Khảo luận thứ hai về chính quyền - Chương 7: Xã hội chính trị và xã hội dân sự
§77. Thượng đế, khi tạo nên con người như một sinh vật như thế, theo xét đoán của riêng ngài, sẽ là không tốt nếu cho họ trơ trọi chỉ có vậy, nên đã đặt họ dưới những nghĩa vụ mạnh mẽ, trong sự tất yếu, thuận lợi và có sẵn thiên hướng để đưa họ vào đời sống xã hội, cũng như khiến họ thích hợp với hiểu biết và ngôn ngữ để duy trì và thụ hưởng xã hội đó. Xã hội đầu tiên là giữa người đàn ông và người vợ, là cái tạo khởi đầu cho quan hệ giữa cha mẹ và con cái, và cũng là cái mà đến lúc quan hệ giữa chủ và tớ sẽ được thêm vào. Dù tất cả những điều này có thể, và thường đáp ứng lẫn nhau, tạo nên chi mới là một gia đình, nơi ông chủ hoặc bà chủ của gia đình cũng đã có một loại cai quản thích hợp nào đó đối với gia đình; và mỗi người trong số này, hay tất cả họ cùng với nhau, đã nhanh chóng bước tới một xã hội chính trị, như chúng ta sẽ thấy, nếu xét đến những mục đích, ràng buộc và giới hạn khác nhau của mỗi người trong số họ.
§78. Cái Xã hội giữa vợ và chồng được tạo nên từ một thỏa ước tự nguyện giữa đàn ông và đàn bà, và dù nó chủ yếu là ở quan hệ tình cảm và gắn với thể xác của người khác, cái đóng vai trò là điều cần thiết đối với mục đích chính của nó là sự sinh sản, thì cũng kéo theo với nó là sự nương tựa và trợ giúp hỗ tương, đồng thời cũng là quan hệ của những lợi ích, với vai trò là điều cần thiết không chỉ để hợp nhất sự chăm sóc và tình cảm của họ, mà còn thiết yếu đối với con cái chung của họ, vốn có quyền nhận được sự nuôi dưỡng và cưu mang từ họ, cho đến khi chúng có thể tự làm điều đó cho mình.
§79. Vì mục đích của sự liên hợp giữa nam và nữ không là sự sinh sản thuần túy, mà là sự nối tiếp của giống loài, nên sự liên hợp này phải tiếp tục tồn tại, ngay cả sau khi sinh sản, chừng nào mà nó còn là điều cần thiết cho việc nuôi dưỡng và nương tựa của những người trẻ, vốn duy trì được sự tồn tại nhờ những người đã sinh ra họ, cho đến khi có thể tự thay thế và lo liệu cho chính mình. Ta thấy rằng, quy tắc này, mà sự thông thái vô hạn của đấng Tạo hóa đã sắp đặt cho các tác phẩm từ đôi tay ngài, được những sinh vật cấp thấp hoàn toàn tuân theo. Ở các động vật đẻ con và được nuôi lớn bằng cỏ, sự liên hợp giữa con đực và con cái tồn tại không vượt quá chính cái hành động giao phối. [V]ì bầu vú của con mẹ có thể nuôi dưỡng cho con đến khi nó có thể tự nuôi ăn trên đồng cỏ, con đực làm cha nhưng bản thân nó không lo lắng cho vợ hay cho con trong chuyện ăn uống mà nó không đóng góp được gì. Nhưng ở những thú săn mồi, sự liên
hợp này tồn tại lâu hơn, vì con mẹ không thể sinh sống và nuôi dưỡng con của mình bằng mồi mà một mình nó săn được (một cách sống siêng năng hơn và cũng nguy hiểm hơn thay vì sinh sống trên đồng cỏ); sự trợ giúp của con đực là cần thiết để duy trì gia đình chung của chúng khi các con thú con không thể tự sinh sống, mà chỉ duy trì bằng việc cùng chăm lo của con đực và con cái, cho đến khi con của chúng có thể tự săn mồi cho mình. Cách thức này cũng được quan sát thấy ở tất cả các loài chim (trừ một số giống được nuôi trong nhà, thức ăn dồi dào đã miễn cho con trống khỏi việc nuôi ăn và chăm lo cho đàn con nhỏ), khi mà chim non còn nhu cầu có thức ăn trong tổ, con trống và mái còn tiếp tục làm bạn đời, cho đến khi chim non có thể sử dụng đôi cánh và tự lo liệu cho mình.
