Vì một nền tự do mới - Chương 8: Phúc lợi, nhà nước phúc lợi

Vì một nền tự do mới - Chương 8: Phúc lợi, nhà nước phúc lợi

Vì sao phúc lợi khủng hoảng?

Hầu như tất cả mọi người, dù thuộc hệ tư tưởng nào, cũng đều thừa nhận rằng có điều gì đó rất sai trong hệ thống phúc lợi xã hội ở Hoa Kỳ – một hệ thống đang mất kiểm soát với tốc độ ngày càng gia tăng, ngày càng nhiều người trở thành những kẻ vô công rồi nghề, nhưng lại bắt buộc trở thành người thụ hưởng từ thành quả sản xuất của phần còn lại của xã hội. Một vài con số và so sánh dưới đây sẽ phác họa phần nào diện mạo của vấn đề đang bùng phát với tốc độ phi mã này. Năm 1934, giữa cuộc Đại Suy Thoái lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, vào thời điểm nền kinh tế chạm đáy, tổng chi tiêu phúc lợi xã hội của chính phủ là 5,8 tỷ đô la, trong đó các khoản chi trả phúc lợi trực tiếp (“viện trợ công”) chiếm 2,5 tỷ đô la. Đến năm 1976, sau bốn thập kỷ của giai đoạn bùng nổ kinh tế lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, vào lúc đất nước đã đạt tới mức sống cao nhất trong lịch sử nhân loại với tỷ lệ thất nghiệp tương đối thấp, tổng chi tiêu phúc lợi xã hội của chính phủ vọt lên 331,4 tỷ đô la, trong đó riêng viện trợ phúc lợi trực tiếp đã chiếm 48,9 tỷ đô la. Nói cách khác, trong bốn thập kỷ này, tổng chi tiêu phúc lợi xã hội đã tăng tới 5.614%, còn viện trợ phúc lợi trực tiếp tăng 1.856%. Tính trung bình, chi tiêu phúc lợi xã hội mỗi năm tăng thêm 133,7%, trong khi viện trợ phúc lợi trực tiếp tăng thêm 44,2% mỗi năm.

Nếu tập trung riêng vào viện trợ phúc lợi trực tiếp, có thể thấy chi tiêu gần như không thay đổi trong giai đoạn 1934–1950, nhưng sau đó đã bùng nổ cùng với sự thăng hoa kinh tế thời hậu Thế chiến II. Chỉ trong khoảng từ 1950 đến 1976, viện trợ phúc lợi trực tiếp đã tăng tới 84,4% mỗi năm.

Một phần của sự gia tăng khổng lồ này có thể lý giải là do lạm phát – vốn làm suy giảm giá trị và sức mua của đồng đô la. Nếu hiệu chỉnh toàn bộ số liệu theo lạm phát, tính theo “đô la cố định năm 1958” (nghĩa là mỗi đồng đô la có sức mua ngang với giá trị năm 1958), thì các số liệu sẽ như sau: Năm 1934, tổng chi tiêu phúc lợi xã hội là 13,7 tỷ đô la, trong đó viện trợ phúc lợi trực tiếp là 5,9 tỷ đô la; đến năm 1976, tổng chi tiêu phúc lợi xã hội là 247,7 tỷ đô la, còn viện trợ phúc lợi trực tiếp là 36,5 tỷ đô la.

Ngay cả khi đã điều chỉnh theo lạm phát, chi tiêu phúc lợi xã hội của chính phủ vẫn tăng tới 1.798% trong vòng 42 năm, tức bình quân tăng thêm 42,8% mỗi năm; còn viện trợ phúc lợi trực tiếp tăng 519%, tức tăng thêm 12,4% mỗi năm. Đặc biệt, nếu so sánh số liệu năm 1950 với năm 1976 về viện trợ phúc lợi trực tiếp (đã điều chỉnh theo lạm phát), có thể thấy trong giai đoạn bùng nổ kinh tế này, chi tiêu đã tăng tới 1.077%, tương đương 41,4% mỗi năm.

Nếu tiếp tục điều chỉnh thêm theo tốc độ tăng trưởng dân số (dân số Hoa Kỳ từ 126 triệu người năm 1934 tăng lên 215 triệu người năm 1976), thì ta vẫn chứng kiến mức tăng gần gấp mười lần trong tổng chi tiêu phúc lợi xã hội, từ 108 đô la lên 1.152 đô la bình quân đầu người (tính theo đô la cố định năm 1958). Riêng viện trợ công trực tiếp cũng tăng hơn gấp ba lần, từ 47 đô la một người năm 1934 lên 170 đô la một người năm 1976.

Thêm một vài so sánh nữa: từ năm 1955 đến năm 1976—những năm thịnh vượng nhất—tổng số người hưởng phúc lợi xã hội đã tăng gấp năm lần, từ 2,2 triệu lên 11,2 triệu. Từ năm 1952 đến năm 1970, số lượng trẻ em từ 18 tuổi trở xuống tăng 42%; tuy nhiên, số người hưởng phúc lợi xã hội lại tăng 400%. Tổng dân số vẫn giữ nguyên, nhưng số người hưởng phúc lợi xã hội ở Thành phố New York đã tăng vọt từ 330.000 người năm 1960 lên 1,2 triệu người vào năm 1971. Rõ ràng, một cuộc khủng hoảng phúc lợi xã hội đang ập tới[1].

Cuộc khủng hoảng này sẽ còn nghiêm trọng hơn nhiều nếu chúng ta tính tất cả các khoản trợ cấp phúc lợi xã hội dành cho người nghèo vào khoản “chi trả phúc lợi xã hội”. Do đó, “trợ cấp cho người nghèo” của liên bang, từ năm 1960 đến năm 1969, đã tăng gần gấp ba lần, tăng vọt từ 9,5 tỷ đô la lên 27,7 tỷ đô la. Chi tiêu phúc lợi xã hội của bang và địa phương đã tăng vọt từ 3,3 tỷ đô la vào năm 1935 lên 46 tỷ đô la, tăng 1.300%! Tổng chi tiêu phúc lợi xã hội năm 1969, cả liên bang, bang và địa phương, lên tới con số đáng kinh ngạc 73,7 tỷ đô la.

Hầu hết mọi người đều nghĩ rằng việc hưởng phúc lợi xã hội là một quá trình nằm ngoài bản thân người hưởng phúc lợi, gần như là một thảm họa tự nhiên (giống như sóng thần hoặc núi lửa phun trào) xảy ra ngoài tầm kiểm soát và bất chấp ý chí của những người hưởng phúc lợi. Câu châm ngôn thường được đưa ra là “nghèo đói” là nguyên nhân khiến các cá nhân hoặc gia đình phải hưởng phúc lợi xã hội. Nhưng dù dựa trên tiêu chí nào, dựa trên bất kỳ mức thu nhập nào được chọn, thì không thể phủ nhận rằng số lượng người hoặc gia đình sống dưới “ngưỡng nghèo đói” đã giảm đều đặn kể từ những năm 1930, chứ không phải ngược lại. Do đó, mức độ nghèo đói khó có thể giải thích cho sự gia tăng ngoạn mục số lượng người hưởng phúc lợi xã hội.

Lời giải cho bài toán này sẽ trở nên rõ ràng khi ta nhận ra rằng số lượng người hưởng phúc lợi xã hội có cái mà trong kinh tế học gọi là “hàm cung dương”; nói cách khác, khi động lực để hưởng phúc lợi xã hội tăng lên, danh sách người hưởng phúc lợi xã hội sẽ kéo dài mãi ra, và kết quả tương tự cũng sẽ xảy ra nếu các yếu tố cản trở việc hưởng phúc lợi xã hội yếu đi. Kỳ lạ là, không ai phản bác phát hiện này trong bất kỳ lĩnh vực nào khác của nền kinh tế. Giả sử, ví dụ, có người (dù là chính phủ hay một tỷ phú lập dị nào đó, không quan trọng) đề nghị thêm 10.000 đô la cho tất cả những ai làm việc trong một nhà máy giày. Rõ ràng, nguồn cung lao động hăng hái trong ngành giày sẽ tăng lên. Điều tương tự cũng sẽ xảy ra khi các yếu tố cản trở được giảm bớt, ví dụ, nếu chính phủ hứa miễn thuế thu nhập cho mọi công nhân ngành giày. Nếu chúng ta bắt đầu áp dụng cùng một phân tích cho nhóm khách hàng hưởng phúc lợi xã hội như cho tất cả các lĩnh vực khác của đời sống kinh tế, câu trả lời cho bài toán phúc lợi xã hội sẽ trở nên rõ ràng.

Vậy thì, những động lực/trở ngại quan trọng nào khiến người dân phải hưởng phúc lợi xã hội, và chúng đã thay đổi như thế nào? Rõ ràng, một trong những yếu tố cực kỳ quan trọng là quan hệ giữa thu nhập nhận được từ phúc lợi xã hội so với thu nhập nhận được từ công việc sản xuất. Giả sử, nói một cách đơn giản, mức lương "trung bình", hay mức lương hiện hành (nói một cách nôm na là mức lương cho một người lao động "trung bình"), ở một khu vực nhất định là 7.000 đô la một năm. Giả sử, thu nhập nhận được từ phúc lợi xã hội là 3.000 đô la một năm. Điều này có nghĩa là thu nhập ròng trung bình từ công việc (trước thuế) là 4.000 đô la một năm. Giả sử bây giờ các khoản trợ cấp phúc lợi xã hội tăng lên 5.000 đô la (hoặc, ngược lại, mức lương trung bình giảm xuống còn 5.000 đô la). Chênh lệch - thu nhập ròng nhận được từ công việc - đã bị cắt giảm một nửa, giảm từ 4.000 đô la xuống còn 2.000 đô la một năm. Hoàn toàn hợp lý khi cho rằng kết quả sẽ là sự gia tăng đáng kể trong danh sách phúc lợi xã hội (và con số này sẽ còn tăng hơn nữa khi xét đến việc những người lao động có thu nhập 7.000 đô la sẽ phải đóng thuế cao hơn để hỗ trợ một nhóm người hưởng phúc lợi xã hội đang ngày càng phình to ra và hầu như không đóng thuế). Khi đó, chúng ta có thể kỳ vọng rằng nếu – như đã từng xảy ra – mức chi trả phúc lợi xã hội tăng nhanh hơn mức lương trung bình, thì ngày càng có nhiều người đổ xô đến danh sách phúc lợi xã hội. Hiệu ứng này sẽ còn lớn hơn nữa nếu xét đến việc, tất nhiên, không phải ai cũng kiếm được mức “trung bình”; chính những người lao động “cận biên”, những người có thu nhập dưới mức trung bình, mới là những người đổ xô đến danh sách phúc lợi xã hội. Trong ví dụ của chúng ta, nếu khoản chi trả phúc lợi xã hội tăng lên 5.000 đô la một năm, điều gì sẽ xảy ra với những người lao động kiếm được 4.000 đô la? 5.000 đô la? hay thậm chí 6.000 đô la? Người kiếm được 5.000 đô la một năm, trước đây kiếm được nhiều hơn 2.000 đô la so với người hưởng phúc lợi, giờ đây thấy rằng khoản chênh lệch của mình đã giảm xuống còn bằng 0, rằng anh ta không kiếm được nhiều hơn—thậm chí còn ít hơn sau khi trừ thuế!—so với người hưởng phúc lợi bị nhà nước cho nghỉ việc. Có gì lạ khi anh ta bắt đầu đổ xô đến với khoản phúc lợi khổng lồ này?

Cụ thể, trong giai đoạn từ năm 1952 đến năm 1970, khi số người hưởng phúc lợi xã hội tăng gấp năm lần, từ 2 triệu lên 10 triệu, trợ cấp trung bình hàng tháng của một gia đình hưởng phúc lợi xã hội đã tăng hơn gấp đôi, từ 82 đô la lên 187 đô la, tăng gần 130% vào thời điểm khi mà giá tiêu dùng chỉ tăng 50%. Hơn nữa, năm 1968, Ủy ban Ngân sách Công dân của Thành phố New York so sánh mười bang trong Liên bang có tốc độ tăng trưởng phúc lợi xã hội nhanh nhất với mười bang có tốc độ tăng trưởng thấp nhất. Ủy ban này nhận thấy rằng trợ cấp phúc lợi xã hội trung bình hàng tháng ở mười bang tăng trưởng nhanh nhất cao gấp đôi so với mười bang chậm nhất. (Trợ cấp phúc lợi hàng tháng cho mỗi người trung bình là 177 đô la ở nhóm bang tăng nhanh, và chỉ có 88 đô la ở nhóm bang tăng chậm.)[2]

Một ví dụ khác về tác động của các khoản trợ cấp phúc lợi cao và liên hệ của chúng với mức lương có được từ công việc đã được Ủy ban McCone điều tra vụ bạo loạn Watts năm 1965 trích dẫn. Ủy ban nhận thấy rằng một công việc với mức lương tối thiểu được trả khoảng 220 đô la một tháng, trong đó phải bao gồm các chi phí liên quan đến công việc như quần áo và phương tiện đi lại. Ngược lại, một gia đình hưởng trợ cấp trung bình trong khu vực nhận được từ 177 đến 238 đô la một tháng, trong đó không phải khấu trừ bất kỳ chi phí liên quan nào tới công việc[3].

