Luận về triết học logic (Mệnh đề 2.1 -> 2.225)

Luận về triết học logic (Mệnh đề 2.1 -> 2.225)

2.1 Chúng ta tạo ra cho mình những bức tranh về các sự thực.

2.11 Một bức tranh trình bày các sự thực trong không gian logic, tức trình bày sự tồn tại và không tồn tại của các tình tiết.

2.12 Bức tranh là một mô hình của thực tại.

2.13 Trong một bức tranh, các đối tượng tương ứng với các phần tử của bức tranh.

2.131 Trong một bức tranh, các phần tử của bức tranh đại diện cho các đối tượng.

2.14 Điểm cốt yếu làm nên bức tranh là các phần tử của nó quan hệ với nhau theo một cách thức nhất định.

2.141 Một bức tranh là một sự thực.

2.15 Việc các phần tử của một bức tranh quan hệ với nhau theo một cách thức nhất định thể hiện các sự vật cũng có mối quan hệ với nhau theo cùng cách thức.

Chúng ta gọi mối quan hệ giữa các phần tử theo cách thức đó là cấu trúc của bức tranh, và gọi khả năng tồn tại của cấu trúc này là dạng thức biểu hiện của bức tranh.

2.151 Dạng thức biểu hiện là khả năng mà các sự vật quan hệ với nhau theo cùng cách thức giống như mối quan hệ giữa các phần tử của bức tranh.

2.1511 Đó là cách một bức tranh được liên kết với thực tại; nó chạm đến thực tại.

2.1512 Nó trải lên thực tại tựa như một cái thước đo.

2.15121 Chỉ có những điểm cuối của những vạch chia độ là chạm vào đối tượng cần đo.

2.1513 Vì thế, theo cách nhìn này, mối quan hệ biểu hiện, cái làm nên bức tranh, cũng thuộc về bức tranh.

2.1514 Mối quan hệ biểu hiện được tạo thành từ các kết nối tương ứng giữa các phần tử của bức tranh với các sự vật.

2.1515 Có thể nói, dù không chính xác lắm, những kết nối tương ứng này là những đầu cảm biến của các phần tử của bức tranh, nhờ đó mà bức tranh chạm đến thực tại.

2.16 Để là một bức tranh, một sự thực phải có cái gì đó chung với cái mà nó biểu hiện.

2.161 Phải có cái gì đó đồng nhất giữa một bức tranh và cái nó biểu hiện, để khiến cho cái này rốt cục trở thành bức tranh của cái kia.

2.17 Cái mà một bức tranh buộc phải có chung với thực tại, cái cho phép ta có thể biểu hiện – dù có chuẩn xác hay không chuẩn xác - được thực tại theo cái cách mà thực tại bày ra, là dạng thức biểu hiện của nó.

2.171 Một bức tranh có thể tái hiện bất kỳ thực tại nào mà nó có chung dạng thức biểu hiện của thực tại đó.

Một bức tranh không gian có thể tái hiện bất kỳ cái gì có dạng thức không gian; một bức tranh màu sắc có thể tái hiện bất bỳ cái gì có dạng thức màu sắc v.v.

2.172 Tuy nhiên, một bức tranh không thể tái hiện hình thức biểu hiện của chính nó: nó phô bày nó.

2.173 Một bức tranh tái hiện các đối tượng của nó từ một vị trí nằm bên ngoài bức tranh. (Góc quan sát của bức tranh là dạng thức tái hiện của bức tranh.) Đó là lý do giải thích tại sao một bức tranh tái hiện các đối tượng của nó chuẩn xác hoặc không chuẩn xác.

2.174 Nhưng một bức tranh không thể tự đặt nó nằm ngoài dạng thức tái hiện của nó.

2.18 Cái mà mọi bức tranh, dù dưới dạng thức nào, buộc phải có chung với thực tại, để sao cho có thể tái hiện được thực tại – dù có chuẩn xác hay không chuẩn xác –chính là dạng thức logic, tức là dạng thức của thực tại.

