Vì một nền tự do mới - Chương 3: Nhà nước

Vì một nền tự do mới - Chương 3: Nhà nước

Nhà nước như là kẻ xâm lược  

Do đó, trọng tâm của tư tưởng tự do cá nhân là phản đối mọi hành vi xâm phạm quyền sở hữu của mỗi cá nhân đối với chính bản thân họ cũng như đối với những vật chất mà họ đã tự nguyện sở hữu. Mặc dù việc chống lại cá nhân hay băng nhóm tội phạm dĩ nhiên là cần thiết, nhưng điều này không phải là điểm riêng biệt của học thuyết tự do cá nhân, vì hầu hết mọi người và mọi trường phái tư tưởng đều phản đối việc sử dụng bạo lực bừa bãi chống lại con người và tài sản.

Tuy nhiên, ngay cả trong lĩnh vực được hầu hết mọi người thừa nhận—bảo vệ con người trước tội phạm—những người theo phái tự do cá nhân cũng có quan điểm khác biệt. Trong xã hội tự do cá nhân, sẽ không tồn tại “công tố viên khu vực” truy tố tội phạm nhân danh “xã hội” vốn không hề tồn tại, ngay cả khi đi ngược lại ý chí của nạn nhân. Chính nạn nhân sẽ là người tự quyết định có khởi kiện hay không. Hơn nữa, như mặt kia của cùng một đồng xu, trong thế giới tự do cá nhân, nạn nhân sẽ có thể trực tiếp khởi kiện kẻ xâm phạm mà không cần phải thuyết phục công tố viên rằng vụ việc đáng để xử lý. Ngoài ra, trong hệ thống hình phạt của thế giới tự do cá nhân, trọng tâm sẽ không bao giờ là việc “xã hội” bỏ tù kẻ phạm tội như hiện nay; thay vào đó, trọng tâm tất yếu phải là buộc kẻ phạm tội hoàn trả và bồi thường cho nạn nhân. Hệ thống hiện nay—trong đó nạn nhân không được bồi thường, mà ngược lại còn phải đóng thuế để nuôi việc giam giữ kẻ đã tấn công mình—sẽ trở thành vô nghĩa hiển nhiên trong thế giới đặt trọng tâm vào việc bảo vệ quyền sở hữu, và do đó bảo vệ nạn nhân.

Hơn nữa, mặc dù hầu hết những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân không phải là những người theo chủ nghĩa hòa bình, họ cũng sẽ không tham gia vào hệ thống hiện hành để can thiệp vào quyền được theo chủ nghĩa hòa bình của người dân. Giả sử Jones, một người chủ trương hòa bình, bị Smith, một tên tội phạm, tấn công. Nếu Jones, do niềm tin của mình, phản đối việc tự vệ bằng bạo lực và từ đó phản đối cả việc truy tố tội phạm, thì ông ta sẽ đơn giản là không truy tố, và sự việc chấm dứt ở đó. Sẽ không có bộ máy chính phủ nào đứng ra truy tố hay xét xử tội phạm ngay cả khi trái ngược với ý nguyện của nạn nhân. Nhưng sự khác biệt then chốt giữa những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân và những người khác không nằm ở lĩnh vực tội phạm cá nhân; sự khác biệt cốt lõi nằm ở quan niệm của họ về vai trò của Nhà nước — chính phủ. Bởi vì, theo họ, Nhà nước chính là kẻ xâm lược cao nhất, vĩnh viễn, và được tổ chức tinh vi nhất nhằm chống lại con người cùng tài sản của đại chúng. Tất cả các quốc gia, ở bất cứ đâu, dù dân chủ, độc tài hay quân chủ, dù mang màu đỏ, trắng, xanh hay nâu, đều như vậy cả.

Nhà nước! Từ trước đến nay, chính phủ cùng những kẻ cầm quyền và điều hành luôn được xem như đứng trên luật đạo đức chung của nhân loại. “Hồ sơ Lầu Năm Góc”[1] chỉ là một ví dụ gần đây trong vô vàn những trường hợp trong suốt chiều dài của lịch sử, khi những con người — vốn trong sạch và đáng kính trong đời sống riêng tư — lại trơ trẽn dối trá trước công chúng. Vì sao? Vì “lý do Nhà nước”. Phục vụ Nhà nước được xem là có thể bào chữa cho mọi hành động vốn sẽ bị coi là vô đạo đức hoặc tội ác nếu do một “công dân” bình thường thực hiện. Điểm đặc trưng của những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân là họ áp dụng luật đạo đức chung một cách điềm tĩnh và không khoan nhượng đối với cả những người hành động trong tư cách thành viên của bộ máy Nhà nước. Họ không chấp nhận ngoại lệ. Trong suốt nhiều thế kỷ, Nhà nước (hay đúng hơn là những cá nhân trong vai trò “người của chính phủ”) đã khoác lên các hành vi tội phạm của mình lớp ngôn từ hoa mỹ. Suốt nhiều thế kỷ, Nhà nước đã phạm tội giết người hàng loạt và gọi đó là “chiến tranh”; rồi lại tôn vinh cuộc thảm sát hàng loạt ấy. Suốt nhiều thế kỷ, Nhà nước đã bắt dân chúng làm nô lệ trong các đội quân vũ trang của mình và gọi đó là “nghĩa vụ quân sự”. Suốt nhiều thế kỷ, Nhà nước đã dùng lưỡi lê để cướp bóc nhân dân và gọi đó là “thuế”. Thực tế, nếu bạn muốn biết những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân nhìn nhận Nhà nước và các hành vi của nó ra sao, thì chỉ cần nghĩ về Nhà nước như một băng đảng tội phạm — mọi thái độ của họ sẽ tự nhiên trở nên dễ hiểu.

Ví dụ, xin xem xét điều gì thực sự tạo nên sự khác biệt rõ rệt giữa chính phủ và tất cả các tổ chức khác trong xã hội. Nhiều nhà chính trị học và xã hội học đã làm lu mờ sự khác biệt then chốt này, và gọi tất cả các tổ chức, nhóm hội đều là có thứ bậc, có cấu trúc, mang tính “chính phủ”, v.v. Chẳng hạn, những người theo thuyết không chính quyền cánh tả sẽ phản đối cả chính phủ lẫn các tổ chức tư nhân, ví dụ như các tập đoàn, với lý do rằng cả hai đều “có tính tinh hoa” và “cưỡng chế” như nhau. Nhưng người theo chủ nghĩa tự do cá nhân “cánh hữu” thì không phản đối bất bình đẳng, và khái niệm “cưỡng chế” của họ chỉ áp dụng đối với việc sử dụng bạo lực. Người theo chủ nghĩa tự do cá nhân nhận thấy có sự khác biệt then chốt giữa chính phủ — dù là trung ương, bang hay địa phương — và tất cả các thiết chế khác trong xã hội. Hay đúng hơn, họ thấy có hai điểm khác biệt quan trọng. Thứ nhất, mọi cá nhân hay nhóm người khác đều có thu nhập từ sự thanh toán tự nguyện: hoặc bằng sự đóng góp, tặng biếu tự nguyện (như quỹ cộng đồng địa phương hay câu lạc bộ cầu lông), hoặc bằng mua bán tự nguyện hàng hóa hay dịch vụ trên thị trường (như chủ cửa hàng tạp hóa, cầu thủ bóng chày, nhà sản xuất thép, v.v.). Chỉ riêng chính phủ mới có thu nhập bằng cưỡng chế và bạo lực — nghĩa là bằng đe dọa trực tiếp tịch thu hoặc bỏ tù nếu không chịu nộp. Khoản thu cưỡng bức đó được gọi là “thuế.” Khác biệt thứ hai là: ngoài những kẻ tội phạm ngoài vòng pháp luật, chỉ có chính phủ mới có thể sử dụng nguồn lực của mình để gây bạo lực lên chính người dân của mình hoặc bất kỳ thần dân nào khác; chỉ có chính phủ mới có quyền cấm đoán phim ảnh khiêu dâm, ép buộc thực hiện nghi lễ tôn giáo, hoặc bỏ tù những ai bán hàng hóa với mức giá cao hơn cái mà chính phủ cho là phù hợp. Tóm lại, cả hai khác biệt ấy có thể gói gọn lại như sau: trong xã hội, chỉ có chính phủ mới được trao quyền xâm phạm quyền sở hữu của thần dân, dù để thu thuế, áp đặt quy chuẩn đạo đức, hay giết hại những kẻ bất đồng.

Hơn nữa, bất kỳ chính phủ nào, kể cả những chính phủ ít chuyên chế nhất, vẫn luôn thu phần lớn thu nhập của mình từ quyền đánh thuế mang tính cưỡng bức. Và trong lịch sử, phần lớn các vụ bắt làm nô lệ và giết chóc trong toàn bộ lịch sử nhân loại đều bắt nguồn từ bàn tay của chính phủ. Và, bởi chúng ta đã thấy rằng trọng tâm căn bản của những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân là chống lại mọi hành vi xâm lược nhắm vào quyền con người và tài sản, nên họ tất yếu chống lại thiết chế Nhà nước — kẻ thù cố hữu, áp đảo, và quan trọng nhất của những quyền quý giá ấy.

Có một lý do khác khiến cho sự xâm lược của Nhà nước trở nên quan trọng hơn hẳn so với sự xâm lược của tư nhân — ngoài việc Nhà nước có tổ chức chặt chẽ hơn và khả năng huy động nguồn lực tập trung mà những kẻ cầm quyền có thể áp đặt. Lý do ấy là: không hề có bất kỳ sự kiểm soát nào đối với sự cướp bóc của Nhà nước, trong khi đối với kẻ cướp đường hay Mafia thì vẫn còn có sự kiểm soát. Để tự vệ trước tội phạm tư nhân, chúng ta có thể cầu đến Nhà nước và cảnh sát; nhưng ai sẽ bảo vệ chúng ta khỏi chính Nhà nước? Không ai hết. Một điểm khác biệt then chốt khác của Nhà nước là Nhà nước buộc phải nắm độc quyền dịch vụ bảo vệ; Nhà nước tự cho mình quyền độc quyền thực sự về bạo lực và quyền đưa ra quyết định cuối cùng trong xã hội. Thí dụ, nếu chúng ta không đồng ý với các phán quyết của tòa án Nhà nước, thì cũng chẳng còn cơ quan bảo vệ nào khác để chúng ta có thể tìm đến.

Đúng là, ít nhất là ở Hoa Kỳ, chúng ta có một bản Hiến pháp nhằm đặt ra những giới hạn nghiêm ngặt đối với một số quyền lực của chính phủ. Nhưng, như thế kỷ vừa qua đã cho thấy, không có bản hiến pháp nào có thể tự diễn giải hay tự thi hành; nó phải được con người diễn giải. Và nếu quyền diễn giải tối hậu Hiến pháp được trao cho Tòa án Tối cao — vốn cũng là một cơ quan của chính phủ — thì hệ quả tất yếu là Tòa án sẽ tiếp tục đóng dấu phê chuẩn cho những quyền lực ngày càng mở rộng hơn của chính phủ. Hơn nữa, những nguyên tắc “kiểm soát và đối trọng” hay “phân chia quyền lực” vốn được nhiều người ca ngợi, kỳ thực lại vô cùng mong manh, bởi vì, xét cho cùng, tất cả những sự phân chia ấy đều nằm trong cùng một chính phủ và đều được điều hành bởi cùng một tập hợp những kẻ cai trị.