Một yếu tố mạnh mẽ khác khiến danh sách phúc lợi xã hội ngày càng phình to là sự biến mất ngày càng nhiều của những rào cản mạnh mẽ khác nhau đối với việc nhận phúc lợi xã hội. Rào cản hàng đầu luôn là sự kỳ thị mà mỗi người nhận trợ cấp xã hội thường cảm thấy, sự kỳ thị vì bị coi là kẻ ăn bám và sống dựa vào sản xuất thay vì đóng góp cho sản xuất. Sự kỳ thị này đã được xóa bỏ về mặt xã hội nhờ các giá trị của chủ nghĩa tự do hiện đại đã thấm vào máu của người dân; hơn nữa, các cơ quan chính phủ và bản thân các nhân viên xã hội ngày càng trải thảm đỏ để chào đón và thậm chí thúc giục mọi người nhận phúc lợi xã hội càng sớm càng tốt. Quan điểm “cổ điển” về nhân viên xã hội là giúp mọi người tự giúp mình, hỗ trợ họ đạt được và duy trì sự độc lập và tự đứng vững trên đôi chân của mình. Đối với người nhận phúc lợi xã hội, mục tiêu của nhân viên xã hội trước đây là giúp họ thoát khỏi danh sách phúc lợi xã hội càng nhanh càng tốt. Nhưng giờ đây, nhân viên xã hội có mục tiêu ngược lại: cố gắng đưa được càng nhiều người nhận phúc lợi xã hội thì càng tốt, quảng bá và công bố “quyền” của họ. Kết quả là các yêu cầu về điều kiện hưởng trợ cấp liên tục được nới lỏng, thủ tục hành chính giảm bớt, và việc thực thi các yêu cầu về cư trú, công việc, hoặc thậm chí thu nhập để được hưởng trợ cấp thất nghiệp dần bị thu hẹp. Bất kỳ ai, dù chỉ là một lời đề nghị mơ hồ, rằng người hưởng trợ cấp nên được yêu cầu phải chấp nhận việc làm và thoát khỏi trợ cấp thất nghiệp đều bị coi là phản động. Và với định kiến cũ ngày càng bị xóa bỏ, mọi người ngày càng có xu hướng nhanh chóng chuyển sang nhận trợ cấp thay vì né tránh nó. Irving Kristol viết một cách sâu sắc về “sự bùng nổ phúc lợi” trong những năm 1960:

“Vụ bùng nổ” này được tạo ra - một phần là cố ý, phần lớn là vô tình bởi các quan chức và nhân viên nhà nước, những người đang thực hiện các chính sách công như một phần của “Cuộc chiến chống đói nghèo”. Và những chính sách này đã được ủng hộ và ban hành bởi chính những người sau này đã rất hoang mang trước “vụ bùng nổ phúc lợi”. Không có gì ngạc nhiên khi phải mất một thời gian họ mới nhận ra rằng vấn đề họ đang cố gắng giải quyết chính là vấn đề họ đã tạo ra.

Sau đây là những nguyên nhân dẫn đến “vụ bùng nổ phúc lợi” trong thập niên 1960:

  1. Số người nghèo đủ điều kiện nhận trợ cấp phúc lợi sẽ tăng lên khi các định nghĩa chính thức về “nghèo đói” và “nhu cầu” được nâng cao. Cuộc Chiến chống Nghèo đói đã mở rộng các định nghĩa chính thức này; do đó, số lượng “người đủ điều kiện” tự động gia tăng.

  2. Số người nghèo đủ điều kiện thực sự nộp đơn xin trợ cấp sẽ tăng lên khi mức phúc lợi được nâng cao—xảy ra trong suốt thập niên 1960. Khi các khoản trợ cấp (và các phúc lợi liên quan như Medicaid hay tem phiếu thực phẩm) bắt đầu cạnh tranh với mức lương thấp, nhiều người nghèo sẽ lựa chọn nhận trợ cấp thay vì tiếp tục làm việc. Ngày nay, tại Thành phố New York cũng như ở nhiều đô thị lớn khác, các khoản phúc lợi không chỉ ngang bằng mà còn cao hơn cả mức lương thấp.

  3. Sự miễn cưỡng của những người đủ điều kiện khi nộp đơn xin trợ cấp—xuất phát từ lòng tự trọng, sự thiếu hiểu biết hay sợ hãi—sẽ giảm đi nếu có một chiến dịch có tổ chức được phát động nhằm “đăng ký cho họ”. Một chiến dịch như vậy đã được thực hiện thành công trong thập niên 1960 bởi: (a) các tổ chức cộng đồng được Văn phòng Cơ hội Kinh tế (Office of Economic Opportunity) tài trợ, (b) Phong trào Quyền Phúc lợi (Welfare Rights Movement), và (c) ngành công tác xã hội, được dẫn dắt bởi các cử nhân đại học cho rằng nghĩa vụ đạo đức của họ là giúp người dân nhận được trợ cấp—thay vì, như trước đây, giúp họ thoát khỏi trợ cấp. Ngoài ra, tòa án cũng góp phần bằng cách loại bỏ nhiều rào cản pháp lý (chẳng hạn như yêu cầu về nơi cư trú).

Dù sao đi nữa, việc ngày càng có nhiều người nghèo sống nhờ trợ cấp, nhận những khoản chi hào phóng hơn, không hề khiến đất nước này trở nên đáng sống hơn—ngay cả đối với chính những người nghèo đang nhận trợ cấp, khi mà điều kiện của họ dường như chẳng khá hơn mấy so với trước đây. Dường như đã có điều gì đó sai: một chính sách xã hội nhân đạo và phóng khoáng lại sinh ra những hệ quả trái ngược và méo mó[4].

Tinh thần từng thổi hồn cho nghề công tác xã hội xưa kia hoàn toàn khác — đó là tinh thần của chủ nghĩa tự do cá nhân. Có hai nguyên tắc căn bản: (a) mọi khoản cứu trợ và phúc lợi đều nên mang tính tự nguyện, do các tổ chức tư nhân thực hiện, thay vì bị cưỡng chế thông qua thuế khóa của chính phủ; và (b) mục đích của việc cho đi là giúp người nhận trở nên độc lập và có khả năng tự lực trong thời gian sớm nhất có thể. Tất nhiên, về mặt logic tối hậu, (b) là hệ quả tất yếu của (a), bởi không có cơ quan tư nhân nào có thể tiếp cận nguồn tiền gần như vô hạn — có thể bị trưng thu từ những người nộp thuế vốn đã chịu đựng quá nhiều. Do nguồn quỹ tư nhân luôn luôn hữu hạn, nên không thể tồn tại quan niệm về “quyền hưởng phúc lợi” như một yêu sách vĩnh viễn và vô hạn đối với thành quả lao động của người khác. Là hệ quả của giới hạn như thế, các nhân viên công tác xã hội cũng nhận ra rằng không thể hỗ trợ cho những người lười biếng, không chịu lao động hoặc lợi dụng viện trợ như một chiêu trò mưu sinh; từ đó ra đời khái niệm về người nghèo “xứng đáng” đối lập với người nghèo “không xứng đáng.” Vì vậy, cơ quan theo khuynh hướng tự do kinh doanh của nước Anh thế kỷ XIX — Hội Tổ chức Từ thiện (Charity Organisation Society) — đã liệt kê vào nhóm “người nghèo không xứng đáng”, những kẻ không thực sự cần cứu trợ, mạo danh, hay những người mà “tình cảnh của họ là do thiếu dự phòng hay phung phí, và không có hy vọng nào khiến họ trở nên độc lập với sự trợ giúp từ thiện… trong tương lai.”[5]

Chủ nghĩa tự do kinh doang của nước Anh (English laissez-faire liberalism), dù nhìn chung vẫn chấp nhận phúc lợi của nhà nước theo “Luật Người Nghèo” (Poor Law), lại khăng khăng duy trì hiệu ứng răn đe mạnh mẽ: không chỉ qua những quy định nghiêm ngặt về điều kiện được trợ giúp, mà còn bằng cách biến điều kiện sống trong trại tế bần trở nên khó chịu đến mức đảm bảo rằng việc nhận cứu trợ ở đó sẽ là một rào cản chứ không phải một cơ hội hấp dẫn. Đối với “người nghèo không xứng đáng” — những người tự chịu trách nhiệm cho số phận của mình — việc lạm dụng hệ thống cứu trợ chỉ có thể bị ngăn chặn bằng cách “làm cho nó trở nên đáng ghét nhất có thể đối với người xin trợ giúp; nghĩa là, buộc họ phải qua bài kiểm tra lao động hoặc cư trú tại trại tế bần.”[6]

Mặc dù một biện pháp răn đe nghiêm khắc vẫn tốt hơn hẳn so với việc mở rộng vòng tay chào đón và giảng giải về “quyền lợi” của người nhận, song lập trường của chủ nghĩa tự do cá nhân kêu gọi bãi bỏ hoàn toàn hệ thống phúc lợi của chính phủ, thay vào đó là sự trợ giúp mang tính từ thiện tư nhân — vốn tất yếu dựa trên nguyên tắc giúp đỡ “người nghèo xứng đáng” để họ vươn lên đến tự lực càng nhanh càng tốt. Xét cho cùng, trước thời kỳ Đại Suy thoái những năm 1930, Hoa Kỳ hầu như không có hệ thống phúc lợi nhà nước, thế nhưng — ngay cả trong giai đoạn mà mức sống trung bình thấp hơn rất nhiều so với ngày nay — vẫn không hề xảy ra nạn đói hàng loạt trên đường phố. Một ví dụ điển hình cho chương trình phúc lợi tư nhân thành công trong thời hiện đại là chương trình do Giáo hội Mormon thực hiện, với ba triệu tín đồ. Những con người phi thường này, từng bị nghèo đói và bức hại truy đuổi, đã di cư tới Utah và các bang lân cận vào thế kỷ XIX, và bằng đức tính tiết kiệm cùng lao động cần cù, họ đã vươn lên tới mức sống thịnh vượng và sung túc. Rất ít người Mormon sống nhờ vào trợ cấp xã hội; họ được dạy phải độc lập, tự lực cánh sinh, và tránh xa phúc lợi công cộng. Là những tín đồ sùng đạo, họ đã thành công trong việc nội tâm hóa những giá trị đáng quý ấy. Hơn nữa, Giáo hội Mormon còn điều hành hệ thống phúc lợi tư nhân rộng lớn dành cho các tín đồ của mình — một lần nữa, dựa trên nguyên tắc giúp họ vươn tới tự lực càng nhanh càng tốt.

Ghi chú, chẳng hạn, những nguyên tắc sau đây trong “Chương trình Phúc lợi” của Giáo hội Mormon:

Kể từ khi được thành lập vào năm 1830, Giáo hội đã khuyến khích các tín đồ của mình xây dựng và duy trì sự độc lập về kinh tế; khuyến khích đức tính tiết kiệm và thúc đẩy việc thành lập các ngành nghề tạo công ăn việc làm; đồng thời luôn sẵn sàng giúp đỡ những tín đồ trung thành gặp khó khăn.

Năm 1936, Giáo hội Mormon đã xây dựng

Chương trình Phúc lợi của Giáo hội — một hệ thống mà theo đó lời nguyền của sự lười biếng sẽ bị loại bỏ, những tệ hại của chế độ trợ cấp bị xóa bỏ, và tinh thần tự lực, cần cù, tiết kiệm và tự trọng sẽ được khôi phục trong cộng đồng tín hữu của chúng ta. Mục tiêu của Giáo hội là giúp con người biết tự giúp chính mình. Lao động được tôn vinh như là nguyên tắc chủ đạo trong đời sống của các tín đồ[7].

Các nhân viên xã hội của Giáo hội Mormon tham gia trong chương trình này được hướng dẫn hành động phù hợp với nguyên tắc đó:

Trung thành với nguyên tắc này, các nhân viên phúc lợi sẽ hết lòng dạy dỗ và khuyến khích các tín hữu của Giáo hội tự lực đến mức tối đa khả năng của mình. Không một Thánh Hữu Ngày Sau chân chính nào, khi còn đủ sức khỏe, lại tự nguyện chuyển gánh nặng nuôi sống bản thân cho người khác. Chừng nào còn có thể, dưới sự soi dẫn của Đấng Toàn Năng và bằng chính sức lao động của mình, họ sẽ tự cung cấp cho bản thân những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống[8].

Mục tiêu trước mắt của chương trình phúc lợi là:

1.Tạo việc làm có thu nhập cho những người có khả năng lao động.

2.Cung cấp việc làm trong khuôn khổ Chương trình Phúc lợi, trong phạm vi có thể, cho những người không thể tìm được công việc có thu nhập.

3.Huy động các nguồn lực cần thiết để cung cấp cho những người nghèo khó mà Giáo hội chịu trách nhiệm — những nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống[9].

