tham khảo cuộc công kích sắc bén của lý thuyết theo phái Jefferson đối với vai trò Tổng thống Mỹ với tư cách là Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang, mời đọc John Taylor of Caroline, An Inquiry into the Principles and Policy of the Government of the United States (1814; reprinted New Haven, Conn.: Yale University Press, 1950), pp. 175ff. Về ảnh hưởng quan trọng của các lý thuyết gia trường phái tự do cá nhân ở Anh, trong thế kỷ XVII và thái độ thù dịch của họ đối với quân đội thường trực đối với Cách mạng Mỹ, mời đọc Bernard Bailyn, The Ideological Origins of the American Revolution (Cambridge, Mass.: Harvard University Press, 1967), pp. 61–64. Đọc thêm Don Higgenbotham, The War of American Independence (New York: Macmillan, 1971), pp. 14–16.
[4] Vụ án Kellems, xem Vivien Kellems, Toil, Taxes and Trouble (New York: E.P. Dutton, 1952)
[5] Stephen Schafer, Restitution to Victims of Crime (Chicago: Quadrangle Books, 1960), pp. 7–8; William Tallack, Reparation to the Injured and the Rights of the Victims of Crime to Compensation (London, 1900), pp. 11–12.
[6] Xin tham khảo một bài phê phán đầy hài hước về quyền miễn trừ của các cơ quan bắt giữ và thi hành án, mời đọc H.L. Mencken, “The Nature of Liberty,” Prejudices: A Selection (New York: Vintage Books, 1958), pp. 138–43.
[7] Trích trong Maggie Scarf, “Dr. Thomas Szasz . . . ,” New York Times Magazine (October 3, 1971): 42, 45. Among other works, see Thomas S. Szasz, Law, Liberty, and Psychiatry (New York: Macmillan, 1963).
Nguyên tác: For a New Liberty, Murray N. Rothbard
Bản dịch: Phạm Nguyên Trường dịch