Một trong những lý thuyết gia chính trị lỗi lạc nhất của Hoa Kỳ, John C. Calhoun, đã viết như thể lời tiên tri về khuynh hướng cố hữu của Nhà nước trong việc phá vỡ những giới hạn của hiến pháp thành văn như sau:

 

Một bản hiến pháp thành văn chắc chắn có nhiều ưu điểm lớn, nhưng sẽ là một sai lầm nghiêm trọng nếu cho rằng chỉ cần ghi vào đó những điều khoản nhằm hạn chế và giới hạn quyền lực của chính phủ, mà không trao cho những người được bảo vệ bởi các điều khoản ấy những phương tiện để buộc người ta tuân thủ, thì đã đủ để ngăn chặn phe đa số và đảng cầm quyền, không để họ lạm dụng quyền lực của mình. Là phe nắm giữ chính quyền, họ tất nhiên sẽ ủng hộ các quyền lực mà hiến pháp trao cho và phản đối những hạn chế vốn được đặt ra để kiềm chế họ. Là đảng lớn và đảng thống trị, họ sẽ chẳng bao giờ cần đến những hạn chế này để bảo vệ mình…

 

Ngược lại, phe nhỏ hơn hoặc yếu thế hơn sẽ đi theo chiều hướng ngược lại, coi những hạn chế ấy là thiết yếu để tự bảo vệ mình trước phe cầm quyền. Nhưng nếu không có phương tiện nào để buộc phe đa số phải tuân thủ các hạn chế đó, thì giải pháp duy nhất còn lại cho phe yếu thế là một cách diễn giải nghiêm ngặt hiến pháp… Đối lại, phe đa số sẽ chủ trương một cách diễn giải phóng khoáng — tức là trao cho các điều khoản hiến pháp ý nghĩa rộng nhất mà ngôn từ có thể cho phép. Khi ấy, sẽ là diễn giải chống lại diễn giải: một bên thì thu hẹp, một bên thì mở rộng quyền lực của chính phủ đến mức tối đa. Nhưng cách diễn giải nghiêm ngặt của phe yếu thế liệu có giá trị gì, khi phe kia nắm trong tay toàn bộ quyền lực của chính phủ để thực thi quan điểm của họ, còn phe này thì bị tước đoạt mọi phương tiện để áp đặt quan điểm của mình? Trong cuộc đấu tranh chênh lệch như thế, kết cục là điều không cần nghi ngờ: phe ủng hộ hạn chế sẽ bị khuất phục… Và kết quả cuối cùng của cuộc tranh giành này sẽ là sự lật đổ hiến pháp… các hạn chế sẽ dần bị xóa bỏ, và chính phủ sẽ biến thành một chính quyền với quyền lực vô hạn.

 

Việc phân chia chính phủ thành các bộ phận riêng biệt và độc lập về mặt hình thức cũng sẽ không ngăn được kết quả này… Bởi vì, từng bộ phận và tất cả các bộ phận — và dĩ nhiên, toàn bộ chính phủ — đều nằm dưới sự kiểm soát của đa số. Quá rõ ràng, không cần giải thích thêm, rằng việc chỉ phân chia quyền lực giữa các cơ quan hay đại diện của chính phủ cũng chẳng làm được gì nhiều nhằm ngăn cản xu hướng áp bức và lạm dụng quyền lực[2].

 

Nhưng tại sao lại phải lo lắng về sự yếu kém của những giới hạn áp đặt lên quyền lực của chính phủ? Đặc biệt là trong “chế độ dân chủ” — cụm từ từng được những người theo chủ nghĩa tự do ở Mỹ lặp lại trong thời kỳ hoàng kim của họ, trước giữa những năm 1960, khi sự hoài nghi bắt đầu len lỏi vào viễn tưởng tự do: “Chẳng phải chúng ta chính là chính phủ sao?” Trong cụm từ “chúng ta là chính phủ”, từ tập hợp hữu dụng “chúng ta” đã trở thành tấm màn ngụy trang tư tưởng, phủ lên thực tại bóc lột trần trụi của đời sống chính trị. Bởi nếu quả thật chúng ta là chính phủ, thì bất cứ điều gì chính phủ làm với một cá nhân không những là công bằng và không chuyên chế, mà còn là “tự nguyện” từ phía người đó. Nếu chính phủ gánh một khoản nợ công khổng lồ và phải trả bằng cách đánh thuế nhóm người này để chu cấp cho nhóm người khác, thì gánh nặng đó được che giấu khéo léo bằng câu nói thản nhiên: “chúng ta nợ chính mình” (nhưng ai là “chúng ta” và ai là “chính mình”?). Nếu chính phủ bắt lính, hay tống giam một người vì bất đồng chính kiến, thì hóa ra anh ta chỉ là đang “tự làm khổ mình,” và thế là chẳng có gì sai trái cả. Theo lối lý luận này, những người Do Thái bị chính quyền Đức Quốc xã sát hại không phải là nạn nhân của một cuộc tàn sát; họ hẳn đã “tự sát,” vì họ là chính phủ (được “bầu chọn theo lối dân chủ”), và như vậy, bất cứ điều gì chính phủ làm với họ đều là hành động họ tự nguyện làm mà thôi. Những người ủng hộ chính phủ — những kẻ chỉ nhìn Nhà nước như một tác nhân nhân từ và tự nguyện của công chúng — không thể nào thoát khỏi những lối lý luận kỳ quái như vậy.

Và vì thế, phải rút ra kết luận rằng: “chúng ta” không phải là chính phủ; và chính phủ không phải là “chúng ta.” Chính phủ không “đại diện” cho đa số dân chúng theo bất kỳ nghĩa chính xác nào. Nhưng giả như nó có đại diện đi nữa, giả như 90% dân chúng đồng lòng giết hại hoặc bắt làm nô lệ 10% còn lại, thì đó vẫn là giết người và nô lệ, chứ không thể gọi là tự sát hay “tự nguyện bị nô lệ” từ phía thiểu số bị áp bức. Tội ác vẫn là tội ác, xâm phạm quyền lợi vẫn là xâm phạm, bất kể có bao nhiêu công dân đồng tình với áp bức. Đa số không phải là bất khả xâm phạm; ngay cả đám đông hành hình cũng là một “đa số” trong lãnh địa của chính họ.

Nhưng trong khi — giống như trong đám đông hành hình — đa số có thể trở nên bạo ngược và hung hãn một cách chủ động, thì tình trạng bình thường và thường trực của Nhà nước lại là chế độ quả đầu: sự thống trị của một nhóm tinh hoa mang tính cưỡng bức đã giành được quyền kiểm soát bộ máy Nhà nước. Có hai lý do cơ bản: thứ nhất, bất bình đẳng và phân công lao động vốn có trong bản chất con người, vốn sản sinh ra “Quy luật Sắt của Chế độ Quả Đầu” trong mọi hoạt động của nhân loại; và thứ hai, bản chất ký sinh của chính doanh nghiệp Nhà nước.

Chúng ta đã nói rằng người theo chủ nghĩa cá nhân không phải là người theo chủ nghĩa bình đẳng. Một phần nguyên do là vì họ nhìn thấy rõ sự đa dạng và cá tính to lớn trong nhân loại — một sự đa dạng có cơ hội nở rộ và phát triển khi nền văn minh và mức sống tiến bộ. Các cá nhân khác biệt về năng lực và sở thích, cả trong lẫn giữa các ngành nghề; và do đó, trong mọi ngành nghề và lĩnh vực đời sống — dù là sản xuất thép hay chỉ tổ chức một câu lạc bộ bridge — vai trò lãnh đạo trong hoạt động ấy tất yếu sẽ rơi vào tay một số ít người năng nổ và có năng lực nhất, trong khi đa số còn lại sẽ tự định vị mình thành những nhân viên bình thường. Sự thật này đúng cho mọi hoạt động, dù mang lại lợi ích hay tai hoạ (như trong các tổ chức tội phạm). Quả thật, nhà xã hội học người Ý Robert Michels đã phát hiện ra “Quy luật Sắt của Chế độ Quả Đầu”: ông nhận thấy rằng Đảng Dân chủ Xã hội Đức, mặc dù trên diễn ngôn luôn cam kết với chủ nghĩa bình đẳng, nhưng trên thực tế lại vận hành một cách cứng nhắc theo mô hình quả đầu và phân cấp.

Lý do cơ bản thứ hai cho sự cai trị quả đầu của Nhà nước là bản chất ký sinh của nó — thực tế là nó sống cưỡng bức trên thành quả sản xuất của người dân. Để sự cai trị này thành công, thành quả của sự bóc lột ký sinh phải được giới hạn trong một thiểu số tương đối nhỏ; nếu không, một cuộc cướp bóc vô nghĩa — mọi người cướp của nhau — sẽ chẳng đem lại lợi ích cho bất cứ người nào. Bản chất cưỡng bức và ký sinh của Nhà nước được mô tả rõ ràng nhất bởi nhà xã hội học vĩ đại người Đức cuối thế kỷ XIX, Franz Oppenheimer. Ông chỉ ra rằng có hai — và chỉ hai — phương tiện loại trừ lẫn nhau để con người có được của cải. Một là phương thức sản xuất và trao đổi tự nguyện, tức là thị trường tự do, mà Oppenheimer gọi là “phương tiện kinh tế”; phương thức kia là cướp bóc bằng bạo lực, mà ông gọi là “phương tiện chính trị”. Phương tiện chính trị rõ ràng là ký sinh, vì nó đòi hỏi phải có sản xuất trước đó để kẻ bóc lột mới có cái để tịch thu; và nó làm hao hụt thay vì gia tăng tổng sản lượng xã hội. Từ đó, Oppenheimer định nghĩa Nhà nước là “tổ chức của các phương tiện chính trị” — tức là sự hệ thống hóa quy trình săn mồi trên một lãnh thổ nhất định[3].

Tóm lại, tội phạm tư nhân, ngay cả trong trường hợp tồi tệ nhất, cũng chỉ là lẻ tẻ và bất định; sự ký sinh ấy phù du, và đường đời ký sinh mang tính cưỡng bức có thể bị cắt đứt bất kỳ lúc nào bởi sự kháng cự của nạn nhân. Ngược lại, Nhà nước cung cấp một kênh hợp pháp, có trật tự, có hệ thống để chiếm đoạt tài sản của những người sản xuất; nó làm cho đường đời của giai cấp ký sinh trong xã hội trở nên chắc chắn, an toàn và tương đối “hòa bình”. Nhà văn theo phái tự do cá nhân vĩ đại Albert Jay Nock đã viết một cách đầy hình tượng như sau: “Nhà nước tuyên bố và thực thi độc quyền tội phạm... Nó cấm giết người tư nhân, nhưng lại tự mình tổ chức giết người trên quy mô khổng lồ. Nó trừng phạt hành vi trộm cắp tư nhân, nhưng lại vô đạo đức trong việc vươn tay chiếm đoạt bất cứ thứ gì nó muốn, dù là tài sản của công dân hay của người ngoại quốc.”[4]

Ban đầu, dĩ nhiên, thật đáng kinh ngạc khi có người coi thuế là cướp bóc, và do đó, coi chính phủ là một băng cướp. Nhưng bất kỳ người nào còn khăng khăng cho rằng thuế, theo một nghĩa nào đó, là khoản thanh toán “tự nguyện” thì chỉ cần thử xem điều gì sẽ xảy ra nếu họ quyết định không nộp thuế. Nhà kinh tế học vĩ đại Joseph Schumpeter, vốn dĩ hoàn toàn không phải là người theo chủ nghĩa tự do cá nhân, đã viết: “Nhà nước sống dựa vào nguồn thu vốn được tạo ra trong lĩnh vực tư nhân cho các mục đích tư nhân, và rồi bị cưỡng ép chuyển hướng sang những mục đích khác bằng sức mạnh chính trị. Lý thuyết diễn giải thuế theo phép so sánh với hội phí câu lạc bộ, hoặc với việc trả tiền mua dịch vụ của, chẳng hạn, một bác sĩ, chỉ cho thấy phần này của khoa học xã hội đã xa rời thói quen tư duy khoa học đến mức nào.”[5] Người theo trường phái “thực chứng pháp lý” (legal positivist) lỗi lạc ở Vienna, Hans Kelsen, đã tìm cách—trong chuyên luận Lý thuyết chung về Luật pháp và Nhà nước—thiết lập một lý thuyết chính trị và biện minh cho Nhà nước trên cơ sở nghiêm ngặt “khoa học” và không dựa vào bất kỳ giá trị, quan điểm đạo đức, hay phán đoán chủ quan nào. Ngay từ đầu cuốn sách, ông đã đi đến điểm mấu chốt, cũng là trở ngại nan giải (pons asinorum) của triết học chính trị: Điều gì phân biệt sắc lệnh của Nhà nước với mệnh lệnh của một băng cướp? Câu trả lời của Kelsen chỉ đơn giản là: sắc lệnh của Nhà nước là “có hiệu lực”, và rồi ông tiếp tục tiến hành một cách thản nhiên, không cần bận tâm đến việc định nghĩa hay giải thích khái niệm “hiệu lực” ấy. Quả thật, sẽ rất hữu ích cho những ai không theo chủ nghĩa tự do cá nhân khi suy ngẫm về câu hỏi này: Làm sao có thể định nghĩa thuế để làm cho nó khác với cướp bóc?