Trong chừng mực có thể, chương trình này được triển khai ở cấp cơ sở, theo mô hình các nhóm nhỏ, phi tập trung:

Các gia đình, hàng xóm, nhóm tín đồ, tiểu giáo khu và các đơn vị tổ chức khác của Giáo hội có thể thấy việc thành lập các nhóm nhỏ để hỗ trợ lẫn nhau là điều khôn ngoan và đáng mong muốn. Các nhóm này có thể trồng trọt và thu hoạch mùa màng, chế biến thực phẩm, dự trữ thực phẩm, quần áo và nhiên liệu, cũng như thực hiện các dự án khác vì lợi ích chung của cộng đồng[10].

Cụ thể, các giám mục Mormon và các nhóm chức tư tế được yêu cầu hỗ trợ anh em đồng đạo của mình trong việc tự lực cánh sinh:

Trong các hoạt động quản trị thế tục, các giám mục xem mỗi người có sức khỏe tốt nhưng lâm cảnh khó khăn như một vấn đề tạm thời, và chăm lo cho họ cho đến khi họ có thể tự lo liệu. Còn nhóm chức tư tế thì xem thành viên nghèo khó của mình là một vấn đề liên tục — cho đến khi không chỉ các nhu cầu vật chất mà cả các nhu cầu tinh thần của họ đều được đáp ứng. Ví dụ cụ thể: một giám mục trợ giúp khi người thợ thủ công thất nghiệp và túng thiếu; còn nhóm chức tư tế sẽ hỗ trợ để người đó tìm được việc làm, và cố gắng bảo đảm rằng anh ta trở nên hoàn toàn tự lập và tích cực trong các bổn phận chức tư tế của mình.

Các hoạt động phục hồi cụ thể dành cho những thành viên túng thiếu mà các nhóm tư tế phải thực hiện gồm có:

1.Bố trí việc làm ổn định cho các thành viên trong nhóm và gia đình họ. Trong một số trường hợp, thông qua đào tạo tại trường dạy nghề, chương trình học việc hoặc các hình thức khác, các nhóm đã giúp các thành viên của mình đủ điều kiện để có được công việc tốt hơn. 2.Hỗ trợ các thành viên trong nhóm và gia đình họ lập nghiệp kinh doanh riêng[11].

Mục tiêu chính của Giáo Hội Mormon là tìm việc làm cho những người đang gặp khó khăn. Vì thế,

việc tìm kiếm việc làm thích hợp, trong khuôn khổ Chương trình Phúc lợi, là trách nhiệm trọng yếu của các thành viên trong nhóm chức tư tế. Họ và các thành viên Hội Phụ nữ phải luôn cảnh giác trước các cơ hội việc làm. Nếu mỗi thành viên trong ủy ban phúc lợi của tiểu giáo khu thực hiện tốt nhiệm vụ của mình ở phương diện này, thì phần lớn người thất nghiệp sẽ được sắp xếp công việc có thu nhập ngay tại cấp nhóm hoặc tiểu giáo khu[12].

Những thành viên khác được phục hồi bằng cách tự kinh doanh; trong trường hợp đó, Giáo hội có thể hỗ trợ bằng một khoản vay nhỏ, và nhóm chức tư tế của họ có thể bảo đảm việc hoàn trả từ quỹ của nhóm. Những người Mormon không thể được bố trí việc làm hoặc tự kinh doanh sẽ “được giao, trong phạm vi có thể, công việc lao động sản xuất tại các cơ sở của Giáo Hội.” Giáo Hội nhấn mạnh rằng người nhận hỗ trợ phải làm việc — trong phạm vi khả năng của mình:

Những người được hỗ trợ thông qua chương trình của Giám mục phải làm việc hết khả năng của mình, để xứng đáng với những gì họ nhận được. Công việc của một cá nhân trong các dự án phúc lợi nên được xem là tạm thời, chứ không phải là hình thức việc làm lâu dài. Tuy nhiên, công việc này cần được tiếp tục chừng nào người đó vẫn còn nhận được sự trợ giúp thông qua chương trình của Giám mục. Bằng cách này, đời sống tinh thần của họ sẽ được nuôi dưỡng đồng thời với việc đáp ứng các nhu cầu vật chất, và cảm giác mặc cảm hay e ngại sẽ dần được xóa bỏ[13].

Nếu không có công việc nào khác, Giám mục có thể giao cho người nhận phúc lợi nhiệm vụ giúp đỡ các thành viên khác đang cần hỗ trợ; các thành viên được giúp đỡ sẽ hoàn trả cho Giáo hội theo mức lương hiện hành. Nhìn chung, để đáp lại sự trợ giúp, những người thụ hưởng phúc lợi được kỳ vọng sẽ đóng góp cho chương trình phúc lợi của Giáo hội bất cứ điều gì họ có thể — bằng tiền, nông sản, hay bằng chính sức lao động của mình[14].

Bổ sung cho hệ thống hỗ trợ tư nhân toàn diện này, dựa trên nguyên tắc khuyến khích tinh thần tự lập, Giáo hội Mormon nghiêm khắc khuyên các tín hữu không nên dựa vào phúc lợi công cộng. “Chúng tôi yêu cầu các chức sắc Giáo hội địa phương nhấn mạnh tầm quan trọng của việc mỗi cá nhân, mỗi gia đình và mỗi cộng đồng Giáo hội phải tự lực cánh sinh và độc lập với cứu trợ công cộng.” Và: “Việc tìm kiếm và chấp nhận cứu trợ công cộng trực tiếp thường dẫn đến sự trì trệ và nuôi dưỡng những tệ nạn khác của thói ỷ lại. Nó hủy hoại tinh thần độc lập, cần cù, tiết kiệm và lòng tự trọng của con người.”[15]

Đối với chương trình phúc lợi tư nhân, tự nguyện, hợp lý và mang tính cá nhân thì không có mô hình nào tốt hơn Giáo hội Mormon. Nếu các chương trình phúc lợi của chính phủ bị bãi bỏ, người ta có thể kỳ vọng rằng vô số mô hình hỗ trợ lẫn nhau hợp lý như thế sẽ tự nhiên xuất hiện khắp nơi trong xã hội.

Ví dụ đầy cảm hứng về Giáo hội Mormon là một minh chứng cho thấy yếu tố quyết định chủ yếu việc ai – và bao nhiêu người – rơi vào diện hưởng phúc lợi xã hội không nằm ở mức thu nhập, mà ở các giá trị văn hóa và đạo đức của họ. Một ví dụ khác là nhóm người Mỹ gốc Albania tại Thành phố New York.

Người Mỹ gốc Albania là một cộng đồng cực kỳ nghèo, và ở New York, họ gần như luôn là những cư dân sống trong các khu ổ chuột. Dù số liệu thống kê còn hạn chế, nhưng thu nhập trung bình của họ chắc chắn thấp hơn so với các nhóm thường được chú ý hơn như người da đen và người Puerto Rico. Thế nhưng, không có một người Mỹ gốc Albania nào sống nhờ phúc lợi xã hội. Vì sao? Vì họ có lòng tự trọng và tinh thần độc lập mạnh mẽ. Như một trong những nhà lãnh đạo của họ nói: “Người Albania không ăn xin, và đối với người Albania, việc nhận phúc lợi xã hội chẳng khác nào ăn xin giữa đường.”[16]

Một trường hợp tương tự là cộng đồng Northside ở Brooklyn, New York — một khu dân cư nghèo, phần lớn là người Mỹ gốc Ba Lan, gần như hoàn toàn theo Công giáo, và đang trong quá trình suy tàn. Dù phải sống với thu nhập thấp, trong môi trường xuống cấp, với nhà cửa cũ kỹ, nhưng trong cộng đồng 15.000 người này, hầu như không có ai nhận phúc lợi xã hội. Vì sao? Rudolph J. Stobierski, Chủ tịch Hội đồng Phát triển Cộng đồng Northside, đã trả lời ngắn gọn: “Họ coi phúc lợi xã hội là một sự sỉ nhục.”[17]

Bên cạnh ảnh hưởng của tôn giáo và khác biệt sắc tộc đối với hệ giá trị, Giáo sư Banfield, trong cuốn sách xuất sắc The Unheavenly City, đã chỉ ra tầm quan trọng của cái mà ông gọi là “văn hóa thượng lưu” và “văn hóa hạ lưu” trong việc hình thành hệ giá trị của các tầng lớp xã hội. Định nghĩa “giai cấp” của Banfield không hoàn toàn dựa trên thu nhập hay địa vị xã hội, dù chúng thường trùng lặp đáng kể với những tiêu chí này. Theo ông, sự khác biệt giữa các giai cấp chủ yếu nằm ở thái độ đối với hiện tại và tương lai: các thành viên của tầng lớp thượng lưu và trung lưu có xu hướng hướng về tương lai, sống có mục đích, lý trí và tự kỷ luật; trong khi những người thuộc tầng lớp thấp hơn lại thiên về hiện tại, bốc đồng, hưởng thụ, thiếu định hướng, và vì vậy không có động lực theo đuổi công việc hay sự nghiệp một cách lâu dài. Do đó, những người mang các giá trị của tầng lớp thượng lưu thường có thu nhập cao hơn và công việc ổn định hơn; ngược lại, tầng lớp thấp hơn thường nghèo khó, thất nghiệp hoặc phụ thuộc vào phúc lợi xã hội. Tóm lại, xét về lâu dài, vận mệnh kinh tế của con người chủ yếu do chính họ quyết định — chứ không phải do các yếu tố bên ngoài, như những người theo chủ nghĩa tự do vẫn thường khẳng định. Về điều này, Banfield trích dẫn phát hiện của Daniel Rosenblatt về “sự thiếu định hướng tương lai” trong giới nghèo đô thị, biểu hiện qua việc họ ít quan tâm đến chăm sóc sức khỏe:

Chẳng hạn, việc kiểm tra xe hơi định kỳ để phát hiện các hư hại tiềm ẩn không nằm trong hệ giá trị chung của người nghèo thành thị. Tương tự, các vật dụng trong nhà thường bị dùng đến hư hỏng và vứt bỏ, thay vì được sửa chữa ngay từ khi mới hư. Việc mua trả góp cũng dễ dàng được chấp nhận mà không mấy quan tâm đến thời hạn thanh toán.

Cơ thể con người, theo cách nhìn đó, được xem như một loại vật thể khác — có thể hao mòn nhưng không cần sửa chữa. Vì vậy, răng thường không được chăm sóc; sau đó, người ta cũng ít quan tâm đến việc làm răng giả, dù miễn phí hay không. Trong nhiều trường hợp, ngay cả khi có răng giả, chúng cũng ít được sử dụng. Việc khám mắt định kỳ, kể cả với người đã đeo kính, cũng thường bị bỏ qua — dù có sẵn các cơ sở y tế. Cứ như thể, tầng lớp trung lưu xem cơ thể như một cỗ máy cần được bảo dưỡng và duy trì trong tình trạng hoàn hảo — bằng các thiết bị hỗ trợ, phục hồi chức năng, phẫu thuật thẩm mỹ hay điều trị lâu dài — còn người nghèo lại nhìn cơ thể như một vật thể có vòng đời hữu hạn: được tận hưởng trong tuổi trẻ, và khi tuổi già, bệnh tật kéo đến, thì chịu đựng và cam chịu theo lối khắc kỷ[18].

Banfield tiếp tục chỉ ra rằng tỷ lệ tử vong của tầng lớp thấp luôn cao hơn hẳn so với tầng lớp thượng lưu — và sự kiện này đã kéo dài qua nhiều thế hệ. Phần lớn sự chênh lệch ấy không hẳn bắt nguồn từ nghèo đói hay thu nhập thấp, mà chủ yếu do các giá trị và văn hóa đặc trưng của tầng lớp này. Do đó, những nguyên nhân gây ra tử vong phổ biến nhất trong tầng lớp thấp thường là nghiện rượu, nghiện ma túy, giết người và các bệnh lây qua đường tình dục. Tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh của họ cũng cao hơn hẳn — gấp hai đến ba lần so với các nhóm thượng lưu. Điều này, theo Banfield, phản ánh khác biệt văn hóa hơn là khác biệt thu nhập. Ông so sánh những người nhập cư Ireland đầu thế kỷ XX với những người nhập cư Do Thái gốc Nga tại New York: người Ireland khi ấy thường có tư duy hướng về hiện tại và mang thái độ “tầng lớp thấp”, trong khi người Do Thái gốc Nga — dù sống chen chúc trong những khu nhà trọ tồi tàn và có thu nhập thậm chí thấp hơn người Ireland — lại nổi bật bởi tinh thần hướng tới tương lai, có mục đích và thuộc về “văn hóa thượng lưu” trong giá trị và thái độ sống. Vào thời điểm đó, tuổi thọ trung bình của một người nhập cư Ireland đã sống đến 10 tuổi chỉ là 38 năm, trong khi người nhập cư Do Thái gốc Nga ở cùng độ tuổi có thể sống thêm hơn 50 năm nữa. Hơn nữa, trong giai đoạn 1911–1916, một nghiên cứu trên bảy thành phố cho thấy tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh của nhóm thu nhập thấp nhất cao gấp ba lần nhóm thu nhập cao nhất — thế nhưng tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh người Do Thái lại cực kỳ thấp[19].