2.181 Ta gọi một bức tranh mà có dạng thức biểu hiện là dạng thức logic là một bức tranh logic.

2.182 Mọi bức tranh đồng thời cũng là bức tranh logic. (Trong khi đó, không phải mọi bức tranh đều là, chẳng hạn, bức tranh không gian).

2.19 Bức tranh logic có thể miêu tả Thế giới.

2.2 Bức tranh có chung dạng thức biểu hiện logic với cái nó tái hiện. 

2.201 Một bức tranh tái hiện thực tại bằng cách biểu hiện khả năng tồn tại và không tồn tại của các tình tiết.

2.202 Một bức tranh tái hiện một trạng thái sự việc khả thể trong không gian logic.

2.203 Một bức tranh chứa đựng khả năng về trạng thái sự việc mà nó tái hiện.

2.21 Một bức tranh tương đồng hoặc không tương đồng với thực tại; sự so sánh là chuẩn xác hoặc không chuẩn xác, đúng hoặc sai.

2.22 Một bức tranh tái hiện cái nó tái hiện thông qua dạng thức biểu hiện của nó, độc lập với tính đúng hoặc tính sai của nó.

2.221 Cái mà một bức tranh tái hiện là nghĩa của nó.

2.222 Tính đúng hoặc tính sai của bức tranh nằm ở sự tương đồng hoặc không tương đồng giữa nghĩa của bức tranh với thực tại.

2.223 Để đưa ra được nhận định một bức tranh là đúng hay sai, chúng ta phải so sánh nó với thực tại.

2.224 Không thể chỉ từ bức tranh không thôi mà có thể nói được là nó đúng hay sai.

2.225 Không tồn tại bức tranh đúng tiên nghiệm.

 

Mệnh đề 2.1 đến mệnh đề 2.12

Lưu ý từ mệnh đề này trở đi Wittgenstein bắt đầu bàn về một loại sự thực cụ thể chứ không phải là những sự thực chung chung nữa. Đó là sự thực dưới hình thức một bức tranh tái hiện một sự thực khác.

Một bức tranh (Mệnh đề 2.11) trình bày những sự thực trong không gian logic, tức là trình bày những khả năng kết hợp của các đối tượng trong các tình tiết khả thể chứ không phải là những thứ thực sự xảy ra trong thế giới thực. Thế cho nên một bức tranh không chỉ tái hiện con gà bình thường mà có thể là con gà chín cựa hay con rồng v.v.

Một bức tranh khi trình bày các tình tiết khả thể thì cũng bao hàm trong đó những tình tiết không tồn tại. Như minh hoạ trong Hình A3, bức tranh bao gồm trong đó các tình tiết khả thể là các đoạn 3-5, đoạn 8-3, đoạn 8-7; nhưng cũng bao gồm trong đó sự không tồn tại của các tình tiết như đoạn 3-7, đoạn 5-7. Vì bức tranh tái hiện sự tồn tại và sự không tồn tại của các tình tiết, thế cho nên nó là mô hình của thực tại (Mệnh đề 2.12).

Hình A3 - Một bức tranh về một sự thực của thế giới minh hoạ trong Hình A1.

 

Chú thích dịch thuật

picture==bức tranh.

present==trình bày.

model == mô hình.

 

Mệnh đề 2.13 đến mệnh đề 2.141

Mệnh đề 2.13 và 2.131 có nghĩa là các đối tượng của thế giới như “con gà”, ‘cậu bé”, ... sẽ tương ứng với những phần tử trong bức tranh; và những phần tử này chính là hình ảnh đại diện của chúng trong bức tranh. Còn như trong minh hoạ ở Hinh A3, nếu mỗi phần tử là một điểm, thì các đối tượng được đại diện bởi những điểm này (và bạn có thể hình dung điểm 3 là đại diện cho “con gà”, điểm 8 là đại diện cho “cậu bé”).