Đối với nhà không chính quyền cá nhân chủ nghĩa vĩ đại của thế kỷ XIX—đồng thời là một luật sư hiến pháp—Lysander Spooner, thì việc tìm ra câu trả lời chẳng có gì khó khăn. Phân tích của Spooner về Nhà nước như một băng cướp có lẽ là bản phân tích đanh thép nhất từng được viết ra:

 

Đúng là theo lý thuyết về Hiến pháp của chúng ta, tất cả các loại thuế đều được nộp một cách tự nguyện; rằng chính phủ của chúng ta giống như một công ty bảo hiểm tương hỗ, do người dân tự nguyện cùng nhau tham gia...

 

Nhưng lý thuyết ấy hoàn toàn khác với thực tế. Thực tế là chính phủ, chẳng khác nào một tên cướp đường, nói với một người: “Đưa tiền đây, hoặc là mất mạng.” Và nhiều, nếu không muốn nói là hầu hết, các khoản thuế đều được nộp dưới sức ép của lời đe dọa ấy.

 

Chính phủ quả thực không chặn đường một người ở nơi hoang vắng, bất ngờ nhảy ra từ ven đường, không chĩa súng lục vào đầu anh ta rồi lục túi lấy tiền. Nhưng sự cướp bóc ấy vẫn là cướp bóc, và còn đê tiện, đáng hổ thẹn hơn nhiều.

 

Tên cướp đường tự mình gánh lấy trách nhiệm, hiểm nguy và tội ác từ hành động của hắn. Hắn không giả vờ rằng mình có quyền chính đáng đối với tiền của bạn, hay nói rằng hắn định dùng nó vì lợi ích của bạn. Hắn không giả vờ là gì khác ngoài một tên cướp. Hắn chưa đến mức trơ tráo mà tự xưng là một “người bảo vệ”, rồi biện hộ rằng hắn lấy tiền của người ta trái ý họ chỉ để có thể “bảo vệ” những kẻ lữ hành u mê, vốn hoàn toàn có khả năng tự bảo vệ mình, hoặc chẳng mấy coi trọng cái hệ thống bảo vệ kỳ quặc của hắn. Hắn đủ tỉnh táo để không thốt ra những lời ngụy biện như thế. Hơn nữa, sau khi lấy tiền, hắn bỏ đi, đúng như bạn mong muốn. Hắn không cố bám theo bạn trên đường, trái với ý muốn của bạn; không tự cho mình là “chủ quyền” hợp pháp của bạn, chỉ vì đã “bảo vệ” bạn. Hắn cũng không tiếp tục “bảo vệ” bạn bằng cách bắt bạn phải cúi đầu phục tùng; buộc bạn làm điều này, cấm bạn làm điều kia; cướp thêm tiền của bạn bất cứ khi nào hắn thấy thuận tiện hoặc thích thú; rồi gán cho bạn nhãn phản loạn, phản quốc, kẻ thù của đất nước, và bắn hạ bạn không chút thương tiếc nếu bạn dám kháng cự. Hắn quá “quân tử” để không sa vào những trò bịp bợm, sỉ nhục và đê tiện như thế. Tóm lại, ngoài việc cướp của bạn, hắn không còn tìm cách biến bạn thành kẻ bị lừa hay thành nô lệ của hắn[6].

 

Nếu Nhà nước là một băng nhóm cướp bóc, vậy thì ai cấu thành nên Nhà nước? Rõ ràng, giới tinh hoa cầm quyền gồm có: (a) bộ máy toàn thời gian – các ông vua, chính trị gia và quan chức – những kẻ trực tiếp điều hành và vận hành Nhà nước; và (b) các nhóm tìm cách thao túng để giành đặc quyền, trợ cấp và lợi ích từ Nhà nước. Phần còn lại của xã hội chính là những kẻ bị trị. Một lần nữa, chính John C. Calhoun đã nhìn thấy một cách sáng tỏ rằng: cho dù quyền lực của chính phủ có nhỏ bé đến đâu, cho dù gánh nặng thuế khóa có nhẹ đến đâu, hay việc phân bổ thuế khoá có bình đẳng đến mức nào, thì bản chất của chính phủ vẫn tất yếu tạo ra trong xã hội hai giai cấp bất bình đẳng và đối kháng: những người nộp thuế (the “tax-payers”), và những kẻ tiêu thụ thuế (the “tax-consumers”). Hãy giả sử chính phủ áp đặt một khoản thuế thấp, dường như được phân bổ đều, để chi cho việc xây dựng một con đập. Chính hành động này đã lấy tiền của đại đa số dân chúng để chuyển cho những kẻ “tiêu thụ thuế”: quan chức quản lý dự án, nhà thầu và công nhân xây dựng đập, v.v. Và phạm vi quyền quyết định của chính phủ càng mở rộng bao nhiêu, thì gánh nặng tài chính và sự bất bình đẳng giả tạo giữa hai giai tầng ấy – như Calhoun chỉ ra – sẽ càng lớn bấy nhiêu.

 

So với tổng thể cộng đồng, chỉ có một số ít – chính là các cơ quan và nhân viên chính phủ – là những kẻ duy nhất được hưởng tiền thuế. Bất kỳ khoản nào bị lấy đi từ cộng đồng dưới hình thức thuế, nếu không bị thất thoát, thì đều chảy về túi họ dưới dạng chi tiêu hay giải ngân. Hai yếu tố này – đánh thuế và giải ngân – tạo thành toàn bộ hoạt động tài chính của chính phủ. Chúng tương ứng với nhau: khoản nào được lấy đi từ cộng đồng dưới danh nghĩa thuế thì sẽ được chuyển cho một bộ phận của cộng đồng dưới danh nghĩa chi tiêu. Nhưng vì những người nhận chỉ chiếm một phần nhỏ trong cộng đồng, nên khi xét cả hai khâu của quy trình tài chính, hệ quả tất yếu là tạo ra sự bất bình đẳng giữa những người nộp thuế và những người được hưởng lợi từ tiền thuế. Và cũng không thể khác được, trừ khi khoản thuế mà mỗi cá nhân phải đóng lại được trả về nguyên vẹn cho chính họ dưới hình thức giải ngân – điều này sẽ khiến toàn bộ quy trình trở thành vô nghĩa và phi lý…

 

Do đó, kết quả tất yếu của hoạt động tài chính bất bình đẳng của chính phủ là chia cộng đồng thành hai giai tầng lớn: một bên là những người thực sự đóng thuế và, dĩ nhiên, gánh vác trọn vẹn gánh nặng duy trì chính phủ; còn bên kia là những kẻ nhận được khoản thuế ấy thông qua chi tiêu, và trên thực tế, được chính phủ nuôi dưỡng. Nói ngắn gọn hơn: cộng đồng bị phân chia thành người nộp thuế và người tiêu thụ thuế.

 

Hệ quả của sự phân chia này là đặt hai giai tầng ấy vào thế đối kháng trực tiếp trong toàn bộ hoạt động tài chính và chính sách liên quan của chính phủ. Bởi lẽ, thuế và chi tiêu càng lớn bao nhiêu, thì lợi ích của một bên càng tăng lên bấy nhiêu – trong khi tổn thất của bên kia cũng càng lớn bấy nhiêu, và ngược lại. Vậy thì, hệ quả của mỗi sự gia tăng là: bên này ngày càng giàu có và củng cố thế lực, còn bên kia ngày càng nghèo túng và suy yếu[7].

 

Nếu ở khắp mọi nơi, các quốc gia đều do một nhóm đầu sỏ săn mồi điều hành, vậy thì làm sao họ có thể duy trì quyền cai trị đối với đại đa số dân chúng? Câu trả lời, như triết gia David Hume đã chỉ ra từ hơn hai thế kỷ trước, là: về lâu dài, mọi chính phủ – dù độc tài đến đâu – đều phải dựa vào sự ủng hộ của đa số thần dân. Tất nhiên, điều này không khiến các chính phủ ấy trở thành “tự nguyện”, bởi chính sự tồn tại của thuế và những quyền lực cưỡng chế khác đã phơi bày mức độ cưỡng ép mà Nhà nước buộc phải áp dụng. Sự ủng hộ của đa số cũng không nhất thiết đồng nghĩa với sự tán thành hăng hái, nhiệt tình; nó có thể chỉ là sự thuận theo thụ động, một sự cam chịu. Cụm từ nổi tiếng “cái chết và thuế” hàm ý sự chấp nhận thụ động và cam chịu trước tính tất yếu được mặc định là của Nhà nước cùng hệ thống thuế khóa của nó.

Những kẻ tiêu thụ thuế – tức những nhóm được hưởng lợi từ hoạt động của Nhà nước – tất nhiên sẽ nhiệt tình, chứ không hề thụ động, trong việc ủng hộ cơ chế của Nhà nước. Nhưng đó chỉ là thiểu số. Vậy làm thế nào để bảo đảm sự phục tùng và chấp thuận của đại đa số dân chúng? Đây chính là vấn đề cốt lõi của triết học chính trị – ngành triết học bàn về chính trị, tức sự thực thi bạo lực được thể chế hóa: bí ẩn của sự tuân phục dân sự. Vì sao người ta lại tuân theo các sắc lệnh và những hành vi áp bức của giới tinh hoa cầm quyền? Nhà văn bảo thủ James Burnham – vốn đối lập với những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân – đã nêu vấn đề một cách rất rõ ràng: ông thừa nhận rằng không hề có lý do chính đáng nào cho sự tuân phục dân sự. Ông viết: “Cả nguồn gốc lẫn sự biện minh cho chính phủ đều không thể được giải thích hoàn toàn bằng lý trí… tại sao tôi phải chấp nhận nguyên tắc cha truyền con nối, chấp nhận dân chủ, hay bất kỳ nguyên tắc chính danh nào khác? Tại sao một nguyên tắc lại có thể biện minh cho sự cai trị của kẻ đó đối với tôi?” Và chính câu trả lời của Burnham cũng khó lòng thuyết phục ai: “Tôi chấp nhận nguyên tắc, vâng…bởi vì tôi chấp nhận, bởi vì đó vốn là như vậy, và từ xưa đã là như vậy.”[8] Nhưng giả sử một người nào đó không chấp nhận nguyên tắc ấy thì sao? Khi ấy, “cách” sẽ là gì? Và tại sao đại đa số thần dân lại đồng thuận chấp nhận?

 

Nhà nước và giới trí thức

 

Câu trả lời là: ngay từ thuở sơ khai của Nhà nước, những kẻ cai trị luôn tìm đến – và coi đó là chỗ dựa tất yếu cho quyền lực của mình – liên minh với giới trí thức trong xã hội. Quần chúng không tự tạo ra được những ý tưởng trừu tượng của riêng họ, cũng không thực sự suy nghĩ độc lập về những ý tưởng ấy; họ thụ động đi theo những gì được tầng lớp trí thức chấp nhận và truyền bá - những người này trở thành “người định hình dư luận” hiệu quả trong xã hội. Và bởi vì Nhà nước rất cần định hình dư luận có lợi cho giới cầm quyền, nên chính điều này đã tạo nền móng vững chắc cho liên minh lâu đời giữa giới trí thức và tầng lớp thống trị của Nhà nước. Liên minh ấy được xây dựng trên nguyên tắc có đi có lại (quid proquo): một mặt, giới trí thức gieo rắc vào quần chúng ý tưởng rằng Nhà nước và những kẻ cai trị là khôn ngoan, tốt đẹp, đôi khi thậm chí thần thánh, và ít nhất là tất yếu cũng như vượt trội hơn bất kỳ lựa chọn khả dĩ nào khác. Đổi lại, Nhà nước đưa giới trí thức vào hàng ngũ tinh hoa cầm quyền, ban cho họ quyền lực, địa vị, uy tín và bảo đảm về vật chất. Hơn nữa, chính giới trí thức cũng là lực lượng cần thiết để điều hành guồng máy quan liêu và “lập kế hoạch” cho kinh tế lẫn xã hội.