Cũng như trong bệnh tật và tỷ lệ tử vong, tình trạng thất nghiệp cũng phản ánh mối liên hệ mật thiết giữa nghèo đói và phúc lợi xã hội. Banfield dẫn lại phát hiện của Giáo sư Michael J. Piore về tình trạng “không thể tuyển dụng” (unemployability) của nhiều người thất nghiệp lâu năm thuộc nhóm thu nhập thấp. Piore nhận thấy khó khăn của họ không nằm ở khả năng tìm kiếm hay học hỏi kỹ năng cho các công việc ổn định, lương cao, mà ở chỗ họ thiếu ý chí và tính kỷ luật để gắn bó với công việc. Nhóm người này thường có tỷ lệ nghỉ việc cao, bỏ việc không báo trước, vi phạm kỷ luật và đôi khi còn trộm cắp tài sản của chủ lao động[20]. Ngoài ra, nghiên cứu của Peter Doeringer về thị trường lao động trong “khu ổ chuột” Boston năm 1968 cho thấy: khoảng 70% ứng viên được giới thiệu qua các trung tâm việc làm địa phương đã nhận được lời mời làm việc — nhưng hơn một nửa trong số đó từ chối. Trong số những người nhận việc, chỉ khoảng 40% trụ lại được quá một tháng. Doeringer kết luận: “Phần lớn tình trạng thất nghiệp ở các khu ổ chuột dường như xuất phát từ sự bất ổn định trong công việc hơn là do thiếu việc làm.”[21]

Thật thú vị khi so sánh hai cách mô tả hiện tượng từ chối lao động ổn định của tầng lớp thấp: một của Giáo sư Banfield — lạnh lùng, phê phán; và một của nhà xã hội học cánh tả Alvin Gouldner — lại đầy cảm thông. Banfield viết: “Những người đàn ông quen với lối sống đường phố, sống dựa vào phụ nữ hưởng trợ cấp xã hội, và ‘xoay sở kiếm sống’ hiếm khi chịu chấp nhận sự nhàm chán thường nhật của một ‘công việc tốt’.”[22] Suy ngẫm về thất bại của các nhân viên phúc lợi trong việc lôi kéo những người đàn ông ấy “rời khỏi cuộc sống buông thả, vô trách nhiệm và đầy bản năng hưởng thụ”, Gouldner cho rằng họ đơn giản chỉ thấy “thỏa thuận được đề nghị” ấy là không hấp dẫn:

Hãy từ bỏ tình dục bừa bãi, từ bỏ thái độ hung hăng phóng túng và tính tự phát hoang dại… rồi bạn — hoặc con cái bạn — có thể được bước vào thế giới của ba bữa ăn đầy đủ mỗi ngày, của một nền giáo dục trung học hay thậm chí đại học, của mua trước trả sau, công việc ổn định và sự tôn trọng xã hội.[23]

Thú vị là, dù đứng ở hai cực đối lập của phổ tư tưởng, cả Banfield và Gouldner đều đồng thuận về bản chất cốt lõi của hiện tượng này — dù đánh giá của họ khác nhau: phần lớn tình trạng thất nghiệp kéo dài trong tầng lớp thấp, và do đó là nghèo đói, thực chất là tự nguyện từ phía những người thất nghiệp.

Thái độ của Gouldner điển hình cho quan điểm của những người theo chủ nghĩa tự do và cánh tả hiện đại: thật đáng hổ thẹn khi cố gắng áp đặt, dù chỉ là gián tiếp, “các giá trị tư sản” hay “giá trị của tầng lớp trung lưu” lên nền văn hóa “tự nhiên”, “tự phát” của tầng lớp thấp. Có thể đó là một quan điểm công bằng; nhưng khi ấy, đừng mong — hay đòi hỏi — chính tầng lớp tư sản chăm chỉ ấy phải bị cưỡng ép dùng sức lao động của họ để nuôi dưỡng và tài trợ cho những giá trị ký sinh của sự lười biếng và vô trách nhiệm mà họ vốn khinh ghét, những giá trị rõ ràng là phản chức năng đối với sự tồn tại của bất kỳ xã hội nào. Nếu ai muốn “sống tự phát”, hãy để họ tự do làm thế bằng thời gian và nguồn lực của riêng mình — và chấp nhận hậu quả của lựa chọn ấy, thay vì dựa vào quyền lực Nhà nước để ép buộc những người lao động cần cù, “không tự phát”, phải gánh chịu thay cho họ. Tóm lại, cần phải xóa bỏ hệ thống phúc lợi.

Nếu vấn đề cốt lõi của người nghèo thuộc tầng lớp thấp nằm ở tư duy hướng về hiện tại thiếu trách nhiệm, và nếu chỉ bằng cách gieo mầm những giá trị “tư sản” hướng về tương lai mới có thể giúp họ thoát khỏi lệ thuộc (như trường hợp người Mormon), thì ít nhất, những giá trị ấy cần được khuyến khích thay vì bị ngăn cản. Thái độ của phái tự do cánh tả trong giới nhân viên xã hội đã làm nản lòng người nghèo, khi nuôi dưỡng ý niệm rằng phúc lợi là một “quyền” và là một yêu cầu đạo đức đối với thành quả lao động của người khác. Hơn nữa, việc dễ dàng nhận được séc phúc lợi hiển nhiên khuyến khích tư duy sống trong hiện tại, lười biếng và vô trách nhiệm nơi người nhận — qua đó duy trì vòng luẩn quẩn của nghèo đói và phúc lợi. Như Banfield đã nói: “Có lẽ không có cách nào hiệu quả hơn để biến người ta thành những kẻ chỉ biết sống cho hiện tại, ngoài việc phát cho họ một khoản phúc lợi hào phóng.”[24]

Nhìn chung, trong các cuộc công kích hệ thống phúc lợi, phe bảo thủ tập trung vào những hệ quả đạo đức và luân lý của việc cưỡng bức người đóng thuế để nuôi dưỡng kẻ lười biếng; trong khi phe cánh tả lại chỉ trích sự sa sút tinh thần của những “người thụ hưởng phúc lợi” do sự phụ thuộc của họ vào lòng “hào phóng” của Nhà nước và guồng máy quan liêu. Thực ra, cả hai hướng phê phán đều đúng; giữa chúng không hề có mâu thuẫn. Chúng ta đã thấy rằng các chương trình phúc lợi tự nguyện, như mô hình của Giáo hội Mormon, rất sáng suốt trong việc nhận ra vấn đề này. Trên thực tế, những người theo chủ nghĩa tự do kinh tế (laissez-faire) từ trước cũng quan tâm đến sa sút đạo đức do phúc lợi gây ra, không kém gì sự cưỡng bức đối với những người phải gánh chi phí cho nó.

Do đó, Thomas Mackay — một người ủng hộ tự do kinh doanh ở Anh thế kỷ XIX — đã khẳng định rằng cải cách phúc lợi “là việc tái tạo và phát triển nghệ thuật của tinh thần tự lập.” Ông kêu gọi “không phải là nhiều lòng nhân từ hơn, mà là nhiều sự tôn trọng hơn đối với phẩm giá của đời sống con người, và nhiều niềm tin hơn vào khả năng tự cứu rỗi của chính nó.” Mackay cũng không tiếc lời mỉa mai những kẻ ủng hộ mở rộng phúc lợi xã hội

những người làm từ thiện bằng tiền của người khác, những kẻ trong một cuộc chạy đua liều lĩnh nhằm tìm kiếm thứ danh tiếng rẻ mạt, đã sử dụng tiền thuế moi được từ hàng xóm để tạo thêm những cơ hội vấp ngã cho đám đông… những kẻ vốn đã quá sẵn sàng rơi vào cảnh lệ thuộc.[25]

Mackay nói thêm:

Việc hợp pháp hóa cảnh bần cùng”, như hệ thống phúc lợi ngụ ý, “đã đưa vào đời sống xã hội chúng ta một ảnh hưởng cực kỳ nguy hiểm, và đôi khi làm suy thoái đạo đức. Sự cần thiết thực sự của nó hoàn toàn chưa từng được chứng minh; cái gọi là ‘sự cần thiết bề ngoài’ chủ yếu phát sinh từ thực tế rằng chính hệ thống này đã tạo ra tầng lớp lệ thuộc của riêng nó.[26]

Nói rõ hơn về chủ đề lệ thuộc, Mackay nhận xét:

Yếu tố cay đắng nhất trong nỗi thống khổ của người nghèo không chỉ bắt nguồn từ sự nghèo đói, mà từ cảm giác lệ thuộc – thứ vốn dĩ phải là một phần trong mọi biện pháp cứu trợ công cộng. Cảm giác này không thể bị xóa bỏ; trái lại, nó còn được tăng cường bởi những chính sách cứu trợ hào phóng của phái tự do[27].

Mackay rút ra kết luận:

Cách duy nhất để các nhà lập pháp hay các nhà quản lý có thể góp phần giảm nghèo là bãi bỏ hoặc hạn chế những khoản trợ cấp hợp pháp dành cho người nghèo. Không còn nghi ngờ gì nữa, một quốc gia có thể có chính xác số người nghèo tương ứng với số tiền mà họ sẵn lòng chi trả. Hãy bãi bỏ hoặc hạn chế các khoản trợ cấp ấy… và những năng lực tự nhiên của con người sẽ được đánh thức: khả năng tự lập, những mối dây gắn kết tự nhiên của tình thân và tình bạn, và dưới danh nghĩa này, tôi sẽ bao gồm cả từ thiện tư nhân, phân biệt với từ thiện công cộng[28].

Hội Tổ chức Từ thiện (Charity Organisation Society – COS), cơ quan từ thiện tư nhân hàng đầu của nước Anh hồi cuối thế kỷ XIX, đã hoạt động chính xác dựa trên nguyên tắc hỗ trợ để khơi dậy tinh thần tự lực. Như Mowat, sử gia của Hội, nhận xét:

COS thể hiện quan niệm về từ thiện nhằm hòa giải những chia rẽ trong xã hội, xóa bỏ nghèo đói và kiến tạo một cộng đồng hạnh phúc, tự cường. Hội tin rằng khía cạnh nghiêm trọng nhất của nghèo đói là sự suy đồi trong nhân cách của người nghèo. Từ thiện bừa bãi chỉ khiến mọi thứ tồi tệ hơn – nó làm mất phẩm giá của con người. Từ thiện đích thực đòi hỏi tình bạn, sự thấu hiểu và suy xét, là kiểu giúp đỡ có thể khôi phục lòng tự trọng và khả năng tự nuôi sống bản thân cùng gia đình họ[29].

Có lẽ một trong những hệ quả nghiêm trọng nhất của chế độ phúc lợi xã hội là nó chủ động làm thui chột tinh thần tự lực, bằng cách làm suy yếu động cơ tài chính cho việc tự phục hồi. Ước tính cho thấy, trung bình mỗi một đô-la mà người khuyết tật đầu tư vào việc phục hồi năng lực của chính mình sẽ mang lại cho họ từ 10 đến 17 đô-la giá trị hiện tại của thu nhập gia tăng trong tương lai. Tuy nhiên, động cơ này bị triệt tiêu bởi thực tế là, khi họ phục hồi được khả năng lao động, họ sẽ mất các khoản trợ cấp phúc lợi, trợ cấp khuyết tật từ An sinh Xã hội, và bồi thường lao động. Kết quả là, phần lớn người khuyết tật lựa chọn không đầu tư vào việc phục hồi chức năng cho chính mình[30]. Hơn nữa, hiện nay nhiều người đã quá quen thuộc với tác dụng phản năng suất của hệ thống An sinh Xã hội — một hệ thống mà, trái ngược hoàn toàn với mọi quỹ bảo hiểm tư nhân, sẽ cắt trợ cấp ngay khi người thụ hưởng dám tiếp tục làm việc và kiếm thu nhập sau tuổi 62.

Trong thời đại mà phần lớn công chúng nghi ngờ sự gia tăng dân số, rất ít người trong số các những người chống tăng dân số chú ý đến một tác động đáng tiếc khác của hệ thống phúc lợi: vì các gia đình hưởng phúc lợi được trợ cấp tỷ lệ thuận với số con của họ, nên chính hệ thống này đã trở thành một khoản “trợ cấp sinh sản” quan trọng. Hơn nữa, những người được khuyến khích sinh thêm con lại chính là những người ít có khả năng nuôi dưỡng chúng nhất; kết quả chỉ có thể là duy trì mãi tình trạng lệ thuộc vào phúc lợi, và trên thực tế, tạo ra những thế hệ bị giam hãm vĩnh viễn trong vòng xoáy của trợ cấp xã hội.

Trong những năm gần đây, đã có nhiều phong trào kêu gọi chính phủ cung cấp các trung tâm giữ trẻ để hỗ trợ những bà mẹ đi làm — với lý do rằng thị trường đã thất bại trong việc cung cấp dịch vụ thiết yếu như thế.