Trong một bức tranh, điểm quan trọng nhất là các phần tử không quan hệ tuỳ tiện với nhau mà là quan hệ với nhau theo một cách thức nhất định. Như trong minh hoạ ở Hình A3, điểm 3 nối được với điểm 8 nhưng không thể nối được với điểm 7. Vì thế, một bức tranh là một sự thực (Mệnh đề 2.141), bởi nó chính là một tập hợp của các tình tiết khả thể hợp thành.

Chú thích dịch thuật

element==phần tử.

stand for == representative of == đại diện cho.

consist in == what constitute == Điểm cốt yếu làm nên.

 

Mệnh đề 2.15 đến mệnh đề 2.1515

Mệnh đề 2.15 hàm ý rằng cấu trúc của bức tranh, tức mối quan hệ xác định giữa các phần tử, tái hiện cách thức các đối tượng/sự vật mà các phần tử của bức tranh đại diện kết hợp với nhau.

Tương tự như dạng thức của đối tượng hay dạng thức của cấu trúc tình tiết, dạng thức biểu hiện của bức tranh là khả năng tồn tại của cấu trúc này; đó là khả năng mà các đối tượng quan hệ với nhau theo một cách thức nhất định.

Sự giống nhau về cấu trúc giữa bức tranh và sự thực mà nó tái hiện là mối liên hệ giữa nó với sự thực đó. Cấu trúc biểu hiện sự thực này là cái làm nên bức tranh và cũng là cái thuộc về bức tranh.

Chính nhờ sự kết nối tương ứng giữa các phần từ của bức tranh với các đối tượng của sự thực mà bức tranh tái hiện sự thực chạm được đến thực tại (tức chạm đến sự tồn tại và sự không tồn tại của các tình tiết hợp thành sự thực).

Lưu ý về cách ví của Wittgenstein về bức tranh tương tự như cái thước đo (Mệnh đề 2.1512 và 2.15121). Như chúng ta biết, một cái thước đo không phải là vật được đo, nhưng nó có một cấu trúc (các vạch chia) cho phép chúng ta đo lường và xác định kích thước của vật đó. Tương tự như vậy, "bức tranh" không phải là bản thân sự thực, nhưng nó có một cấu trúc (các phần tử và cách chúng kết hợp) giống như cấu trúc của sự thực; các phần tử của bức tranh tương ứng với các đối tượng của sự thực. Chính đặc trưng này của bức tranh cho phép chúng ta "đo lường" hay "đánh giá" các sự thực trong thực tại. Nó cho phép chúng ta xác định liệu một sự thực có khớp với cấu trúc của bức tranh hay không, từ đó xác định tính đúng-sai của sự thực.

Chú thích dịch thuật

represent that == thể hiện.

form of representation==pictoral form = dạng thức biểu hiện.

representing relations==pictoral relationship == mối quan hệ biểu hiện.

make it into a picture == make it a picture == làm nên bức tranh.

coordination == correlation==kết nối tương ứng.

 

Mệnh đề 2.16 đến mệnh đề 2.174

Mệnh đề 2.141 phát biểu “một bức tranh là một sự thực”. Vậy thì, hàm ý của Mệnh đề 2.16 là: để một sự thực là một bức tranh thì phải có gì đó đồng nhất giữa bức tranh và cái bức tranh/sự thực đó mô tả (tức thực tại). Cái có chung đó chính là cấu trúc tương đồng của bức tranh và của thực tại; cái khả năng tương đồng giữa hai cấu trúc đó chính là dạng thức biểu hiện của bức tranh. Và ta có thể coi đây chính là điều kiện khả thi để bức tranh tái hiện được thực tại.