Trước thời hiện đại, tầng lớp tư tế đặc biệt hùng mạnh trong vai trò kẻ phụng sự bằng trí tuệ cho Nhà nước, củng cố liên minh khủng khiếp giữa thủ lĩnh chiến binh và pháp sư, giữa Ngai vàng và Bàn thờ. Nhà nước “thiết lập” Giáo hội, trao cho nó quyền lực, uy tín và của cải vơ vét từ thần dân. Đổi lại, Giáo hội phong cho Nhà nước sự chính danh thiêng liêng và truyền bá sự chính danh đó vào tâm thức quần chúng. Trong thời hiện đại, khi các lập luận thần quyền đã mất nhiều sức hấp dẫn trước công chúng, giới trí thức lại khoác lên mình tấm áo của đội ngũ “chuyên gia” khoa học. Họ không ngừng nhồi nhét vào  đầu óc công chúng bất hạnh rằng các vấn đề chính trị – cả đối nội lẫn đối ngoại – đều quá phức tạp, một người bình thường không thể hiểu hay lo liệu được. Chỉ có Nhà nước cùng tập đoàn trí thức chuyên gia, nhà hoạch định, khoa học gia, kinh tế gia và “quản lý an ninh quốc gia” mới có thể giải quyết nổi những vấn đề ấy. Vai trò của quần chúng, ngay cả trong “các chế độ dân chủ”, chỉ còn là phê chuẩn và chấp thuận các quyết định của tầng lớp cầm quyền “sành sỏi”.

Trong lịch sử, sự kết hợp giữa Giáo hội và Nhà nước, giữa Ngai vàng và Bàn thờ, luôn là công cụ hiệu quả nhất để tạo ra sự tuân phục và ủng hộ của thần dân. Burnham đã chứng thực sức mạnh của huyền thoại và bí ẩn trong việc khơi dậy sự ủng hộ khi ông viết: “Thời xưa, trước khi những ảo tưởng của khoa học làm băng hoại trí tuệ truyền thống, những người sáng lập Thành phố được coi là các vị thần hoặc á thần.”[9] Đối với giới tăng lữ có uy quyền, nhà cai trị hoặc được Thiên Chúa xức dầu, hoặc – trong trường hợp chế độ chuyên chế tuyệt đối của nhiều triều đại phương Đông – thậm chí chính là Thượng đế; bởi vậy, bất kỳ sự hoài nghi hay chống đối nào đối với vương quyền đều bị coi là phạm thượng.

Trong nhiều thế kỷ, Nhà nước và giới trí thức đã sử dụng vô số vũ khí tư tưởng tinh vi để khiến thần dân chấp nhận sự cai trị của mình. Một trong những vũ khí lợi hại nhất chính là sức mạnh của truyền thống. Càng kéo dài, sự cai trị của một Nhà nước hay triều đại càng khiến vũ khí này thêm mạnh mẽ; bởi khi đó, Triều đại X hay Nhà nước Y dường như mang trên vai sức nặng của hàng thế kỷ truyền thống. Thờ cúng tổ tiên trở thành một phương tiện không mấy tinh tế để vun trồng sự tôn thờ đối với các bậc quân vương đời trước. Sức mạnh của truyền thống, tất nhiên, lại được củng cố bởi thói quen lâu đời, vốn khẳng định trong tâm thức thần dân tính đúng đắn và chính đáng của nền cai trị họ mà đang sống dưới quyền nó. Về điểm này, nhà lý luận chính trị Bertrand De Jouvenel viết:

 

Lý do cốt lõi của sự tuân phục là nó đã trở thành một thói quen của loài người. Quyền lực, đối với chúng ta, là một thực tế của tự nhiên. Từ buổi sơ khai của lịch sử thành văn, nó luôn chi phối vận mệnh con người… những nhà cầm quyền từ thời xa xưa không hề biến mất mà không để lại cho người kế vị đặc quyền của họ, cũng như không để lại trong tâm trí con người những dấu ấn tích lũy theo hiệu ứng của chúng. Sự kế tiếp của các chính quyền, qua nhiều thế kỷ, cùng cai trị một xã hội có thể được xem như một Chính phủ nền tảng duy nhất, liên tục chất chồng và phát triển[10].

 

Một lực lượng tư tưởng mạnh mẽ khác của Nhà nước là hạ thấp giá trị cá nhân và tôn vinh tính tập thể của xã hội, dù trong quá khứ hay hiện tại. Bất kỳ tiếng nói lẻ loi nào, bất kỳ ai khơi dậy những nghi ngờ mới, đều có thể bị công kích như kẻ phỉ báng trí tuệ tổ tiên. Hơn nữa, bất kỳ ý tưởng mới nào – chứ chưa nói đến ý tưởng phê phán – tất yếu phải khởi đi từ quan điểm của một thiểu số rất nhỏ. Do đó, để ngăn chặn mọi ý tưởng tiềm ẩn nguy hiểm có thể đe dọa sự chấp nhận của đa số đối với chế độ đương quyền, Nhà nước sẽ tìm cách bóp nghẹt ý tưởng ngay từ trong trứng nước bằng cách chế giễu bất cứ quan điểm nào đối nghịch với dư luận quần chúng. Cách thức mà các nhà cầm quyền trong những chế độ chuyên chế Trung Hoa cổ đại sử dụng tôn giáo như một phương tiện ràng buộc cá nhân vào xã hội do Nhà nước chi phối được Norman Jacobs tóm tắt như sau:

 

Tôn giáo Trung Quốc là tôn giáo xã hội, nhằm giải quyết các vấn đề về lợi ích cộng đồng, chứ không phải lợi ích cá nhân… Về bản chất, tôn giáo là lực lượng điều chỉnh và kiểm soát xã hội phi cá nhân – chứ không phải là phương tiện cho những giải pháp cá nhân – và việc điều chỉnh, kiểm soát xã hội được thực hiện thông qua giáo dục và thái độ tôn kính đối với thượng cấp… Thái tôn kính đối với thượng cấp – cao niên hơn, vì thế mà có học vấn và nhiều kinh nghiệm hơn – là nền tảng đạo đức cho sự điều chỉnh và kiểm soát xã hội… Ở Trung Quốc, sự gắn kết giữa quyền lực chính trị và tôn giáo chính thống đã đồng nhất tà giáo với sai lầm chính trị. Chính thống giáo đặc biệt tích cực trong việc đàn áp và tiêu diệt các tà giáo; và trong việc này, nó được thế quyền hậu thuẫn[11].

 

 

Xu hướng chung của chính phủ là tìm cách phát hiện và ngăn chặn mọi quan điểm lệch lạc. Điều này đã được nhà văn theo chủ nghĩa tự do cá nhân H.L. Mencken phác họa, bằng lối văn dí dỏm và lôi cuốn, như sau:

 

Tất cả những gì [chính phủ] nhìn thấy trong một ý tưởng độc đáo là khả năng thay đổi, và do đó là sự xâm phạm đến đặc quyền của nó. Kẻ nguy hiểm nhất – đối với bất kỳ chính phủ nào – chính là người có thể tự mình suy nghĩ thấu đáo, không quan tâm tới những mê tín và cấm kỵ đang thịnh hành. Hầu như chắc chắn rằng người đó sẽ đi đến kết luận rằng mình đang sống dưới quyền chính phủ bất lương, điên rồ và không thể chịu đựng được; và vì vậy, nếu hắn có tâm hồn lãng mạn, hắn sẽ tìm cách thay đổi nó. Ngay cả khi bản thân hắn không lãng mạn, hắn vẫn rất dễ gieo rắc thái độ bất mãn cho những kẻ lãng mạn[12].

 

Đặc biệt quan trọng đối với Nhà nước là làm cho sự cai trị của mình dường như là tất yếu: ngay cả khi sự cai trị ấy bị căm ghét – như thường xảy ra – thì nó cũng sẽ được người dân đón nhận bằng sự cam chịu thụ động, được thể hiện qua sự kết hợp quen thuộc giữa “cái chết và thuế”. Một trong những cách thức là vận dụng thuyết quyết định luận lịch sử để biện minh cho mình: nếu Nhà nước X đang cai trị chúng ta, thì điều đó hẳn đã được định sẵn bởi Quy luật Lịch sử Bất khả kháng (hoặc Ý chí Thần thánh, hoặc Tuyệt đối, hoặc Lực lượng Sản xuất Vật chất), và chẳng một cá nhân nhỏ bé nào có thể thay đổi được tất yếu ấy. Điều quan trọng nữa là Nhà nước phải gieo vào lòng dân chúng thái độ ác cảm đối với bất kỳ biểu hiện nào của cái mà ngày nay gọi là “thuyết âm mưu lịch sử”. Bởi vì việc tìm kiếm “âm mưu” – cho dù kết quả thường sai – vẫn có nghĩa là truy tìm động cơ và quy trách nhiệm cá nhân cho những hành vi sai trái trong lịch sử của tầng lớp cầm quyền. Trái lại, nếu mọi sự chuyên chế, tham nhũng hay chiến tranh xâm lược do Nhà nước áp đặt không phải do những người cầm quyền cụ thể, mà do những “thế lực xã hội” bí ẩn, hoặc do tình trạng bất toàn của thế giới – hoặc nếu, theo một cách nào đó, mọi người đều có tội (“Tất cả chúng ta đều là kẻ giết người”, như một khẩu hiệu quen thuộc vẫn tuyên bố) – thì việc bất kỳ cá nhân nào phẫn nộ hay đứng lên chống lại những tội lỗi ấy đều trở nên vô nghĩa. Hơn nữa, việc làm mất uy tín của “thuyết âm mưu” – hay thậm chí bất cứ điều gì mang hơi hướng “chủ nghĩa quyết định luận kinh tế” – sẽ khiến dân chúng dễ dàng tin vào những lý do “phúc lợi chung” mà Nhà nước hiện đại luôn viện dẫn để biện minh cho những hành vi xâm lược của mình.

 

Sự cai trị của Nhà nước, do đó, được làm cho dường như là tất yếu. Hơn nữa, bất kỳ phương án thay thế nào cho Nhà nước hiện tại cũng đều bị bao phủ bởi một bầu không khí sợ hãi. Lờ đi sự độc quyền của chính mình trong việc trộm cắp và cướp bóc, Nhà nước gieo rắc nỗi ám ảnh nơi thần dân rằng hỗn loạn tất yếu sẽ xảy ra nếu Nhà nước biến mất. Người ta rêu rao rằng dân chúng không thể nào tự mình bảo vệ trước những tên tội phạm hay kẻ cướp lẻ tẻ. Hơn thế nữa, trong suốt nhiều thế kỷ, mỗi Nhà nước đều đặc biệt thành công trong việc gieo rắc nỗi sợ về những kẻ cai trị khác. Khi diện tích đất đai trên thế giới đã được chia cắt cho từng Nhà nước cụ thể, một trong những học thuyết và chiến thuật cơ bản của giới cầm quyền là tự đồng nhất mình với lãnh thổ mà họ cai trị. Bởi vì hầu hết con người đều có xu hướng yêu quê hương, nên việc đồng nhất vùng đất và dân cư với Nhà nước trở thành phương tiện hữu hiệu để biến lòng yêu nước tự nhiên thành lợi khí phục vụ cho Nhà nước. Thế nên, nếu “Ruritania” bị “Walldavia” tấn công, nhiệm vụ đầu tiên của Nhà nước Ruritania cùng giới trí thức của nó là thuyết phục người dân rằng cuộc tấn công ấy thực sự nhắm vào chính họ, chứ không chỉ nhắm vào tầng lớp thống trị. Bằng cách đó, cuộc chiến giữa những kẻ cai trị bị biến thành cuộc chiến giữa các dân tộc, và mỗi dân tộc đều hăng hái bảo vệ giới cầm quyền của mình, trong niềm tin sai lầm rằng những kẻ cai trị đang ra sức bảo vệ họ. Chiêu bài dân tộc chủ nghĩa này đặc biệt thành công trong những thế kỷ gần đây; mới cách đây không lâu, ít nhất là ở Tây Âu, phần lớn thần dân vẫn coi chiến tranh chỉ là những trận đấu vô nghĩa giữa các phe quý tộc cùng đoàn tùy tùng của họ với nhau.