Tuy nhiên, vì bản chất của thị trường là đáp ứng những nhu cầu cấp thiết của người tiêu dùng, nên câu hỏi cần đặt ra là: vì sao thị trường lại dường như thất bại trong trường hợp cụ thể này? Câu trả lời là: chính phủ đã bao vây nguồn cung dịch vụ chăm sóc trẻ em bằng một mạng lưới những ràng buộc pháp lý nặng nề và tốn kém. Tóm lại, dù việc gửi con cho bạn bè hoặc người thân hoàn toàn hợp pháp — bất kể người đó là ai, hay căn hộ của họ ra sao — hoặc thuê một người hàng xóm chăm sóc một, hai đứa trẻ cũng không bị ngăn cấm, nhưng chỉ cần người bạn hoặc hàng xóm ấy mở rộng hoạt động lên một chút, Nhà nước sẽ lập tức can thiệp và trừng phạt nghiêm khắc. Thường thì, Nhà nước sẽ yêu cầu các trung tâm chăm sóc trẻ phải có giấy phép hoạt động, và từ chối cấp phép trừ khi cơ sở có y tá được chứng nhận túc trực toàn thời gian, có sân chơi đạt chuẩn tối thiểu, và diện tích cơ sở đủ lớn. Cùng với đó là hàng loạt những quy định phi lý và tốn kém khác — những điều mà chính phủ không hề áp đặt lên bạn bè, người thân, hàng xóm, hay ngay cả lên chính các bà mẹ. Nếu những rào cản này được gỡ bỏ, thị trường tự nhiên sẽ vận hành để đáp ứng nhu cầu.

Trong suốt mười ba năm qua, nhà thơ Ned O’Gorman đã điều hành một trung tâm chăm sóc trẻ em tư nhân ở Harlem với nguồn kinh phí rất hạn hẹp, nhưng nay ông đang đứng trước nguy cơ bị buộc phải đóng cửa bởi những quy định quan liêu do chính quyền Thành phố New York áp đặt. Dù chính quyền thừa nhận “sự tận tâm và hiệu quả” của trung tâm The Storefront do O’Gorman sáng lập, họ vẫn đe dọa phạt tiền và thậm chí buộc ông phải đóng cửa, nếu không thuê một nhân viên xã hội được nhà nước chứng nhận mỗi khi có từ năm đứa trẻ trở lên được trông giữ tại trung tâm. O’Gorman phẫn nộ nói:

Tại sao tôi lại phải bị buộc thuê một người chỉ vì họ có tờ giấy chứng nhận rằng mình đã học công tác xã hội và ‘đủ điều kiện’ điều hành trung tâm chăm sóc trẻ em? Nếu sau mười ba năm làm việc ở Harlem mà tôi vẫn chưa đủ điều kiện, thì ai mới đủ điều kiện đây?[31]

Ví dụ về dịch vụ chăm sóc trẻ em ban ngày cho thấy sự thật quan trọng về thị trường: nếu dường như thiếu hụt nguồn cung nhằm đáp ứng nhu cầu rõ ràng, thì xin hãy coi chính phủ là nguyên nhân của vấn đề. Hãy để thị trường tự vận hành, và sẽ không còn tình trạng thiếu hụt nhà trẻ, cũng như không còn tình trạng thiếu hụt nhà nghỉ, máy giặt, TV, hay bất kỳ vật dụng sinh hoạt hàng ngày nào khác.

Gánh nặng trợ cấp của nhà nước phúc lợi

Liệu nhà nước phúc lợi hiện đại có thực sự giúp người nghèo? Quan niệm phổ biến – ý tưởng đã thúc đẩy và duy trì toàn bộ hệ thống phúc lợi – là: nhà nước phúc lợi tái phân phối thu nhập và của cải từ người giàu sang người nghèo. Theo đó, hệ thống thuế lũy tiến lấy tiền từ người giàu, trong khi các chương trình phúc lợi và dịch vụ xã hội phân phối lại cho người nghèo. Tuy nhiên, ngay cả những người theo chủ nghĩa tự do, vốn là những người ủng hộ và góp phần duy trì nhà nước phúc lợi, cũng bắt đầu nhận ra rằng toàn bộ ý tưởng này chỉ là một huyền thoại được trân trọng mà thôi. Trên thực tế, các hợp đồng của chính phủ – đặc biệt là các hợp đồng quân sự – chuyển nguồn tiền thuế vào túi các tập đoàn được ưu ái và những công nhân công nghiệp có thu nhập cao. Luật lương tối thiểu lại gây ra tình trạng thất nghiệp nghiêm trọng, đặc biệt là trong số những người lao động nghèo nhất, ít kỹ năng hoặc ít được đào tạo nhất – ở miền Nam, trong các khu ổ chuột của người da đen vị thành niên, và trong số những người lao động khuyết tật. Bởi lẽ, mức lương tối thiểu không hề đảm bảo việc làm cho bất kỳ ai; nó chỉ ngăn cấm bằng luật pháp việc thuê lao động với mức lương mà người chủ có thể và sẵn sàng chi trả. Do đó, nó buộc phải tạo ra thất nghiệp. Các nhà kinh tế học đã chứng minh rằng việc tăng mức lương tối thiểu liên bang đã tạo ra khoảng cách việc làm giữa thanh thiếu niên da trắng và da đen, và đã đẩy tỷ lệ thất nghiệp của thanh thiếu niên da đen từ khoảng 8% trong thời kỳ hậu chiến lên hơn 35% hiện nay — một mức thất nghiệp còn thảm khốc hơn cả tỷ lệ chung trong Đại khủng hoảng hồi thập niên 1930 (20–25%).[32]

Chúng ta đã thấy cách mà giáo dục đại học công lập phân phối lại thu nhập từ người nghèo sang người giàu. Hàng loạt quy định cấp phép của chính phủ, len lỏi qua hết ngành nghề này đến ngành nghề khác, đã loại bỏ những lao động nghèo và ít kỹ năng khỏi cơ hội việc làm. Người ta cũng dần nhận ra rằng các chương trình cải tạo đô thị, vốn được cho là nhằm cải thiện nhà ở tồi tàn của người nghèo, trên thực tế lại phá dỡ chính nơi ở của họ, buộc họ phải sống trong những khu nhà chật chội hơn, khan hiếm hơn, tất cả vì lợi ích của những người thuê nhà giàu có được trợ cấp, các công đoàn xây dựng, nhà phát triển bất động sản, và các nhóm lợi ích doanh nghiệp ở trung tâm thành phố được ưu ái. Các công đoàn, từng là “con cưng” của phái tự do, nay lại bị nhìn nhận là lợi dụng đặc quyền của chính phủ để loại trừ những người lao động nghèo và các nhóm thiểu số. Chính sách nâng giá nông sản của chính phủ liên bang bòn rút người nộp thuế, đẩy giá thực phẩm ngày càng cao, gây tổn hại nặng nề cho người tiêu dùng nghèo, trong khi lợi ích lại rơi vào tay những nông dân giàu có có diện tích canh tác rộng lớn. (Vì nông dân được trả theo số lượng sản phẩm – cân hoặc giạ – nên chương trình hỗ trợ này chủ yếu mang lại lợi ích cho những nông dân giàu có; hơn nữa, vì họ thường được trả để không sản xuất, nên việc rút đất khỏi canh tác lại gây ra thất nghiệp trầm trọng cho tầng lớp nghèo nhất trong nông nghiệp – người thuê đất và công nhân nông trại.) Luật phân vùng tại các vùng ngoại ô đang phát triển mạnh của Hoa Kỳ ngăn cản người nghèo bằng biện pháp cưỡng chế hợp pháp – thường là người da đen đang tìm cách rời bỏ khu ổ chuột để theo các cơ hội việc làm mới ở vùng ven. Bưu điện Hoa Kỳ áp dụng mức giá độc quyền cao đối với thư hạng nhất mà công chúng sử dụng, nhằm trợ cấp cho việc phân phối báo chí và tạp chí. Cơ quan Quản lý Nhà ở Liên bang (FHA) trợ cấp các khoản thế chấp cho chủ nhà giàu có. Cục Khai hoang Liên bang trợ cấp nước tưới cho nông dân giàu ở miền Tây, qua đó tước đoạt nguồn nước của người nghèo thành thị và buộc họ phải trả phí nước cao hơn. Cơ quan Điện khí hóa Nông thôn và Cơ quan Quản lý Thung lũng Tennessee (TVA) lại trợ cấp điện cho nông dân khá giả, dân ngoại ô và các tập đoàn lớn. Như Giáo sư Brozen một cách nhận xét một cách mỉa mai:

Điện cho các tập đoàn nghèo khó như Tập đoàn Nhôm Hoa Kỳ và Công ty DuPont được trợ cấp nhờ quy chế miễn thuế của Cơ quan Quản lý Thung lũng Tennessee — trong đó 27% giá điện được dùng để trả thuế mà các công ty điện lực tư nhân phải chịu.[33]

Các quy định của chính phủ cũng tạo ra độc quyền và cartel trong hầu hết các ngành công nghiệp, từ đó đẩy giá lên cao, hạn chế sản xuất, thu hẹp lựa chọn cạnh tranh, và kìm hãm cải tiến sản phẩm (như trong ngành đường sắt, tiện ích công cộng, hàng không, và luật phân bổ dầu mỏ). Ủy ban Hàng không Dân dụng phân chia các tuyến bay cho doanh nghiệp được ưu ái, đồng thời ngăn cản hoặc loại bỏ những đối thủ nhỏ hơn khỏi thị trường. Luật phân bổ dầu mỏ ở cấp bang và liên bang quy định giới hạn tuyệt đối đối với sản lượng dầu thô, khiến giá dầu tăng cao, trong khi các hạn chế nhập khẩu lại giữ cho giá tiếp tục ở mức cao. Trên khắp cả nước, chính phủ trao độc quyền tuyệt đối cho từng khu vực đối với các công ty khí đốt, điện và điện thoại, bảo vệ họ khỏi cạnh tranh, đồng thời ấn định mức giá để đảm bảo lợi nhuận cố định. Ở đâu cũng vậy, trong mọi lĩnh vực, câu chuyện đều giống nhau: một sự bòn rút có hệ thống đối với đại đa số dân chúng, nhân danh cái gọi là “nhà nước phúc lợi”[34].

Hầu hết mọi người đều tin rằng hệ thống thuế của Mỹ về cơ bản đánh thuế người giàu cao hơn nhiều so với người nghèo, và đó là phương pháp tái phân phối thu nhập từ tầng lớp thu nhập cao sang tầng lớp thu nhập thấp. (Tất nhiên, còn có nhiều hình thức phân phối lại khác, ví dụ, từ người nộp thuế sang Lockheed hoặc General Dynamics.) Nhưng ngay cả thuế thu nhập liên bang, mà mọi người đều cho là “tiến bộ” (đánh thuế người giàu cao hơn nhiều so với người nghèo, với tầng lớp trung lưu nằm ở giữa), cũng không thực sự hoạt động theo cách đó khi chúng ta xem xét các khía cạnh khác của loại thuế này. Ví dụ, thuế An sinh Xã hội rõ ràng là “thoái lui”, vì nó là một loại thuế “nuôi dưỡng” người nghèo và tầng lớp trung lưu: một người có thu nhập cơ bản (8.000 đô la) phải trả đầy đủ số tiền thuế An sinh Xã hội - số tiền này đang tăng lên mỗi năm - như một người kiếm được 1.000.000 đô la một năm. Lợi nhuận từ vốn, chủ yếu thuộc về các cổ đông giàu có và chủ sở hữu bất động sản, đóng thuế ít hơn nhiều so với thuế thu nhập; các quỹ tín thác và quỹ từ thiện tư nhân được miễn thuế, và lãi suất thu được từ trái phiếu chính quyền tiểu bang và thành phố cũng được miễn thuế thu nhập liên bang. Chúng ta có ước tính sau đây về tỷ lệ phần trăm thu nhập được đóng góp, nó chung, bởi mỗi “nhóm thu nhập” trong thuế liên bang:

Năm 1965

Nhóm thu nhập

% thu nhập đóng cho thuế liên bang

Dưới 2.000 đô la

19%

2.000 – 4.000 đô la

16%

4.000 – 6.000 đô la

17%

6.000 – 8.000 đô la

17%

8.000 – 10.000 đô la

18%

10.000 – 15.000 đô la

19%

Trên 15.000 đô la

32%

Trung bình 22%
 

Nếu thuế liên bang khó có thể được coi là “tiến bộ”, thì tác động của thuế tiểu bang và địa phương gần như là thụt lùi một cách dữ dội. Thuế tài sản (a) đánh theo tỷ lệ, (b) chỉ đánh vào chủ sở hữu bất động sản, và (c) phụ thuộc vào sự thay đổi thất thường về chính trị của các thẩm định viên địa phương.