 Như trong minh hoạ trong hình A3, hình phía bên phải là một trạng thái của thực tại, một sự thực “cậu bé ôm gà”, còn phía bên phải là ba bức tranh tái hiện lại cảnh “cậu bé ôm gà”. Ba bức tranh này đều là các sự thực. Nhưng để ba sự thực này là bức tranh cúa sự thực ‘cậu bé ôm gà” thì: (i) thứ nhất, chúng đều cần phải có một phần từ tương ứng với đối tượng “cậu bé” và một phần tử tương ứng với đối tượng “con gà”; và (ii) hai phần tử của mỗi bức tranh đều nằm trong quan hệ “ôm” giống như quan hệ của hai đối tượng trong thực tại.

Hình A4: Minh hoạ bức tranh so với thực tại

 

Lưu ý mệnh đề 2.172. Mệnh đề này có nghĩa là, một bức tranh, tuy là sự thực, nhưng không thể tái hiện được cấu trúc của chính nó mà chỉ phô bày được cấu trúc đó ra bên ngoài như chúng ta thấy. Đó là vì một bức tranh tái hiện các đối tượng của nó từ một ví trí nằm bên ngoài nó. Giống như minh hoạ trong hình A4, các bức tranh “cậu bé ôm gà” đều không có đối tượng “cậu bé” và “con gà” xuất hiện trực tiếp ở đó. Các bức tranh (A), (B), (C) chỉ tái hiện lại hai đối tượng từ ba góc quan sát khác nhau ở bên ngoài khung cảnh của mỗi bức  tranh. Và đó chính là lý do chúng ta thấy có vẻ như bức  tranh “vinh hoa” tái hiện các đối tượng trong mối quan hệ “ôm” có vẻ chuẩn xác hơn hai bức tranh kia. Nếu giả sử ta cố gắng bổ sung thêm một phần tử nào đó vào các bức tranh để tái hiện cấu trúc “ôm” cho chuẩn xác hơn (chẳng hạn thêm một đoạn cong nối vào tay của hình ảnh cậu bé trong mỗi bức tranh) thì hành động này thực chất làm thay đối dạng thức của bức tranh ban đầu (không còn là khả năng tồn tại của 2 đối tượng trong một mối quan hệ, mà là khả năng tồn tại của 3 đối tượng trong một mối quan hệ nào khác), khiến nó giờ đây tái hiện một trạng thái thực tại khác nào đó (hoặc trở thành một bức tranh vô nghĩa).

Câu 2.174 có nghĩa là ở góc quan sát nào thì ta sẽ có bức tranh đó vì đó là dạng thức (khả năng) tái hiện thực tại của bức tranh.

Chú thích dịch thuật

after its manner==in the way that it does == theo cái cách mà thực tại bày ra. Biểu ngữ này hàm ý “hành vi” của thực tại mà ta quan sát được.

picture== represent==depict==biểu hiện, tái hiện, miêu tả. Lưu ý, cách dịch, sự thực thì biểu hiện thực tại, còn bức tranh thì tái hiện thực tại, và bức tranh logic hay mệnh đề miêu tả thực tại/thế giới.

form of representation==representational form==dạng thức tái hiện.

rightly/falsely==correctly/incorrectly==chuẩn xác/không chuẩn xác.

 

Mệnh đề 2.18 đến mệnh đề 2.19

Mệnh đề này đưa vào khái niệm dạng thức logic. Dạng thức logic là dạng thức của thực tại, là cái có chung giữa mọi bức tranh với thực tại.

Từ khái niệm dạng thức trong Mệnh đề 2.033, ta có dạng thức logic là khả năng tồn tại của cấu trúc của thực tại (sự thực). Do thực tại và bức tranh có cùng cấu trúc, nên dạng thức logic cũng chính là khả khả năng tồn tại của cấu trúc của bức tranh mà tái hiện thực tại.

Như trong minh hoạ trong Hình A4, các bức tranh đều có chung dạng thức logic R(B,G), trong đó R là mối quan hệ ôm, B là phần tử đại diện cho “cậu bé” và G là phần tử đại diện cho “con gà”. Nếu đây quả thực là những bức tranh phản ánh một thực tại nào đó thì R(B,G) cũng chính là dạng thức của thực tại, tức khả năng tồn tại hoặc không tồn tại của quan hệ “ôm” giữa “cậu bé” và “con gà” trong một trạng thái nào đó của thực tại.