 

Một phương pháp đã được thử nghiệm và chứng minh hiệu quả khác để khuất phục thần dân là gieo rắc mặc cảm tội lỗi. Bất kỳ sự gia tăng nào trong phúc lợi cá nhân đều có thể bị lên án là “tham lam vô độ”, “chủ nghĩa vật chất” hay “sự giàu sang quá mức”; và ngay cả những trao đổi cùng có lợi trên thị trường cũng có thể bị kết tội là “ích kỷ”. Bằng cách nào đó, kết luận luôn nói rằng cần phải tước đoạt thêm tài nguyên từ khu vực tư nhân để bơm vào khu vực “công” hay Nhà nước – vốn dĩ là khu vực ăn bám. Lời kêu gọi công chúng đóng góp thêm tài nguyên thường được ngụy trang dưới hình thức những lời hô hào nghiêm khắc của giới tinh hoa cầm quyền, đòi hỏi “hy sinh” nhiều hơn nữa vì quốc gia hay lợi ích chung. Thế nhưng, kỳ lạ thay, trong khi công chúng phải hy sinh và kiềm chế “lòng tham vật chất” của mình, thì sự hy sinh ấy luôn luôn chỉ có một chiều. Nhà nước không hy sinh; Nhà nước lại càng hăng hái chiếm đoạt thêm tài nguyên vật chất của công chúng. Quả thật, có một nguyên tắc hữu ích: khi người cai trị của bạn lớn tiếng kêu gọi “hy sinh”, hãy mau chóng nhìn lại chính đời sống và hầu bao của mình!

 

Kiểu lập luận này phản ánh tiêu chuẩn kép về đạo đức luôn được áp dụng cho những kẻ cai trị Nhà nước, nhưng không bao giờ áp dụng cho bất kỳ ai khác. Ví dụ, không ai ngạc nhiên hay phẫn nộ khi biết rằng các doanh nhân tìm kiếm lợi nhuận cao hơn. Không ai thấy bất thường nếu người lao động bỏ công việc lương thấp để chuyển sang công việc có mức lương cao hơn. Tất cả những điều đó đều được coi là hành vi hợp lý và bình thường. Thế nhưng, nếu có người dám khẳng định rằng các chính trị gia và quan chức cũng bị thúc đẩy bởi mong muốn tối đa hóa thu nhập, thì lập tức sẽ vang lên tiếng la ó khắp nơi, nào là “thuyết âm mưu”, nào là “thuyết quyết định luận kinh tế”. Quan điểm chung – tất nhiên, được chính Nhà nước cẩn thận vun đắp – là con người tham gia chính trị hay chính phủ hoàn toàn vì sự quan tâm tận tụy đến lợi ích chung và phúc lợi công cộng. Điều gì mang lại cho những quý ông trong bộ máy Nhà nước cái vỏ bọc đạo đức vượt trội ấy? Có lẽ chính là nhận thức mơ hồ nhưng mang tính bản năng của quần chúng rằng Nhà nước thực chất đang tham gia vào một quá trình trộm cắp và cướp bóc có hệ thống; và họ có thể cảm thấy rằng chỉ có sự tận tụy vị tha của Nhà nước mới khiến những hành động này trở nên có thể dung thứ được. Nếu coi các chính trị gia và quan chức cũng bị chi phối bởi cùng một mục tiêu kiếm tiền như mọi người khác, thì tấm màn Robin Hood che đậy sự cướp bóc của Nhà nước sẽ bị lột bỏ. Khi ấy, rõ ràng – theo cách diễn đạt của Oppenheimer – người dân bình thường đang theo đuổi những “phương tiện kinh tế” hòa bình và hiệu quả để làm giàu, trong khi bộ máy Nhà nước lại chuyên tâm vào những “phương tiện chính trị” có tổ chức, mang tính cưỡng bức và bóc lột. Tấm áo choàng vị tha mà hoàng đế khoác lên để che đậy cho “phúc lợi chung” khi đó sẽ bị xé toạc.

 

Những lập luận có tính trí tuệ mà Nhà nước sử dụng trong suốt chiều dài của lịch sử nhằm “kỹ nghệ hóa sự đồng thuận” nơi công chúng có thể chia làm hai loại: (1) sự cai trị của chính phủ hiện tại là không thể tránh khỏi, tuyệt đối cần thiết, và tốt hơn nhiều so với những tai họa khôn lường sẽ xảy ra nếu nó sụp đổ; và (2) những kẻ cai trị Nhà nước là những con người đặc biệt vĩ đại, thông thái và vị tha – vượt trội hơn hẳn so với những thần dân bình thường của họ.

 

Ngày xưa, lập luận thứ hai (2) vừa nói thường mang hình thức cai trị bởi “quyền thiêng liêng”, hoặc bởi chính “người cai trị thiêng liêng”, hoặc bởi “tầng lớp quý tộc” toàn nam giới. Trong thời hiện đại, như chúng tôi đã nói trước đó, lập luận này không còn nhấn mạnh nhiều đến sự chấp thuận của thần thánh, mà thay vào đó là sự cai trị của một hội đồng uyên bác gồm các “chuyên gia khoa học” được cho là được trời phú cho tri thức về nghệ thuật trị quốc và những sự thật huyền bí của thế giới. Việc ngày càng lạm dụng thuật ngữ khoa học, đặc biệt là khoa học xã hội, đã cho phép giới trí thức thêu dệt nên những lời biện hộ cho quyền lực của Nhà nước, chẳng khác nào giới giáo sĩ xưa kia trong việc che đậy sự thật nhằm ngu dân. Ví dụ, một tên trộm mà dám biện minh cho hành vi ăn cắp của mình bằng cách nói rằng hắn thực ra đang giúp đỡ nạn nhân thông qua chi tiêu, nhờ đó tạo cú hích cần thiết cho ngành bán lẻ, thì chắc chắn sẽ bị thiên hạ la ó không thương tiếc. Nhưng khi chính lý thuyết ấy lại được khoác lên mình những phương trình toán học kiểu Keynes, cùng những dẫn chiếu ấn tượng về “hiệu ứng số nhân”, nó lại tạo ra được sức thuyết phục mạnh mẽ hơn hẳn đối với một công chúng đang bị mê hoặc.

 

Trong những năm gần đây, ở Hoa Kỳ đã hình thành cả một “nghề” gọi là “quản lý an ninh quốc gia” – tức những quan chức vốn chẳng bao giờ phải đối mặt với bầu cử, nhưng vẫn liên tục, qua hết chính quyền này đến chính quyền khác, bí mật vận dụng cái gọi là chuyên môn đặc biệt của mình để hoạch định các cuộc chiến tranh, can thiệp và phiêu lưu quân sự. Chỉ những sai lầm nghiêm trọng của họ trong Chiến tranh Việt Nam mới khiến công chúng bắt đầu đặt nghi vấn về hoạt động của họ; còn trước đó, họ tha hồ lộng hành, ngạo mạn và khoa trương trước công chúng mà họ chủ yếu chỉ coi như bia đỡ đạn cho mục đích riêng của mình.

 

Một cuộc tranh luận công khai giữa Thượng nghị sĩ Robert A. Taft – người theo “chủ nghĩa biệt lập” – và McGeorge Bundy, một trong những trí thức hàng đầu về an ninh quốc gia, có tính chỉ dẫn quan trọng trong việc phân định rõ ràng cả những vấn đề then chốt lẫn thái độ của tầng lớp tinh hoa trí thức cầm quyền. Đầu năm 1951, Bundy công kích Taft vì đã khơi mào cuộc tranh luận công khai về việc tiến hành Chiến tranh Triều Tiên. Bundy quả quyết rằng chỉ có các nhà hoạch định chính sách trong nhánh hành pháp mới đủ khả năng lèo lái sức mạnh ngoại giao và quân sự trong một giai đoạn lâu dài, kéo dài hàng thập kỷ, của kiểu chiến tranh hạn chế nhằm chống lại các quốc gia cộng sản. Ông khẳng định, điều quan trọng là phải loại bỏ dư luận và tranh luận công khai ra khỏi việc hình thành bất kỳ vai trò chính sách nào trong lĩnh vực này. Lý do, Bundy cảnh báo, là bởi công chúng – thật không may – không hề cam kết với những mục tiêu quốc gia cứng rắn mà các nhà quản lý chính sách nhận định, mà chỉ đơn giản là phản ứng trước những thực tế nhất thời của từng tình huống cụ thể. Bundy cũng cho rằng không nên chỉ trích hay thậm chí là xem xét lại các quyết định của giới quản lý chính sách, vì điều cần thiết là công chúng phải chấp nhận các quyết định đó mà không được đặt câu hỏi. Ngược lại, Taft lên án việc ra quyết định trong vòng bí mật của các cố vấn quân sự và chuyên gia thuộc nhánh hành pháp – những quyết định trên thực tế bị che giấu khỏi sự giám sát của công chúng. Hơn nữa, ông phàn nàn: “Nếu bất kỳ ai dám nêu ý kiến chỉ trích, hoặc thậm chí là kêu gọi một cuộc tranh luận nghiêm túc, thì ngay lập tức người đó bị gắn mác là kẻ theo chủ nghĩa biệt lập, kẻ phá hoại sự thống nhất và chính sách đối ngoại lưỡng đảng.”[13]

 

Tương tự, vào lúc Tổng thống Eisenhower và Ngoại trưởng Dulles đang âm thầm tính chuyện đưa quân vào Đông Dương, một nhà quản lý an ninh quốc gia tên tuổi khác, George F. Kennan, lại khuyên công chúng rằng: “Có những lúc, sau khi đã bầu ra một chính phủ, tốt nhất là chúng ta nên để mặc cho nó cai quản và để nó lên tiếng thay cho chúng ta, như nó sẽ làm tại các hội đồng quốc tế.”[14]

 

Chúng ta thấy rõ vì sao Nhà nước cần đến giới trí thức; nhưng tại sao giới trí thức lại cần đến Nhà nước? Nói thẳng ra, miếng cơm manh áo của giới trí thức trên thị trường tự do vốn chẳng mấy an toàn; bởi họ, cũng như tất cả những người khác trên thương trường, phải phụ thuộc vào những giá trị và lựa chọn của đám đông đồng loại – mà đặc tính của đám đông này là hầu như chẳng mấy ai bận tâm đến chuyện trí thức. Ngược lại, Nhà nước lại sẵn sàng cho giới trí thức một chỗ ngồi êm ấm, an toàn và lâu dài trong guồng máy của nó, kèm theo một khoản thu nhập chắc chắn, và cả hào quang hư danh để phô trương.

 

Trong thế kỷ XIX, liên minh sốt sắng giữa Nhà nước và giới trí thức được thể hiện qua khát vọng cháy bỏng của các giáo sư Đại học Berlin – muốn tự biến mình thành cái mà chính họ hãnh diện tự xưng là “đội cận vệ trí thức của Triều đại Hohenzollern”. Từ một góc nhìn tư tưởng thoạt trông có vẻ khác biệt, ta lại thấy điều này trong phản ứng phẫn nộ lộ liễu của học giả Marxist lừng danh về Trung Quốc cổ đại, Joseph Needham, trước lời phê phán chua cay của Karl Wittfogel về chế độ chuyên chế Trung Hoa cổ đại. Wittfogel đã chỉ ra tầm quan trọng của việc Nho giáo tôn vinh giới quan lại – những kẻ vừa là học giả vừa là quý tộc – trong việc củng cố guồng máy quan liêu của nền chuyên chế Trung Quốc. Needham giận dữ phản bác rằng: “Nền văn minh mà Giáo sư Wittfogel công kích kịch liệt lại chính là nền văn minh có thể biến thi sĩ và học giả thành quan chức.”[15] Thì ra chế độ toàn trị cũng chẳng hề hấn gì, miễn là giai cấp thống trị được lấp đầy bằng những trí thức có bằng cấp hẳn hoi!