Thuế bán hàng và thuế tiêu thụ đặc biệt ảnh hưởng đến người nghèo nhiều hơn bất kỳ người nào khác. Sau đây là ước tính về tỷ lệ phần trăm thu nhập được trích ra, nói chung, bởi thuế tiểu bang và địa phương:

Năm 1965

Nhóm thu nhập

% thu nhập đóng cho thuế liên bang

Dưới 2.000 đô la

25%

2.000 – 4.000 đô la

11%

4.000 – 6.000 đô la

10%

6.000 – 8.000 đô la

9%

8.000 – 10.000 đô la

9%

10.000 – 15.000 đô la

9%

Trên 15.000 đô la

7%

Trung bình 9%

Sau đây là ước tính tổng hợp về tổng tác động của thuế - liên bang, bang và địa phương - đối với các nhóm thu nhập:

1965

Nhóm thu nhập

% thu nhập đóng cho tất cả các loại thuế[35]

Dưới 2.000 đô la

44%

2.000 – 4.000 đô la

27%

4.000 – 6.000 đô la

27%

6.000 – 8.000 đô la

26%

8.000 – 10.000 đô la

27%

10.000 – 15.000 đô la

27%

Trên 15.000 đô la

38%

Trung bình 31%

Những ước tính gần đây hơn (năm 1968) về tác động tổng cộng của thuế đối với tất cả các cấp chính quyền đã xác nhận rõ ràng sự kiện vừa nói, đồng thời cũng cho thấy gánh nặng thuế đối với các nhóm thu nhập thấp nhất tăng tương đối mạnh hơn hẳn trong ba năm:

1968

Nhóm thu nhập

% thu nhập đóng cho tất cả các loại thuế[36]

Dưới 2.000 đô la

50%

2.000 – 4.000 đô la

35%

4.000 – 6.000 đô la

31%

6.000 – 8.000 đô la

30%

8.000 – 10.000 đô la

29%

10.000 – 15.000 đô la

30%

15.000 – 25.000 đô la

30%

25.000 – 50.000 đô la

33%

50.000 đô la và cao hơn

45%

 

Nhiều nhà kinh tế học cố gắng giảm nhẹ tác động của những số liệu rõ ràng này bằng cách nói rằng, chẳng hạn, những người trong nhóm “dưới $2.000” nhận được nhiều tiền phúc lợi và các khoản thanh toán “chuyển giao” khác lớn hơn là số tiền họ đóng thuế; nhưng tất nhiên họ lờ đi một thực tế quan trọng là những người trong mỗi nhóm không phải là cùng một người nhận phúc lợi và đóng thuế. Nhóm người đóng thuế bị đánh thuế nặng nề để trợ cấp cho nhóm người nhận phúc lợi. Nói tóm lại, người nghèo (và tầng lớp trung lưu) bị đánh thuế để chi trả cho nhà ở công cộng được trợ cấp của những người nghèo khác—và các nhóm có thu nhập trung bình. Và chính người nghèo đang đi làm bị đánh một khoản làm người ta choáng váng để trả cho các khoản trợ cấp cho người nghèo sống nhờ phúc lợi.

Nước ta có rất nhiều khoản tái phân phối thu nhập: cho Lockheed, cho những người hưởng phúc lợi, ..v.v.., nhưng “người giàu” không bị đánh thuế để trả cho “người nghèo”. Quá trình tái phân phối này nằm trong các nhóm thu nhập; một số người nghèo buộc phải trả tiền cho những người nghèo khác.

Những ước tính thuế khác cũng xác nhận bức tranh đáng lo ngại này. Ví dụ, Quỹ Thuế ước tính rằng thuế liên bang, bang và địa phương chiếm 34% tổng thu nhập của những người có thu nhập dưới 3.000 đô la một năm[37].

Tất nhiên, mục đích của cuộc thảo luận này không phải là ủng hộ cơ cấu thuế thu nhập “thực sự” lũy tiến, tức là thực sự vắt kiệt người giàu, mà chỉ ra rằng nhà nước phúc lợi hiện đại, được quảng cáo rầm rộ là vắt kiệt người giàu để trợ cấp cho người nghèo, lại không làm như thế. Trên thực tế, vắt kiệt người giàu sẽ gây ra những hậu quả tai hại, không chỉ cho người giàu mà còn cho cả người nghèo và tầng lớp trung lưu. Bởi vì chính những người giàu mới là những người cung cấp nhiều tiết kiệm, vốn đầu tư, tầm nhìn xa trong kinh doanh và tài trợ cho đổi mới công nghệ, đã đưa Hoa Kỳ tới mức sống cao nhất - cho đại đa số người dân - so với bất kỳ quốc gia nào trong lịch sử. Việc kìm hãm người giàu không chỉ vô cùng vô đạo đức mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến chính những đức tính như tiết kiệm, tầm nhìn xa trong kinh doanh và đầu tư, những đức tính đã mang lại mức sống đáng kinh ngạc cho chúng ta. Làm như thế là thực sự là giết chết con gà đẻ trứng vàng.

Chính phủ có thể làm gì?

Vậy thì, chính phủ có thể làm gì để giúp đỡ người nghèo? Câu trả lời đúng duy nhất cũng là câu trả lời của chủ nghĩa tự do cá nhân: Hãy tránh sang một bên. Chính phủ hãy tránh sang một bên cho năng lượng sản xuất của tất cả các nhóm dân cư, giàu, trung lưu và nghèo, và kết quả sẽ là sự gia tăng đáng kể về phúc lợi và mức sống của tất cả mọi người, và đặc biệt là của người nghèo, những người được cho là được cái gọi là “nhà nước phúc lợi” giúp đỡ.

Có bốn cách chính mà chính phủ có thể tránh đường cho người dân Mỹ. Thứ nhất, chính phủ có thể bãi bỏ - hoặc ít nhất là giảm mạnh - tất cả các loại thuế, làm tê liệt năng lượng sản xuất, tiết kiệm, đầu tư và tiến bộ công nghệ. Trên thực tế, việc tạo ra việc làm và tăng lương do việc bãi bỏ các loại thuế này sẽ mang lại lợi ích cho các nhóm thu nhập thấp hơn bất kỳ người nào khác. Như Giáo sư Brozen đã chỉ ra:

Giảm bớt nỗ lực sử dụng quyền lực nhà nước nhằm thu hẹp bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, bất bình đẳng sẽ giảm nhanh hơn. Mức lương thấp sẽ tăng nhanh hơn với tỷ lệ tiết kiệm và hình thành vốn cao hơn, và bất bình đẳng sẽ giảm khi thu nhập của người lao động tăng lên[38].

Cách tốt nhất để giúp đỡ người nghèo là cắt giảm thuế và cho phép tiết kiệm, đầu tư và tạo việc làm diễn ra một cách tự do. Như Tiến sĩ F.A. Harper đã chỉ ra từ nhiều năm trước, đầu tư hiệu quả là “hoạt động từ thiện kinh tế vĩ đại nhất”. Harper viết:

Theo một quan điểm, việc chia sẻ miếng bánh mì được ủng hộ là phương pháp từ thiện. Quan điểm còn lại ủng hộ việc tiết kiệm và công cụ để sản xuất thêm nhiều ổ bánh mì, đó mới là hoạt động từ thiện kinh tế vĩ đại nhất.

Hai quan điểm này mâu thuẫn nhau vì hai phương pháp này loại trừ lẫn nhau trong việc chiếm dụng thời gian và phương tiện của một người trong tất cả những lựa chọn mà người đó đưa ra mỗi ngày…

Lý do cho sự khác biệt trong quan điểm này thực sự bắt nguồn từ những khái niệm khác nhau về bản chất của hoạt động kinh tế. Quan điểm trước xuất phát từ niềm tin cho rằng tổng số hàng hóa kinh tế là hằng số. Quan điểm sau được xây dựng dựa trên niềm tin cho rằng việc mở rộng sản xuất là có thể mà không có bất kỳ giới hạn nào.

Sự khác biệt giữa hai quan điểm ấy giống như sự khác biệt giữa cách nhìn hai chiều và ba chiều về quá trình sản xuất. Trong cách nhìn hai chiều, quy mô bị giới hạn tại một thời điểm nhất định; nhưng khi thêm vào chiều thứ ba – tức là yếu tố tiết kiệm và công cụ – thì tổng thể ấy có thể mở rộng vô hạn.

Toàn bộ lịch sử nhân loại phủ nhận sự tồn tại của tổng số hàng hóa kinh tế cố định. Lịch sử còn cho thấy rằng tiết kiệm và mở rộng công cụ lao động là cách duy nhất để đạt được bất kỳ sự gia tăng đáng kể nào[39].

Người cầm bút theo chủ nghĩa tự do cá nhân, Isabel Paterson, nói một cách hùng hồn:

Giữa người làm từ thiện tư nhân và nhà tư bản tư nhân hành động như vậy, xin lấy trường hợp của một người thực sự túng thiếu, mà không bị tàn tật, và giả sử rằng người làm từ thiện cho anh ta thức ăn, quần áo và chỗ ở - khi anh ta sử dụng chúng, anh ta vẫn ở vị trí như trước đây, ngoài việc anh ta có thể đã hình thành thói quen phụ thuộc. Nhưng giả sử một người không có động cơ từ thiện nào, chỉ đơn giản muốn công việc được thực hiện vì lý do riêng của mình, thuê người cần lao động và trả công. Người chủ đã không làm một việc tốt. Tuy nhiên, điều kiện của người được thuê thực sự đã thay đổi. Khác biệt quan trọng giữa hai hành động này là gì?

Đó là người chủ không từ thiện đã đưa người mà anh ta thuê trở lại dây chuyền sản xuất, trở lại dòng năng lượng lớn; trong khi người làm từ thiện chỉ có thể chuyển hướng năng lượng theo cách không thể quay trở lại sản xuất, và do đó, khả năng đối tượng được anh ta làm từ thiện tìm được việc làm là rất thấp…

Nếu xét đến vai trò đầy đủ của những người làm từ thiện chân thành, ngay từ khởi thuỷ, ta sẽ thấy rằng tất cả họ cùng nhau, bằng các hoạt động từ thiện nghiêm túc của mình, chưa bao giờ mang lại cho nhân loại một phần mười lợi ích từ những nỗ lực thường chỉ vì lợi ích cá nhân của Thomas Alva Edison, chưa kể đến những bộ óc vĩ đại đã xây dựng các nguyên tắc khoa học mà Edison áp dụng. Vô số nhà tư tưởng, nhà phát minh và nhà tổ chức tiên phong đã đóng góp cho sự thoải mái, sức khỏe và hạnh phúc của đồng loại—bởi vì đó không phải là mục tiêu của họ[40].

Thứ hai, và như một hệ quả tất yếu của việc giảm mạnh hoặc bãi bỏ thuế, sẽ dẫn đến việc cắt giảm tương ứng chi tiêu của chính phủ. Các nguồn lực kinh tế khan hiếm sẽ không còn bị hút vào các khoản chi tiêu lãng phí và không hiệu quả: vào chương trình không gian trị giá hàng tỷ đô la, vào các công trình công cộng, tổ hợp công nghiệp-quân sự, hay bất cứ thứ gì khác. Thay vào đó, những nguồn lực này sẽ được sử dụng để sản xuất hàng hóa và dịch vụ mà đại đa số người tiêu dùng mong muốn. Hàng hóa và dịch vụ lan tràn sẽ cung cấp hàng hóa mới và tốt hơn cho người tiêu dùng với giá thấp hơn hẳn. Chúng ta sẽ không còn phải chịu đựng các khoản trợ cấp và hợp đồng của chính phủ kém hiệu quả và làm giảm năng suất như trước nữa. Hơn nữa, hầu hết các nhà khoa học và kỹ sư của đất nước sẽ được giải phóng khỏi hoạt động nghiên cứu và chi tiêu lãng phí cho quân sự và các hoạt động khác của chính phủ và chuyển sang các hoạt động và phát minh hòa bình và hiệu quả, mang lại lợi ích cho người tiêu dùng của đất nước[41].

Thứ ba, nếu chính phủ cũng cắt giảm nhiều biện pháp đánh thuế người nghèo để trợ cấp cho người giàu, như những ví dụ mà chúng tôi đã nêu (giáo dục đại học, trợ cấp nông nghiệp, thủy lợi, Lockheed, v.v.), thì tự nó sẽ ngăn chặn việc chính phủ cố tình đánh thuế người nghèo. Bằng cách ngừng đánh thuế người nghèo để trợ cấp cho người giàu, chính phủ sẽ hỗ trợ người nghèo: hoạt động sản xuất của họ không phải mang thêm nhiều gánh năng nữa.

Cuối cùng, một trong những biện pháp quan trọng nhất mà chính phủ có thể giúp đỡ người nghèo là dỡ bỏ những rào cản trực tiếp do chính phủ đặt ra đối với khả năng sản xuất của họ. Do đó, luật lương tối thiểu khiến những người nghèo nhất và kém năng suất nhất mất việc làm. Các đặc quyền của chính phủ dành cho công đoàn cho phép họ ngăn cản người lao động nghèo và thuộc nhóm thiểu số có việc làm năng suất và lương cao. Và luật cấp phép, việc cấm cờ bạc, cùng các hạn chế khác của chính phủ ngăn cản người nghèo khởi nghiệp kinh doanh nhỏ và tự tạo việc làm. Do đó, chính phủ đã áp đặt những hạn chế nặng nề đối với việc bán hàng rong ở khắp mọi nơi, từ việc cấm hoàn toàn đến việc thu phí cấp phép cao. Bán hàng rong là con đường kinh điển mà những người nhập cư, nghèo khó và thiếu vốn, có thể trở thành doanh nhân và cuối cùng trở thành những doanh nhân lớn. Nhưng giờ đây, con đường này đã bị cắt đứt - chủ yếu là để trao đặc quyền độc quyền cho các cửa hàng bán lẻ của mỗi thành phố, những người lo sợ rằng họ sẽ mất lợi nhuận nếu phải đối mặt với sự cạnh tranh rất khốc liệt từ những người bán hàng rong trên phố.