Mọi bức tranh, bất kể đó là bức tranh không gian, bức tranh màu sắc, v.v. đều có dạng thức logic, thế nên mọi bức tranh đều đồng thời là bức tranh logic (Mệnh đề 2.181 và 2.182).

Mệnh đề 2.19 có nghĩa là bức tranh logic (tức bức tranh chỉ có dạng thức logic như bức tranh (D) trong Hình A4) có thể, dù chuẩn xác hay không chuẩn xác, miêu tả thế giới (tức tổng thể các sự thực trong không gian logic). Đó là vì bức tranh logic có các phần tử tương ứng với các đối tượng của thế giới, và có cấu trúc các mối quan hệ giữa các phần tử đồng nhất với cấu trúc các mối quan hệ của các đối tượng của thế giới.

Chú thích dịch thuật

logical form==dạng thức logic

logical picture==bức tranh logic

the form of reality == dạng thức của thực tại

 

Mệnh đề 2.2 đến mệnh đề 2.225

Những mệnh đề này phát biểu về đặc điểm của bức tranh khi nó có chung dạng thức logic với cái nó tái hiện. Đó là: biểu hiện khả năng tồn tại và không tồn tại của các tình tiết, tái hiện một trạng thái khả thể trong không gian logic, chứa đựng khả năng về trạng thái mà nó tái hiện.

Khi tái hiện thực tại, bức tranh có thể tương đồng hoặc không tương đồng với thực tại. Sự so sánh này cho kết quả là chuẩn xác/đúng hoặc không chuẩn xác/sai (Mệnh đề 2.21).

Lưu ý rằng bức tranh tái hiện một trạng thái khả thể trong không gian logic, ví dụ bức tranh “gà chín cựa” tái hiện trạng thái con gà có chín cựa. Trạng thái này làm nên ý nghĩa của bức tranh. Sự tái hiện này hoàn toàn độc lập với việc so sánh bức tranh đó với thực tại (Mệnh đề 2.22). Nếu ý nghĩa của bức tranh tương đồng với thực tại, thì bức tranh mang giá trị đúng; nếu không tương đồng, nó mang giá trị sai.

Tính đúng và tình sai của một bức tranh không phải là một thuộc tính cố hữu của bức tranh. Ta không thể chỉ nhìn vào bức tranh không thôi để nói nó đúng hay sai (Mệnh đề 2.224). Ta chỉ có thể nói một bức tranh đúng hoặc sai khi so sánh nó với thực tại. Vì phải so sánh với thực tại (phải đánh giá qua kinh nghiệm) để nói về tính đúng-sai của bức tranh nên không tồn tại bức tranh đúng tiên nghiệm (Mệnh đề 2.225).

Ví dụ, bức tranh “con gà chín cựa” hay bức tranh “cậu bé ôm gà” đều có ý nghĩa vì chúng đều mô tả một trạng thái khả thể trong không gian logic. Nhìn vào hai bức tranh đó chúng ta không thể nói gì được về “tính đúng” hoặc “tính sai” của chúng. Nhưng để biết chúng có đúng hay không thì phải so sánh với thực tại. Nếu tôi quan sát con gà được bức tranh tái hiện đúng là có chín cựa thì bức tranh đó đúng; còn nếu không thì bức tranh đó sai.

Chú thích dịch thuật

logical form of representation==logico-pictorial form==dạng thức biểu hiện logic. Phân biệt với các loại dạng thức biểu hiện khác như dạng thức không gian, dạng thức màu sắc, v.v.

agree with==tương đồng với.

consist in == constitute == nằm ở.

Nguyên tác: Tractatus-Logico Philosophicus, Ludwig Wittgenstein

Nguồn: Luận về  triết học logic, Đinh Tuấn Minh dịch và chú thích. (Bản thảo v1). 

Dịch giả:
Đinh Tuấn Minh