 

Thái độ sùng bái và khúm núm của giới trí thức đối với kẻ cầm quyền của mình đã lặp đi lặp lại không biết bao lần trong suốt chiều dài của lịch sử. Hình ảnh tương tự ở nước Mỹ đương đại, tương xứng với “đội cận vệ trí thức của Nhà Hohenzollern”, chính là thái độ của quá nhiều trí thức theo chủ nghĩa tự do trước chức vụ – và bản thân con người – của Tổng thống. Vì thế, với nhà khoa học chính trị Richard Neustadt, Tổng thống chính là “biểu tượng vương miện duy nhất của Liên bang.” Và mùa đông năm 1960, nhà quản lý chính sách Townsend Hoopes viết: “Trong hệ thống của chúng ta, nhân dân chỉ có thể trông cậy vào Tổng thống để xác định bản chất vấn đề chính sách đối ngoại, cũng như những chương trình quốc gia và những hy sinh cần thiết để giải quyết nó một cách hữu hiệu.”[16] Sau nhiều thế hệ với những lời ca tụng như thế, chẳng có gì ngạc nhiên khi Richard Nixon, vào đêm trước khi bước lên ghế Tổng thống, lại mô tả vai trò của mình như sau: “Ông ta [Tổng thống] phải nêu rõ các giá trị quốc gia, xác định các mục tiêu quốc gia, và tập hợp ý chí quốc gia.” Quan niệm của Nixon về vai trò đó nghe giống hệt như cách Ernst Huber từng diễn đạt ở Đức trong những năm 1930 về Luật Hiến pháp của Đế chế Đại Đức: nguyên thủ quốc gia “đặt ra những mục tiêu lớn cần phải đạt được, vạch ra kế hoạch sử dụng mọi quyền lực quốc gia để thực hiện các mục tiêu chung… và ban cho đời sống quốc gia mục đích cùng giá trị đích thực của nó.”[17]

 

Thái độ và động cơ của đội ngũ “trí thức bảo vệ an ninh quốc gia” đương đại của Nhà nước đã được Marcus Raskin – từng là thành viên Hội đồng An ninh Quốc gia dưới thời Kennedy – mô tả một cách cay độc. Ông gọi họ là những “trí thức siêu tử thần”, với những lời lẽ như sau:

 

Chức năng quan trọng nhất của họ là biện minh và kéo dài sự tồn tại của những người chủ của họ… Để biện minh cho việc tiếp tục sản xuất ồ ạt những quả bom và tên lửa [nhiệt hạch] này, các nhà lãnh đạo quân sự và công nghiệp cần một thứ lý thuyết nào đó để hợp thức hóa việc sử dụng chúng… Điều này trở nên đặc biệt cấp bách vào cuối thập niên 1950, khi những thành viên có đầu óc tính toán kinh tế trong chính quyền Eisenhower bắt đầu tự hỏi tại sao lại phải đổ biết bao tiền của, công sức và tài nguyên vào vũ khí nếu việc sử dụng chúng không thể được biện minh. Và thế là bắt đầu một loạt những lời biện hộ ‘hợp lý’ từ giới ‘trí thức quốc phòng’ trong và ngoài các trường đại học… Các hợp đồng mua sắm quân sự sẽ tiếp tục phình to, và họ sẽ tiếp tục chứng minh tại sao lại cần làm như thế. Ở khía cạnh này, họ chẳng khác gì đại đa số chuyên gia hiện đại: chấp nhận vô điều kiện những giả định của các tổ chức trả lương cho mình, để đổi lấy bổng lộc bằng tiền bạc, quyền lực và hào quang… Họ đủ tỉnh táo để không bao giờ dại dột đặt câu hỏi về quyền tồn tại của chính những kẻ nuôi mình[18].

 

Không có nghĩa là ở khắp nơi, mọi trí thức đều là “trí thức triều đình” – những kẻ hầu hạ và cộng sự bậc dưới của quyền lực. Nhưng đó lại là tình trạng chủ yếu trong lịch sử các nền văn minh – thường là tầng lớp tu sĩ – cũng như tình trạng chủ yếu trong các nền văn minh đó luôn là một kiểu chuyên chế nào đó. Tuy vậy, vẫn có những ngoại lệ hiển hách, đặc biệt trong lịch sử văn minh phương Tây, nơi các trí thức nhiều lần trở thành những người phê phán sắc bén và những người chống đối quyền lực Nhà nước, và đã dùng tài năng trí tuệ của mình để xây dựng nên các hệ thống lý thuyết có thể phục vụ cho cuộc đấu tranh giải phóng khỏi quyền lực ấy. Song, điều hầu như luôn đúng là: họ chỉ có thể vươn lên thành một lực lượng đáng kể khi hoạt động từ một nền tảng quyền lực độc lập – một cơ sở sở hữu độc lập – tách biệt khỏi bộ máy Nhà nước. Bởi ở bất cứ nơi nào Nhà nước kiểm soát toàn bộ tài sản, của cải và việc làm, thì mọi người đều lệ thuộc vào nó về mặt kinh tế; và trong hoàn cảnh đó, sự xuất hiện của những lời phê phán độc lập trở thành khó khăn, nếu không nói là bất khả thi. Chính phương Tây, với những trung tâm quyền lực phi tập trung, với tài sản và việc làm độc lập – và nhờ đó, có được các cơ sở để chỉ trích Nhà nước – đã là mảnh đất cho sự nảy nở của một tầng lớp phê bình trí thức. Vào thời Trung cổ, Giáo hội Công giáo La Mã – ít nhất là tách biệt, nếu không muốn nói là độc lập, với Nhà nước – cùng với các thị trấn tự do mới đã có thể trở thành những trung tâm của sự phản kháng cả về trí tuệ lẫn thực chất. Trong những thế kỷ sau đó, các thầy giáo, mục sư, và nhà văn trong xã hội tương đối tự do đã tận dụng sự độc lập khỏi Nhà nước để thúc đẩy việc mở rộng tự do hơn nữa. Ngược lại, một trong những triết gia tự do đầu tiên, Lão Tử, khi sống trong chế độ chuyên chế Trung Hoa cổ đại, không thấy lối thoát nào cho tự do trong xã hội toàn trị, ngoại trừ việc khuyên con người quay về đời sống tĩnh lặng – đến mức cá nhân rút lui hoàn toàn khỏi đời sống xã hội.

 

Với quyền lực đã phi tập trung hoá, Giáo hội tách rời khỏi Nhà nước, các thị trấn và thành phố thịnh vượng có thể phát triển bên ngoài cấu trúc quyền lực phong kiến, và với tự do trong xã hội, nền kinh tế Tây Âu đã có thể phát triển vượt qua tất cả các nền văn minh trước đó. Hơn nữa, cấu trúc bộ lạc German – và đặc biệt là Celtic – kế thừa từ Đế chế La Mã đang tan rã, vốn mang trong lòng nó những yếu tố tự do mạnh mẽ. Thay cho bộ máy Nhà nước hùng mạnh nắm độc quyền bạo lực, các tranh chấp được giải quyết bằng cách những thành viên trong bộ lạc tham khảo ý kiến các bô lão về bản chất và việc áp dụng luật tục cũng như thông luật của bộ lạc. “Tù trưởng” thường chỉ là một thủ lĩnh chiến tranh, người chỉ được kêu gọi giữ vai trò chiến binh khi có chiến tranh với các bộ lạc khác. Không có chiến tranh thường trực, cũng không tồn tại một bộ máy quan liêu quân sự thường trực trong các bộ lạc. Ở Tây Âu, cũng như trong nhiều nền văn minh khác, mô hình điển hình về nguồn gốc của Nhà nước không phải thông qua một “khế ước xã hội” tự nguyện, mà bộ lạc này chinh phục bộ lạc khác. Tự do nguyên sơ của bộ lạc hoặc của nông dân vì thế trở thành nạn nhân của những kẻ chinh phục. Ban đầu, bộ lạc chinh phục giết hại và cướp bóc nạn nhân rồi tiếp tục ra đi. Nhưng đến một lúc nào đó, họ nhận ra rằng có lợi hơn nếu định cư lại cùng với những nông dân bị chinh phục, để cai trị và cướp bóc họ một cách lâu dài và có hệ thống. Việc cống nạp định kỳ từ những kẻ bị trị cuối cùng được gọi là “thuế.” Và, cũng với cách thức tương tự, các tù trưởng chinh phục phân chia đất đai của nông dân cho những lãnh chúa khác nhau, những kẻ từ đó có thể định cư và thu “tô” phong kiến từ nông dân. Nông dân thường bị biến thành nô lệ, hay đúng hơn là bị nông nô hóa, gắn chặt vào mảnh đất để trở thành nguồn lao động bị bóc lột liên tục cho các lãnh chúa phong kiến[19].

 

Chúng ta có thể nêu ra một vài ví dụ nổi bật về sự ra đời của Nhà nước hiện đại bằng cách chinh phục. Một ví dụ là cuộc chinh phục quân sự đối với nông dân bản địa ở Mỹ Latinh do người Tây Ban Nha tiến hành. Người Tây Ban Nha chinh phục không chỉ thiết lập một Nhà nước mới để cai trị người da đỏ, mà còn chia đất đai của nông dân cho các lãnh chúa chinh phục, những kẻ sẽ thu tô từ người canh tác. Một ví dụ khác là hình thức chính trị mới bị áp đặt lên người Saxon ở Anh sau khi họ bị người Norman chinh phục vào năm 1066. Đất đai nước Anh được chia cho các lãnh chúa chiến binh Norman, từ đó hình thành Nhà nước và bộ máy cai trị phong kiến đối với dân chúng. Đối với những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân, ví dụ thú vị nhất – và chắc chắn cũng đau lòng nhất – về việc hình thành Nhà nước bằng cách chinh phục là sự hủy diệt xã hội tự do của Ireland cổ đại bởi người Anh vào thế kỷ XVII: cuộc chinh phục này đã thiết lập Nhà nước đế quốc và trục xuất nhiều người Ireland khỏi mảnh đất thân yêu của họ. Xã hội tự do ở Ireland, vốn tồn tại suốt một ngàn năm – và sẽ được mô tả thêm bên dưới – có thể kháng cự cuộc chinh phục của Anh hàng trăm năm bởi vì ở đây không tồn tại một Nhà nước có thể dễ dàng bị chinh phục rồi bị lợi dụng để cai trị dân chúng bản địa.

 

Tuy nhiên, trong khi xuyên suốt lịch sử phương Tây, giới trí thức đã xây dựng được những học thuyết nhằm kiềm chế và giới hạn quyền lực Nhà nước, thì mỗi Nhà nước lại có thể dùng chính những người trí thức của mình để xoay ngược những ý tưởng ấy thành sự hợp thức hóa cho việc mở rộng quyền lực. Ban đầu, ở Tây Âu, khái niệm “quyền thiêng liêng của vua chúa” vốn là học thuyết do Giáo hội khởi xướng nhằm giới hạn quyền lực Nhà nước: ý tưởng là nhà vua không thể áp đặt ý chí tùy tiện của mình, mà các sắc lệnh của ông chỉ có giá trị nếu tuân thủ luật thiêng liêng. Thế nhưng, khi chế độ quân chủ chuyên chế lớn mạnh, các ông vua đã xoay ngược khái niệm này thành lập luận rằng Thiên Chúa đặt dấu chấp thuận của Ngài lên bất kỳ hành động nào của họ; rằng nhà vua cai trị nhờ có “quyền thiêng liêng.”