Ví dụ điển hình về cách chính phủ cản trở hoạt động sản xuất của người nghèo là trường hợp bác sĩ phẫu thuật thần kinh Thomas Matthew, người sáng lập tổ chức tự lực của người da đen NEGRO, tổ chức phát hành trái phiếu để tài trợ cho hoạt động của mình. Vào giữa những năm 1960, Bác sĩ Matthew, bất chấp sự phản đối của chính quyền thành phố New York, đã thành lập một bệnh viện liên chủng tộc thành công tại khu vực người da đen ở Jamaica, thuộc Quận Queens. Tuy nhiên, ông sớm nhận ra rằng giao thông công cộng ở Jamaica quá tệ hại đến mức dịch vụ vận chuyển hoàn toàn không đáp ứng được nhu cầu của bệnh nhân và nhân viên bệnh viện. Nhận thấy dịch vụ xe buýt không đáp ứng được nhu cầu, Bác sĩ Matthew đã mua một vài chiếc xe buýt và thiết lập một tuyến xe buýt thường xuyên tại Jamaica, một dịch vụ thường xuyên, hiệu quả và thành công. Vấn đề là Bác sĩ Matthew không có giấy phép thành phố để vận hành tuyến xe buýt—đặc quyền này chỉ dành cho các công ty độc quyền được bảo hộ nhưng kém hiệu quả. Bác sĩ Matthew, vốn người rất thông minh, phát hiện ra rằng thành phố không cho phép xe buýt không có giấy phép được thu phí, đã miễn phí dịch vụ xe buýt của mình. Tuy nhiên, bất kỳ hành khách nào muốn đều có thể mua một trái phiếu công ty trị giá 25 xu thay vì trả phí mỗi khi họ đi xe buýt.

Dịch vụ xe buýt của Matthew thành công đến mức ông đã tiến hành thiết lập một tuyến xe buýt khác ở Harlem; nhưng chính tại thời điểm này, vào đầu năm 1968, chính quyền Thành phố New York đã lo sợ và ra tay đàn áp. Chính quyền kiện ra tòa và buộc cả hai tuyến xe buýt phải ngừng hoạt động vì hoạt động không có giấy phép.

Vài năm sau, Tiến sĩ Matthew và các đồng nghiệp của ông đã chiếm một tòa nhà bỏ hoang ở kgu Harlem thuộc sở hữu của chính quyền thành phố. (Chính quyền thành phố New York là “chủ những ngôi nhà ổ chuột lớn nhất thành phố, họ có nhiều tòa nhà hữu ích bị bỏ hoang do không nộp thuế bất động sản vì quá cao và đang mục nát, trở nên vô dụng và không thể ở được.) Trong tòa nhà này, Bác sĩ Matthew đã thành lập một bệnh viện giá rẻ - vào thời điểm chi phí bệnh viện tăng vọt và thiếu hụt bệnh viện. Cuối cùng, thành phố cũng đã đóng cửa bệnh viện này, với lý do “vi phạm quy định về phòng cháy chữa cháy”. Hết lần này đến lần khác, ở từng khu vực, vai trò của chính quyền là ngăn cản các hoạt động kinh tế của người nghèo. Không có gì ngạc nhiên khi Bác sĩ Matthew được một quan chức da trắng của chính quyền thành phố New York hỏi làm thế nào để hỗ trợ tốt nhất cho các dự án tự lực của người da đen, Matthew trả lời: “Hãy đừng cản đường chúng tôi, để chúng tôi thử làm một việc nào đó.”

Một ví dụ khác về cách thức hoạt động của chính phủ diễn ra cách đây vài năm, khi chính quyền liên bang và thành phố New York lớn tiếng tuyên bố rằng họ sẽ cải tạo một nhóm 37 tòa nhà ở Harlem. Nhưng thay vì làm theo thông lệ thông thường của khu vực tư nhân và trao hợp đồng cải tạo cho từng ngôi nhà riêng lẻ, chính phủ lại trao một hợp đồng cho cả gói 37 tòa nhà. Bằng cách này, chính phủ đảm bảo rằng các công ty xây dựng nhỏ do người da đen làm chủ sẽ không thể tham gia đấu thầu, và do đó, hợp đồng trúng thầu đương nhiên thuộc về một công ty lớn do người da trắng làm chủ. Một ví dụ khác: Năm 1966, Cục Quản lý Doanh nghiệp Nhỏ (SBA) liên bang đã tự hào công bố chương trình khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ mới do người da đen làm chủ. Nhưng chính phủ lại đặt ra một số hạn chế quan trọng đối với các khoản vay. Trước hết, họ quyết định rằng người vay nào cũng phải ở “mức nghèo”. Giờ đây, vì những người rất nghèo không có khả năng tự thành lập doanh nghiệp, nên hạn chế này đã loại trừ nhiều doanh nghiệp nhỏ của những chủ sở hữu có thu nhập tương đối thấp - chỉ những doanh nghiệp có khả năng trở thành doanh nhân nhỏ mới được tham gia. Thêm vào đó, SBA New York đã bổ sung thêm một hạn chế: Tất cả người da đen tìm kiếm các khoản vay như vậy phải “chứng minh nhu cầu thực sự trong cộng đồng của họ” nhằm lấp đầy một “khoảng trống kinh tế” dễ nhận thấy - nhu cầu và khoảng trống cần được chứng minh để làm hài lòng các quan chức ở xa, rất xa bối cảnh kinh tế thực tế[42].

Công trình nghiên cứu chưa được công bố của Viện Nghiên cứu Chính sách (Institute for Policy Studies) của Washington, D.C. cung cấp cho thước đo thú vị về việc liệu chính phủ có đang giúp đỡ hay gây thiệt hại cho người nghèo trong “nhà nước phúc lợi” hay không. Cuộc điều tra đã được thực hiện về dòng tiền ước tính của chính phủ (liên bang và quận) vào khu ổ chuột của người da đen thu nhập thấp Shaw-Cardozo ở Washington, D.C., so với dòng tiền mà khu vực này đóng cho chính phủ. Trong năm tài chính 1967, khu vực Shaw-Cardozo, dân số 84.000 người (trong đó 79.000 người là người da đen) với thu nhập gia đình trung bình là 5.600 đô la một năm. Tổng thu nhập cá nhân của cư dân trong khu vực này trong năm đó lên tới 126,5 triệu đô la. Tổng giá trị phúc lợi mà chính phủ rót vào quận (từ các khoản trợ cấp phúc lợi đến chi tiêu ước tính cho các trường công lập) trong năm tài chính 1967 ước tính khoảng 45,7 triệu đô la. Một khoản trợ cấp hào phóng, chiếm gần 40% tổng thu nhập của Shaw-Cardozo? Có lẽ vậy, nhưng để bù lại, chúng ta phải bù đắp tổng số tiền thuế chảy ra từ Shaw-Cardozo, ước tính gần đúng nhất là 50 triệu đô la—một khoản chảy ra từ khu ổ chuột thu nhập thấp này là 4,3 triệu đô la! Liệu có thể vẫn duy trì được quan điểm cho rằng việc xóa bỏ toàn bộ cơ cấu nhà nước phúc lợi khổng lồ, kém hiệu quả sẽ gây thiệt hại cho người nghèo được không?[43]

Như thế, chính phủ có thể giúp đỡ người nghèo - và phần còn lại của xã hội - tốt nhất bằng cách tránh sang một bên: xóa bỏ mạng lưới thuế khoá, các khoản trợ cấp, những hoạt động kém hiệu quả và đặc quyền độc quyền rộng lớn và làm xã hội tê liệt. Như Giáo sư Brozen tóm tắt trong bài phân tích về “nhà nước phúc lợi”:

Nhà nước thường là công cụ tạo ra của cải cho một số ít người mà nhiều người khác phải trả giá. Thị trường đã tạo ra của cải cho nhiều người mà ngay cả một số ít người cũng không phải trả giá. Ngay từ thời La Mã cổ đại, nhà nước vẫn không hề thay đổi cách thức hoạt động với bánh mì và rạp xiếc dành cho quần chúng, mặc dù hiện này nó đã giả vờ cung cấp cho dân chúng nền giáo dục và y tế cũng như sữa và những trình diễn nghệ thuật miễn phí. Nhà nước vẫn là nguồn gốc của đặc quyền độc quyền và quyền lực cho một số ít người đằng sau vỏ bọc là cung cấp phúc lợi cho đa số - phúc lợi sẽ dồi dào hơn nếu các chính trị gia không tước đoạt các phương tiện mà họ sử dụng để tạo ra ảo tưởng rằng họ quan tâm đến các cử tri của mình[44].

Thuế thu nhập âm

Thật không may là, xu hướng gần đây—được nhiều người (với những sửa đổi không đáng kể), từ Tổng thống Nixon đến Milton Friedman bên cánh hữu và nhiều người bên cánh tả, ủng hộ—là bãi bỏ hệ thống phúc lợi hiện nay nhưng không theo hướng tự do mà hoàn toàn ngược lại. Xu hướng mới này là “thu nhập hàng năm được đảm bảo” hay “thuế thu nhập âm”, hay “Kế hoạch Hỗ trợ Gia đình” của Tổng thống Nixon. Sau khi trích dẫn những điểm kém hiệu quả, bất bình đẳng và thủ tục hành chính của hệ thống hiện nay, thu nhập hàng năm được đảm bảo sẽ giúp trợ cấp thất nghiệp trở nên dễ dàng, “hiệu quả” và tự động: Cơ quan thuế thu nhập sẽ trả tiền hàng năm cho các gia đình có thu nhập dưới một mức thu nhập cơ bản nhất định—khoản trợ cấp thất nghiệp tự động này, tất nhiên, sẽ được tài trợ bằng cách đánh thuế các gia đình có thu nhập cao hơn mức cơ bản. Chi phí ước tính của chương trình tưởng chừng đơn giản và gọn gàng này được cho là chỉ vài tỷ đô la mỗi năm.

Nhưng có một điểm cực kỳ quan trọng: chi phí được ước tính dựa trên giả định rằng tất cả mọi người - những người hưởng trợ cấp thất nghiệp phổ quát cũng như những người tài trợ - sẽ tiếp tục làm việc với cường độ như trước đây. Nhưng giả định này đặt ra câu hỏi. Bởi vì vấn đề chính là tác động gây nản lòng vô cùng nghiêm trọng mà thu nhập hàng năm được đảm bảo sẽ gây ra cho cả người đóng thuế và người nhận trợ cấp.

Yếu tố duy nhất cứu hệ thống phúc lợi hiện nay khỏi thảm họa chính là thủ tục hành chính rườm rà và sự kỳ thị liên quan đến việc nhận trợ cấp. Người nhận trợ cấp vẫn mang trong mình định kiến ​​tâm lý, mặc dù đã giảm bớt trong những năm gần đây, và họ vẫn phải đối mặt với bộ máy quan liêu hoạt động kém hiệu quả, vô cảm và rối rắm. Nhưng thu nhập hàng năm được đảm bảo, chính xác là bằng cách làm cho trợ cấp thất nghiệp hiệu quả, dễ dàng và tự động, sẽ loại bỏ những trở ngại lớn, những yếu tố gây nản lòng trước “chức năng cung cấp” phúc lợi, và sẽ dẫn đến làn sóng đổ xô đến trợ cấp thất nghiệp được đảm bảo. Hơn nữa, mọi người giờ đây sẽ coi trợ cấp xã hội mới là một “quyền” tự động, thay vì là một đặc quyền hay quà tặng, và mọi định kiến ​​sẽ được xóa bỏ.

Ví dụ, giả sử tuyên bố là “ngưỡng nghèo” là 4.000 đô la một năm, và tất cả những người có thu nhập dưới ngưỡng đó, sau khi khai thuế thu nhập, sẽ tự động nhận được khoản chênh lệch từ Chú Sam. Những người không có thu nhập sẽ được chính phủ cấp cho 4.000 đô la, những người có thu nhập 3.000 đô la sẽ được cấp 1.000 đô la, v.v. Rõ ràng là sẽ không có lý do thực sự nào để những người có thu nhập dưới 4.000 đô la một năm tiếp tục làm việc. Tại sao anh ta phải làm việc, khi người hàng xóm không có việc làm của anh ta sẽ có cùng thu nhập với anh ta? Tóm lại, thu nhập ròng từ công việc khi đó sẽ bằng không, và toàn bộ những người thu nhập dưới 4.000 đô la sẽ bỏ việc và được hưởng trợ cấp xã hội “hợp pháp”.

Nhưng chưa hết; còn những người có thu nhập 4.000 đô la, hay hơn một chút, hoặc thậm chí hơn một chút, thì sao? Người có thu nhập 4.500 đô la một năm sẽ nhanh chóng nhận ra rằng gã hàng xóm lười biếng từ chối làm việc sẽ được chính phủ cấp mỗi năm 4.000 đô la ; trong khi thu nhập ròng của anh ta từ bốn mươi giờ làm việc chăm chỉ mỗi tuần sẽ chỉ là 500 đô la một năm. Vì vậy, anh ta sẽ nghỉ việc và hưởng trợ cấp thất nghiệp với mức thuế âm. Có thể nói tương tự như thế đối với những người có thu nhập 5.000 đô la một năm, v.v.

Quá trình này chưa kết thúc. Khi tất cả những người có thu nhập dưới 4.000 đô la và thậm chí cao hơn 4.000 đô la nghỉ việc và hưởng trợ cấp thất nghiệp, tổng số tiền trợ cấp thất nghiệp sẽ tăng đến mức chóng mặt, và trợ cấp thất nghiệp chỉ có thể được tài trợ bằng cách đánh thuế nặng hơn những người có thu nhập cao vẫn tiếp tục làm việc. Nhưng sau đó, thu nhập ròng sau thuế của họ sẽ giảm mạnh, cho đến khi nhiều người trong số họ cũng sẽ nghỉ việc và hưởng trợ cấp thất nghiệp. Hãy cùng xem xét một người đàn ông kiếm được 6.000 đô la một năm. Ban đầu, anh ta đứng trước khoản thu nhập ròng từ là 2.000 đô la, và nếu anh ta phải trả, giả sử, 500 đô la một năm để tài trợ cho trợ cấp thất nghiệp của những người không làm việc, thì thu nhập ròng sau thuế của anh ta sẽ chỉ còn 1.500 đô la một năm. Nếu sau đó anh ta phải trả thêm 1.000 đô la để tài trợ cho sự gia tăng nhanh chóng của những người hưởng trợ cấp thất nghiệp khác, thu nhập ròng của anh ta sẽ giảm xuống còn 500 đô la và anh ta sẽ chuyển sang hưởng trợ cấp thất nghiệp. Do đó, kết luận hợp lý của khoản thu nhập hàng năm được đảm bảo sẽ là một vòng xoáy luẩn quẩn dẫn đến thảm họa, hướng đến mục tiêu hợp lý và bất khả thi là hầu như không ai có việc làm, và tất cả mọi người đều hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Ngoài tất cả những điều vừa nói, có một vài điểm quan trọng cần lưu ý. Trên thực tế, tất nhiên, trợ cấp thất nghiệp, một khi được ấn định ở mức 4.000 đô la, sẽ không duy trì ở mức đó; áp lực không thể cưỡng lại từ những người hưởng phúc lợi và các nhóm gây áp lực khác sẽ buộc mỗi năm phải nâng mức cơ sở này lên, do đó, tạo ra vòng xoáy luẩn quẩn và thảm họa kinh tế sẽ tới gần hơn. Trên thực tế, thu nhập hàng năm được đảm bảo sẽ không thay thế hệ thống phúc lợi chắp vá hiện có, như những người ủng hộ theo phái bảo thủ hy vọng; nó sẽ chỉ được thêm vào các chương trình hiện có. Ví dụ, đây chính xác là những hiện tượng đã xảy ra với các chương trình cứu trợ tuổi già của các bang. Điểm chính được thảo luận về An sinh Xã hội liên bang của chương trình New Deal là nó sẽ thay thế hiệu quả các chương trình cứu trợ tuổi già chắp vá hiện có của các bang. Tất nhiên là, trên thực tế, nó không làm được như vậy, và trợ cấp tuổi già hiện nay cao hơn hẳn so với những năm 1930. Một cấu trúc An sinh Xã hội ngày càng phát triển chỉ đơn giản là được thêm lên trên các chương trình hiện có. Trên thực tế, cuối cùng, lời tán dương của Tổng thống Nixon đối với phe bảo thủ rằng những người khỏe mạnh nhận trợ cấp mới sẽ bị buộc phải làm việc là trò bịp rất trắng trợn. Trước hết, họ chỉ cần tìm được công việc “phù hợp”, và kinh nghiệm chung của các cơ quan trợ cấp thất nghiệp nhà nước là hầu như không bao giờ tìm được việc làm “phù hợp”[45].

Các chương trình khác nhau về thu nhập hàng năm được đảm bảo không thể thực sự thay thế được những tệ nạn mà mọi người đều thừa nhận của hệ thống phúc lợi; chúng chỉ càng khiến chúng ta lún sâu hơn vào những tệ nạn đó. Giải pháp khả thi duy nhất là giải pháp của chủ nghĩa tự do cá nhân: bãi bỏ trợ cấp phúc lợi để ủng hộ quyền tự do và hành động tự nguyện cho tất cả mọi người, giàu hay nghèo đều như nhau.


[1] The Statistical Abstract of the United States, trong các ấn bản hàng năm khác nhau, [nó] cung cấp dữ liệu cơ bản về cả nước. Đối với các số liệu địa phương và một số phân tích trước đó, xem Henry Hazlitt, Man vs. the Welfare State (New Rochelle, N.Y.: Arlington House, 1969), pp. 59–60.

[2] Xem Roger A. Freeman, “The Wayward Welfare State,” Modern Age (Fall, 1971): 401–02.  Trong công trình nghiên cứu chi tiết theo từng bang, các giáo sư Brehm và Saving ước tính rằng hơn 60% số người hưởng trợ cấp xã hội ở mỗi bang vào năm 1951 có thể được giải thích bởi mức trợ cấp xã hội của bang đó; đến cuối thập niên 1950, tỷ lệ này đã tăng lên trên 80%. C.T. Brehm and T.R. Saving, “The Demand for General Assistance Payments,” American Economic Review (December 1964): 1002–18.

[3] Governor’s Commission on the Los Angeles Riots, Violence in the City—An End or a Beginning? (December 2, 1965), p. 72; trích trong in Edward C. Banfield, The Unheavenly City (Boston: Little, Brown, 1970), p. 288.

[4] Irving Kristol, “Welfare: The Best of Intentions, the Worst of Results,” Atlantic Monthly (August 1971): 47.

[5] Charity Organisation Society, 15th Annual Report (1883), p. 54; trích trong Charles Loch Mowat, The Charity Organisation Society, 1869–1913 (London: Methuen, 1961), p. 35.

[6] Charity Organisation Society, 2nd Annual Report (1870), p. 5; trích trong Ibid., p. 36.

[7] Welfare Plan of the Church of Jesus Christ of Latter-Day Saints (The General Church Welfare Committee, 1960), p. 1.

[8]Ibid., p. 4

[9] Ibid.

[10] Ibid., p. 5

[11] Ibid., p. 19.

[12] Ibid., p. 22

[13]Ibid., p. 25.

[14] Ibid., pp. 25, 46.

[15] Ibid., pp. 46, 48.

[16] New York Times, April 13, 1970.

[17] Nadine Brozan, in New York Times, February 14, 1972.

[18] Daniel Rosenblatt, “Barriers to Medical Care for the Urban Poor,” in A. Shostak and W. Gomberg, eds., New Perspectives on Poverty (Englewood Cliffs, N.J.: Prentice-Hall, 1965), pp. 72–73; trích trong Banfield, The Unheavenly City, pp. 286–87.

[19] See Banfield, The Unheavenly City, pp. 210–16, 303. So sánh tỷ lệ chết ở trẻ sơ sinh trong O.W. Anderson, “Infant Mortality and Social and Cultural Factors: Historical Trends and Current Patterns,” trong E.G. Jaco, ed., Patients, Physicians, and Illness (New York: The Free Press, 1958), pp. 10–22; nghiên cứu bảy thành phố trong R.M. Woodbury, Causal factors in Infant Mortality: A Statistical Study Based on Investigation in Eight Cities, U.S. Children’s Bureau Publication #142 (Washington, D.C.: U.S. Government Printing Office, 1925), p. 157. Vế tuồi thọ của người Ireland và người Do Tái xem James J. Walsh, “Irish Mortality in New York and Pennsylvania,” Studies: An Irish Quarterly Review (December 1921): 632. Về sự cần thiết phải thay đổi giá trị và lối sống nhằm giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh, xem C.V. Willie and W.B. Rothney, “Racial, Ethnic and Income Factors in the Epidemiology of Neonatal Mortality,” American Sociological Review (August 1962): 526.

[20] Michael J. Piore, “Public and Private Responsibilities in On-the-Job Training of Disadvantaged Workers,” M.I.T. Department of Economics Working Paper #23 (June 1968). Trích trong Banfield, The Unheavenly City, pp. 105, 285.

[21] Peter B. Doeringer, Ghetto Labor Markets–Problems and Programs, Harvard Institute of Economic Research, Discussion Paper #33 (June 1968), p.9; trích trong Banfield, The Unheavenly City, pp. 112, 285–86.

[22] Ibid., p. 105. Also p. 112.

[23] Alvin W. Gouldner, “The Secrets of Organizations,” in The Social Welfare Forum, Proceedings of the National Conference on Social Welfare (New York: Columbia University Press, 1963), p. 175; trích trong Banfield, The Unheavenly City, pp. 221–22, 305.

[24] 4Ibid., p. 221

[25] Thomas Mackay, Methods of Social Reform (London: John Murray, 1896), p. 13.

[26] Ibid., pp. 38–39.

[27] Ibid., pp. 259–60.

[28] Ibid., pp. 268–69.

[29] Mowat, The Charity Organisation Society, 1869–1913, pp. 1–2.

[30] Estelle James, “Review of The Economics of Vocational Rehabilitation,” American Economic Review (June 1966): 642; also see Yale Brozen, “Welfare Without the Welfare State,” The Freeman (December 1966): 50–51

[31] “Poet and Agency at Odds Over His Day-Care Center,” New York Times (April 17, 1978): B2.

[32]Trong số nhiều công trình nghiên cứu, xem Yale Brozen and Milton Friedman, The Minimum Wage: Who Pays? (Washington, D.C.: Free Society Association, April 1966); and John M. Peterson and Charles T. Stewart, Jr., Employment Effects of Minimum Wage Rates (Washington, D.C.: American Enterprise Institute, August 1969).

[33] Brozen, “Welfare Without the Welfare State,” pp. 48–49.

[34] Ngoài ra, xem thêm Yale Brozen, “The Untruth of the Obvious” The Freeman (June 1968): 328–40. Xem thêm Yale Brozen, “The Revival of Traditional Liberalism,” New Individualist Review (Spring, 1965): 3–12; Sam Peltzman, “CAB: Freedom from Competition,” New Individualist Review (Spring, 1963): 16–23; Martin Anderson, The Federal Bulldozer (Cambridge, Mass.: MIT Press, 1964). Một dẫn nhập cho câu chuyện về giá dầu mỏ là Hendrik S. Houthakker, “No Use for Controls,” Barrons (November 8, 1971): 7–8.

[35] Muốn biết các đánh giá, mời đọc see Joseph A. Pechman, “The Rich, the Poor, and the  Taxes They Pay,” Public Interest (Fall, 1969): 33.

[36] R.A. Herriott and H.P. Miller, “The Taxes We Pay,” The Conference Board Record (May 1971): 40..

[37] Xem William Chapman, “Study Shows Taxes Hit Poor,” New York Post (February 10, 1971): U.S. News (December 9, 1968); Rod Manis, Poverty: A Libertarian View (Los Angeles: Rampart College, n.d.); Yale Brozen, “Welfare Without the Welfare State.”

[38] Brozen, “Welfare Without the Welfare State,” p. 47.

[39] F.A. Harper, “The Greatest Economic Charity,” trong M. Sennholz, ed., On Freedom and Free Enterprise (Princeton, N.J.: D. Van Nostrand, 1956), p. 106.

[40] Isabel Paterson, The God of the Machine (New York: G.P. Putnam’s Sons, 1943), pp. 248–50.

[41]  Về việc nhiều nhà khoa học và kĩ chuyển sang làm việc cho chính phủ trong những năm gần đay, mời đọc H.L. Nieburg, trong Name of Science (Chicago: Quadrangle, 1966); về sự kém hiệu quả phân bổ sai của các tổ hợp công nghiệp quân sự, xin mời đọc Seymour Melman, ed., The War Economy of the United States (New York: St. Martin’s Press, 1971).

[42] Về các vụ việc liên quan đến Matthew và Cơ quan Quản lý Doanh nghiệp Nhỏ (SBA), mời đọc Jane Jacobs, The Economy of Cities (New York: Random House, 1969), pp. 225–28.

[43] Số liệu lấy từ công trình nghiên cứu chưa được công bố của Earl F. Mellor, “Public Goods and Services: Costs and Benefits, A Study of the Shaw-Cardozo Area of Washington, D.C.” (trình bày cho Policy Studies, Washington, D.C., October 31, 1969.

[44] Brozen, “Welfare Without the Welfare State,” p. 52.

[45] Phê bình lý thuyết xuất sắc về bảo đảm thu nhập hằng năm, thuế thu nhập âm và các đề án của Nixon, xem Hazlitt, Man vs. Welfare State, trang 62–100. Phê bình thực chứng đầy đủ và cập nhật về mọi kế hoạch và thử nghiệm bảo đảm thu nhập hằng năm, bao gồm cả đề án cải cách phúc lợi của Tổng thống Carter, xem Martin Anderson, Welfare: the Political Economy of Welfare Reform in the United States (Stanford, California: Hoover Institution).

Dịch giả:
Phạm Nguyên Trường