 

Tương tự, khái niệm dân chủ nghị viện khởi đầu như một biện pháp phổ biến nhằm kiềm chế quyền lực tuyệt đối của nhà vua. Nhà vua bị giới hạn bởi quyền lực của quốc hội trong việc cấp cho ông nguồn thu từ thuế. Thế nhưng, dần dần, khi quốc hội thay thế nhà vua để trở thành nguyên thủ quốc gia, thì chính quốc hội lại biến thành chủ quyền tối thượng của Nhà nước mà không còn bị kiểm soát. Đầu thế kỷ XIX, những người theo chủ nghĩa công lợi ở Anh – vốn cổ xúy thêm quyền tự do cá nhân nhân danh lợi ích xã hội và phúc lợi chung – đã chứng kiến các khái niệm ấy bị xoay ngược, trở thành công cụ biện minh cho việc mở rộng quyền lực Nhà nước.

 

Như De Jouvenel viết:

 

Nhiều người cầm bút về lý thuyết chủ quyền đã đề ra một trong những cơ chế hạn chế này. Nhưng rốt cuộc, tất cả những lý thuyết ấy, sớm hay muộn, đều đánh mất mục đích ban đầu của nó, và chỉ trở thành bàn đạp cho Quyền lực – bằng cách ban cho nó sự hỗ trợ mạnh mẽ của một vị chủ quyền vô hình, với người mà theo thời gian, nó có thể tự đồng nhất một cách thành công[20].

 

 

Chắc chắn, nỗ lực tham vọng nhất trong lịch sử nhằm áp đặt giới hạn lên Nhà nước chính là Tuyên ngôn Nhân quyền cùng những điều khoản hạn chế khác trong Hiến pháp Hoa Kỳ. Ở đây, những giới hạn thành văn đối với chính quyền đã trở thành luật nền tảng, được giải thích bởi hệ thống tư pháp vốn được cho là độc lập với các nhánh quyền lực khác. Người Mỹ nào cũng quen thuộc với tiến trình mà qua đó, lời phân tích tiên tri của John C. Calhoun đã được chứng thực: chính bộ máy tư pháp độc quyền của Nhà nước, suốt hơn một thế kỷ rưỡi vừa qua, đã không ngừng mở rộng việc kiến tạo quyền lực cho Nhà nước. Thế nhưng, hiếm ai nhiệt tình ca ngợi quá trình này như Giáo sư Charles Black – một học giả theo chủ nghĩa tự do – người nhìn thấy rằng Nhà nước đã khéo léo biến chính cơ chế “xem xét tính hợp hiến” từ một công cụ hạn chế thành một khí cụ lợi hại để gieo rắc tính chính danh cho các hành động của mình trong đầu óc công chúng. Nếu một phán quyết “vi hiến” là một nhát búa giáng mạnh vào quyền lực của chính phủ, thì một phán quyết “hợp hiến” cũng là một vũ khí không kém phần lợi hại để thúc đẩy sự cam chịu và chấp nhận của công chúng đối với quyền lực ngày càng phình to của chính phủ.

 

Giáo sư Black mở đầu phân tích của mình bằng cách chỉ ra tính tất yếu sống còn của “chính danh” đối với bất kỳ chính phủ nào muốn duy trì sự tồn tại của nó; tức là, sự chấp nhận rộng rãi của đa số dân chúng đối với chính phủ và hành động của nó. Tuy nhiên, việc giành được sự chấp nhận ấy trở thành một vấn đề nan giải ở một đất nước như Hoa Kỳ, nơi “những hạn chế thực chất đã được cắm vào ngay trong học thuyết làm nền tảng cho chính phủ.” Black bổ sung rằng cái cần thiết là một cơ chế để chính phủ có thể trấn an công chúng rằng quyền lực đang mở rộng kia thực sự là “hợp hiến.” Và ông kết luận: đó chính là chức năng lịch sử trọng yếu của “việc xem xét tính hợp hiến.” Xin để Black minh họa vấn đề:

 

Rủi ro lớn nhất [đối với chính phủ] là sự bất mãn và cảm giác phẫn nộ lan rộng khắp dân chúng, cùng với việc đánh mất thẩm quyền đạo đức của chính phủ, cho dù nó có được chống đỡ bao lâu đi nữa bằng vũ lực, bằng quán tính, hay bằng sự thiếu vắng một giải pháp thay thế hấp dẫn và sẵn có ngay lập tức. Hầu như mọi người sống dưới một chính phủ có quyền lực hạn chế, sớm muộn gì cũng sẽ phải đối mặt với một hành động nào đó của chính phủ mà theo quan điểm cá nhân họ, nằm ngoài quyền lực của chính phủ, hoặc thậm chí bị Hiến pháp cấm. Một người đàn ông bị gọi nhập ngũ, dù anh ta không tìm thấy bất kỳ điều khoản nào trong Hiến pháp về chuyện bị cưỡng bách nhập ngũ… Một nông dân bị bảo rằng anh ta chỉ được phép trồng từng ấy lúa mì; anh ta tin, và anh ta phát hiện ra rằng một số luật sư đáng kính cũng đồng tình với mình, rằng chính phủ không có quyền bảo anh ta được phép trồng bao nhiêu lúa mì, cũng như không có quyền bảo con gái anh ta được lấy ai. Một người đàn ông bị tống vào nhà tù liên bang chỉ vì nói điều anh ta muốn, và anh ta bước đi qua lại trong phòng giam, lẩm nhẩm… “Quốc hội sẽ không ban hành bất kỳ luật nào hạn chế quyền tự do ngôn luận.”… Một doanh nhân thì bị bảo anh ta có thể tính giá bao nhiêu, và phải tính giá bao nhiêu, chẳng hạn như giá sữa.

 

Nguy cơ thực sự là mỗi một trong số những người này (và ai lại không nằm trong số đó?) sẽ đem khái niệm “hạn chế quyền lực chính phủ” đối chiếu với thực tế (theo cách họ thấy) về sự lạm quyền trắng trợn vượt quá giới hạn, và rồi rút ra kết luận hiển nhiên về tính chính danh của chính phủ mình[21].

 

Black nói thêm rằng, nguy hiểm này được ngăn chặn bằng học thuyết của Nhà nước cho rằng phải có một cơ quan nào đó nắm quyền quyết định cuối cùng về tính hợp hiến, và cơ quan này tất yếu phải là một phần của chính phủ liên bang. Bởi lẽ, tuy vẻ ngoài độc lập của ngành tư pháp liên bang đã đóng vai trò quan trọng trong việc khiến các phán quyết của nó trở nên gần như “thiêng liêng” như Kinh Thánh đối với phần lớn dân chúng, nhưng thực tế, tư pháp cũng chỉ là một bộ phận trong guồng máy chính phủ, và các thẩm phán đều do cả hành pháp lẫn lập pháp bổ nhiệm. Giáo sư Black thừa nhận rằng chính phủ đã tự đặt mình vào vị trí thẩm phán trong vụ án xử chính mình, qua đó, vi phạm nguyên tắc pháp lý căn bản để có thể đạt đến bất kỳ quyết định công bằng nào. Thế nhưng, Black lại tỏ ra hết sức nhẹ nhõm trước sự vi phạm nghiêm trọng này: “Quyền lực tối thượng của Nhà nước… phải dừng lại ở nơi mà luật pháp ngăn chặn nó. Và ai sẽ đặt ra giới hạn, ai sẽ thực thi việc ngăn chặn chống lại quyền lực hùng mạnh nhất? Tất nhiên, chính là Nhà nước, thông qua các thẩm phán và luật pháp của mình. Ai kiểm soát kẻ tiết độ? Ai dạy dỗ người khôn ngoan?”[22] Và vì thế, Black thừa nhận rằng khi chúng ta có Nhà nước, chúng ta đã trao nộp tất cả vũ khí và phương tiện cưỡng chế cho bộ máy Nhà nước, giao phó toàn bộ quyền quyết định tối hậu cho một nhóm người được thần thánh hóa, rồi sau đó chỉ còn biết ngồi yên chờ đợi “dòng chảy bất tận của công lý” sẽ tuôn ra từ các thiết chế ấy — mặc dù về căn bản, họ đang tự xét xử chính mình. Black không thấy có giải pháp thay thế khả dĩ nào cho sự độc quyền cưỡng chế các quyết định tư pháp do Nhà nước nắm giữ. Nhưng chính ở đây mà phong trào mới của chúng ta thách thức quan điểm thông thường ấy, và khẳng định rằng có một giải pháp thay thế khả thi: chủ nghĩa tự do cá nhân (libertarianism).

 

Không thấy lối thoát nào khác, Giáo sư Black rốt cuộc phải dựa vào tính thần bí để biện hộ cho Nhà nước, bởi vì, xét đến cùng, ông xem việc Nhà nước mãi mãi tự xét xử chính mình mà vẫn đạt được công lý và tính chính danh là “một điều gì đó giống như phép màu”. Theo cách này, Black — một người theo chủ nghĩa tự do — lại cùng chung với Burnham — một người bảo thủ — đều phải nương tựa vào “phép màu”, và như thế họ đã thừa nhận rằng không hề có một lập luận duy lý thỏa đáng nào để biện minh cho sự tồn tại của Nhà nước[23].

 

Áp dụng quan điểm thực tế của mình về Tòa án Tối cao vào cuộc xung đột nổi tiếng giữa Tòa án và New Deal (Chính sách Kinh tế Mới) trong những năm 1930, Giáo sư Black khiển trách các đồng nghiệp theo chủ nghĩa tự do của mình vì sự thiển cận khi họ lên án sự cản trở do ngành tư pháp gây ra (judicial obstructionism):

 

Phiên bản chuẩn mực của câu chuyện về New Deal và Tòa án, dù theo cách nào đó cũng chính xác, nhưng lại đặt sai trọng tâm… Nó chỉ tập trung vào những khó khăn, mà hầu như quên mất toàn bộ sự việc đã kết thúc ra sao. Kết cục là (và đây chính là điều tôi muốn nhấn mạnh) sau khoảng hai mươi bốn tháng do dự… Tòa án Tối cao, mà không hề có bất kỳ thay đổi nào trong luật về cơ cấu, hay thậm chí về nhân sự, đã đặt dấu ấn khẳng định tính chính danh lên New Deal, và lên toàn bộ quan niệm mới về chính phủ ở Mỹ.”[24]

 

Bằng cách này, Tòa án Tối cao đã có thể làm dịu đi sự phản đối của một bộ phận lớn người Mỹ vốn có những phản ứng mạnh mẽ về mặt hiến pháp trước việc mở rộng quyền lực của New Deal:

 

Tất nhiên, không phải ai cũng hài lòng. “Hoàng tử Bonnie Charlie”[25] của quan điểm tự do kinh doanh theo hiến pháp vẫn còn khuấy động trái tim của vài kẻ cuồng tín ở vùng cao nguyên của cơn ảo tưởng giận dữ. Nhưng giờ đây, không còn tồn tại bất kỳ nghi ngờ đáng kể hay nguy hiểm nào trong công chúng về quyền lực hiến định của Quốc hội trong việc can thiệp vào nền kinh tế quốc gia theo cách mà họ đã làm… Chúng ta không có phương tiện nào khác ngoài Tòa án Tối cao để trao tính chính danh cho Chính sách Kinh tế Mới.[26]

 

Vì vậy, ngay cả tại Hoa Kỳ — quốc gia duy nhất có một bản hiến pháp, mà ít nhất một phần được thiết kế nhằm áp đặt những giới hạn nghiêm ngặt và trang trọng lên hành động của chính phủ — thì Hiến pháp cũng đã chứng tỏ chỉ là một công cụ để phê chuẩn việc mở rộng quyền lực của Nhà nước, chứ không phải để kiềm chế nó. Như Calhoun đã nhận thấy, bất kỳ giới hạn thành văn nào giao cho chính phủ quyền tự diễn giải phạm vi quyền lực của mình thì chắc chắn sẽ được hiểu theo hướng hợp thức hóa việc mở rộng, chứ không phải ràng buộc những quyền lực ấy. Xét ở một nghĩa sâu xa, ý tưởng “xiềng xích” quyền lực bằng một bản hiến pháp thành văn đã cho thấy đó là một thí nghiệm cao quý nhưng thất bại. Ý tưởng về một chính phủ bị giới hạn nghiêm ngặt rốt cuộc đã chứng tỏ là không tưởng; cần phải tìm ra một phương tiện khác, triệt để hơn, để ngăn chặn sự bành trướng của Nhà nước hung hãn. Giải pháp mà hệ thống tự do cá nhân đưa ra là loại bỏ hoàn toàn khái niệm lập ra một chính phủ — một thiết chế độc quyền cưỡng chế bằng bạo lực trên một khu vực lãnh thổ nhất định — rồi lại hy vọng tìm cách kiềm chế nó khỏi bành trướng thêm. Thay vào đó, giải pháp của chủ nghĩa tự do cá nhân là từ chối một chính phủ độc quyền như thế ngay từ đầu.

 

Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu toàn bộ khái niệm về một xã hội phi-Nhà nước, một xã hội không có chính quyền chính thức, trong các chương sau. Nhưng một bài tập bổ ích là hãy thử từ bỏ những cách nhìn quen thuộc, và xem xét lập luận ủng hộ Nhà nước ngay từ đầu (de novo). Chúng ta hãy cố gắng vượt qua thực tế rằng, từ khi chúng ta còn nhớ được, Nhà nước đã độc quyền các dịch vụ cảnh sát và tư pháp trong xã hội. Hãy giả sử tất cả chúng ta đều bắt đầu từ con số không, và hàng triệu người trong chúng ta được thả xuống Trái Đất, đã trưởng thành và phát triển hoàn toàn, từ một hành tinh khác. Cuộc tranh luận nảy sinh: làm sao cung cấp sự bảo vệ (các dịch vụ cảnh sát và tư pháp)? Có người nói: “Hãy trao hết vũ khí của chúng ta cho Joe Jones ở đằng kia, và cho cả họ hàng của hắn. Hãy để Jones và gia đình hắn quyết định mọi tranh chấp giữa chúng ta. Như vậy, gia tộc Jones sẽ có thể bảo vệ tất cả chúng ta khỏi bất kỳ hành vi xâm lược hoặc gian lận nào mà ai đó có thể gây ra. Với toàn bộ quyền lực và thẩm quyền quyết định tối hậu về tranh chấp nằm trong tay Jones, tất cả chúng ta sẽ được bảo vệ. Và sau đó, hãy để gia tộc Jones kiếm thu nhập từ dịch vụ ‘tuyệt vời’ này bằng cách sử dụng chính vũ khí của họ, và tuỳ ý cưỡng ép thu bao nhiêu cũng được.” Chắc chắn trong tình huống đó, không ai lại không coi đề xuất này là một trò lố bịch. Bởi rõ ràng, trong trường hợp đó, chúng ta hoàn toàn không có cách nào để tự bảo vệ mình khỏi sự xâm lược hay tàn hại đến từ chính gia tộc Jones. Và khi ấy, sẽ chẳng ai dại dột đến mức trả lời cho câu hỏi cổ xưa và thâm thúy: “Ai sẽ canh giữ những kẻ canh giữ?” bằng câu trả lời hời hợt của Giáo sư Black: “Ai kiểm soát sự tiết độ?” Chỉ vì chúng ta đã quen với sự tồn tại của Nhà nước trong hàng ngàn năm mà giờ đây chúng ta mới đưa ra chính xác cái câu trả lời vô lý ấy cho vấn đề bảo vệ và phòng vệ xã hội.

 

Và, dĩ nhiên, Nhà nước chưa bao giờ thực sự bắt đầu bằng kiểu “khế ước xã hội” như thế. Như Oppenheimer đã chỉ ra, Nhà nước thường khởi đầu bằng bạo lực và chinh phục; ngay cả khi đôi lúc những quá trình nội tại dẫn đến sự hình thành Nhà nước, thì chắc chắn nó cũng chưa từng được dựng nên bằng sự đồng thuận chung hay một bản hợp đồng được tất cả chấp thuận.

 

Tín điều của chủ nghĩa tự do cá nhân có thể được tóm tắt như sau: (1) quyền tuyệt đối của mỗi con người đối với sở hữu thân thể của chính mình; (2) quyền tuyệt đối như thế trong việc sở hữu, và do đó kiểm soát, những nguồn lực vật chất mà anh ta đã phát hiện và cải biến; và (3) từ đó, quyền tuyệt đối được trao đổi hoặc chuyển nhượng sở hữu ấy cho bất kỳ ai sẵn sàng trao đổi hoặc tiếp nhận. Như chúng ta đã thấy, mỗi bước trong số này đều liên quan đến quyền sở hữu; nhưng ngay cả khi gọi bước (1) là quyền “cá nhân”, chúng ta cũng sẽ thấy rằng mọi vấn đề liên quan đến “tự do cá nhân” đều gắn chặt với quyền sở hữu vật chất hoặc quyền trao đổi tự do. Nói ngắn gọn, quyền tự do cá nhân và “tự do kinh doanh” gần như luôn đan xen và không thể thực sự tách rời.

 

Chẳng hạn, việc thực thi “quyền tự do ngôn luận” hầu như luôn kéo theo việc thực thi “quyền tự do kinh tế”—nghĩa là, quyền tự do sở hữu và trao đổi tài sản vật chất. Việc tổ chức một cuộc họp để thực hiện quyền tự do ngôn luận bao gồm thuê hội trường, đi lại trên các con đường, và sử dụng phương tiện vận chuyển nào đó, v.v. “Tự do báo chí”, vốn gắn chặt với tự do ngôn luận, lại càng cho thấy rõ điều này hơn nữa: nó đòi hỏi chi phí in ấn, sử dụng máy in, và bán tờ rơi cho những người sẵn sàng mua—nói tóm lại, bao gồm tất cả những yếu tố của “tự do kinh tế”. Hơn thế, ví dụ quen thuộc về việc “la hét ‘cháy’ trong một rạp hát đông người” mang đến cho chúng ta một nguyên tắc chỉ dẫn rõ ràng để quyết định trong bất kỳ tình huống nào thì quyền của ai phải được bảo vệ—nguyên tắc ấy chính là tiêu chuẩn của chúng ta: quyền sở hữu.

 


[1] Pentagon Papers, hay còn được gọi là Hồ sơ Lầu Năm Góc (tên chính thức là "Báo cáo của Tổ công tác Việt Nam thuộc Văn phòng Bộ trưởng Quốc phòng"), là một bộ hồ sơ lịch sử tối mật của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ về sự can thiệp của Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1968. Nội dung chính và ý nghĩa của Bộ hồ sơ dài hơn 7.000 trang này vạch trần việc chính phủ Mỹ (qua nhiều đời tổng thống) đã nói dối công chúng và Quốc hội về mức độ và mục tiêu của sự can thiệp của Mỹ ở Việt Nam. Nó cho thấy chính quyền Tổng thống Lyndon B. Johnson đã bí mật leo thang xung đột và nhiều lần che giấu sự thật về chiến lược cũng như các hành động quân sự - ND.

[2] John C. Calhoun, A Disquisition on Government (New York: Liberal Arts Press, 1953), pp. 25–27.

[3] Franz Oppenheimer, The State (New York: Vanguard Press, 1926), pp. 24–27 and passim.

[4] Albert Jay Nock, On Doing the Right Thing, and Other Essays (New York: Harper and Bros., 1928), p. 145.

[5] Joseph A. Schumpeter, Capitalism, Socialism, and Democracy (New York: Harper and Bros., 1942), pp. 198 and 198n.

[6] Lysander Spooner, No Treason, No. VI, The Constitution of No Authority (1870; reprinted in Larkspur, Colo.: Pine Tree Press, 1966), p. 17.

[7] Calhoun, Disquisition on Government, pp. 16–18.

[8] James Burnham, Congress and the American Tradition (Chicago: Henry Regnery, 1959), pp. 6–8.

[9] Burnham, Congress and the American Tradition, p. 3

[10] Bertrand De Jouvenel, On Power (New York: Viking Press 1949), p. 22.

[11] Norman Jacobs, The Origin of Modern Capitalism and Eastern Asia (Hong Kong: Hong Kong University Press, 1958), pp. 161–63, 185. Công trình kinh điển bao quát mọi khía cạnh của chủ nghĩa chuyên chế phương Đông là Karl A. Wittfogel, Oriental Despotism: A Comparative Study of Total Power (New Haven, Conn.: Yale University Press, 1957).

[12] H.L. Mencken, A Mencken Chrestomathy (New York: Alfred A. Knopf, 1949), p. 145.

[13] Xin đọc Leonard P. Liggio, Why the Futile Crusade? (New York: Center for Libertarian Studies, April 1978), pp. 41–43.

[14] George F. Kennan, Realities of American Foreign Policy (Princeton, N.J.: Princeton University Press, 1954), pp. 95–96.

[15] Joseph Needham, “Review of Karl A. Wittfogel, Oriental Despotism,” Science and Society (1958): 65. Thái độ trái ngược với Needham’s, xin mời đọc John Lukacs, “Intellectual Class or Intellectual Profession?,” in George B. deHuszar, ed., The Intellectuals (Glencoe, Ill.: The Free Press, 1960): 522.

[16] Richard Neustadt, “Presidency at Mid-Century,” Law and Contemporary Problems (Autumn, 1956), pp. 609–45; Townsend Hoopes, “The Persistence of Illusion: The Soviet Economic Drive and American National Interest,” Yale Review (March 1960): 336

[17] Trích trong Thomas Reeves and Karl Hess, The End of the Draft (New York: Vintage Books, 1970), pp. 64–65.

[18] Marcus Raskin, “The Megadeath Intellectuals,” The New York Review of Books (November 14, 1963): 6–7. Đọc thêm Martin Nicolaus, “The Professor, the Policeman, and the Peasant,” Viet-Report (June–July 1966):

15–19.

[19] Về sự hình thành điển hình của Nhà nước, xem Oppenheimer, The State, chap. II. Trong khi các học giả như Lowie and Wittfogel (Oriental Despotism, pp. 324–25) bác bỏ luận đề của Gumplowicz-Oppenheimer-Rüstow rằng Nhà nước luôn khởi nguyên từ chinh phục, họ thừa nhận rằng chiến tranh chinh phục thường tham dự vào quá trình phát triển nội tại của các Nhà nước. Hơn nữa, có bằng chứng cho thấy rằng trong nền văn minh lớn đầu tiên – Sumer – đã từng tồn tại xã hội thịnh vượng, tự do và phi Nhà nước, cho đến khi nhu cầu phòng thủ quân sự trước các cuộc chinh phục dẫn tới sự hình thành bộ máy quân sự thường trực và quan liêu Nhà nước. Xem thêm: Samuel Noah Kramer, The Sumerians (Chicago: University of Chicago Press, 1963), tr. 73 trở đi.

[20] De Jouvenel, On Power, p. 27

[21] Charles L. Black, Jr., The People and the Court (New York: Macmillan, 1960), pp. 42–43.

[22] Ibid., pp. 32–33.

[23] Trái ngược với thái độ tự mãn của Black là sự phê phán sắc sảo đối với Hiến pháp và quyền lực của Tối cao Pháp viện đến từ nhà khoa học chính trị J. Allen Smith. Smith viết: “Hiển nhiên, lẽ thường đòi hỏi rằng không một cơ quan nào của chính quyền lại có thể tự mình quyết định phạm vi quyền lực của chính nó.” — J. Allen Smith, The Growth and Decadence of Constitutional Government (New York: Henry Holt, 1930), p. 87. Rõ ràng, lẽ thường và những “phép màu” dẫn đến những quan niệm hoàn toàn khác nhau về chính quyền..

[24]Ibid., p. 64.

[25] The Bonnie Prince Charlie có ý châm biếm những người vẫn tin vào một phiên bản hiến pháp cứng nhắc, chỉ cho phép tự do kinh tế mà không có bất kỳ sự can thiệp nào của nhà nước, coi đó là một lý tưởng đã lỗi thời và không thể phục hồi - ND.

[26]Ibid., p. 65.

Dịch giả:
Phạm Nguyên Trường