§80. Và tôi cho rằng điều chủ yếu là ở đây, nếu không nói đó là nguyên do duy nhất tại sao giống đực và giống cái của loài người bị ràng buộc vào một sự liên hợp lâu dài hơn so với những sinh vật khác. [Đ]ó là vì nữ giới có khả năng thụ thai, với thực tế thường là lại tiếp tục có con khi lần sinh nở mới thì còn rất lâu trước khi đứa trước không còn phụ thuộc vào sự cưu mang dựa trên giúp đỡ của cha mẹ và có thể tự mình thay thế vai trò đó, cũng như có được tất cả những trợ giúp vốn là nghĩa vụ của cha mẹ đối với nó; do đó mà người cha, bị ràng buộc với việc chăm lo cho những người ông đã sinh ra, có nghĩa vụ phải tiếp tục giữ một xã hội vợ chồng với cùng người đàn bà đó, lâu hơn so với các
sinh vật mà con của chúng có thể tự nuôi sống trước khi một mùa sinh sản mới lại đến. [Ở những sinh vật này,] ràng buộc vợ chồng tự tan rã và chúng trở nên tự do cho đến khi thần hôn nhân - vào dịp được nhớ đến theo thường lệ của ông - lại sẽ mời gọi chúng chọn lựa một bạn đời mới. Người ta không thể làm gì hơn là thán phục sự thông thái của đấng Tạo hóa vĩ đại, vì sau khi cho con người biết dự liệu trước và một khả năng nhằm dành cho tương lai cũng như nhằm đáp ứng cho sự cần thiết hiện tại, ngài đã khiến cái xã hội của người đàn ông và vợ tất yếu phải tồn tại lâu dài hơn quan hệ giữa con đực và con cái nơi các sinh vật khác, đến mức là sự cần cù của họ nhận được khuyến khích và lợi ích của họ có thể được kết hợp tốt hơn, để dự phòng và dành dụm nhiều thứ cho những việc chung của họ, là những điều hỗn tạp còn chưa xác định hay những giải pháp dễ dàng và thường xuyên của xã hội vợ chồng, mà có thể sẽ tạo sự xáo trộn mãnh liệt.
§81. Nhưng dù những điều này là sợi dây trói buộc loài người, khiến cho những ràng buộc vợ chồng thêm vững chắc và tồn tại lâu dài nơi con người hơn là ở những loài vật khác, thì nó vẫn đem lại lý do để hỏi, rằng tại sao thỏa ước này, với sự sinh sản và giáo dục được bảo đảm, việc thừa kế được quan tâm, lại có thể không được xác định hoặc bằng sự chấp thuận, hoặc tại một thời điểm nhất định, hoặc trên những bối cảnh nào đó, như bất kỳ thỏa ước tự nguyện nào khác, không là sự tất yếu trong bản
chất của vấn đề, mà cũng không cần thiết đối với những mục đích của nó, vốn luôn cần có cho cuộc sống. [Ý] tôi là những điều như thế lại không được đặt dưới sự ràng buộc của bất kỳ luật xác thực nào, là cái quy định những khế ước như thế là vĩnh viễn.
§82. Nhưng người chồng và người vợ, dù chính là có một quan tâm chung, họ vẫn có những hiểu biết khác nhau, và đôi khi cũng sẽ không tránh khỏi khác biệt về ý chí. Vì thế mà nhất thiết là cái ý chí giữ vai trò quyết định, tức cái có quyền cai trị, phải được đặt ở đâu đó; và nó rơi vào người đàn ông một cách tự nhiên, với tư cách là người có năng lực hơn và mạnh mẽ hơn. Nhưng điều này chỉ động chạm đến những việc thuộc về lợi ích và sở hữu chung của họ, còn thì vẫn để cho người vợ chiếm hữu đầy đủ và tự do đối với những gì mà theo khế ước là quyền riêng biệt của bà, và cho người chồng không nhiều quyền lực đối với cuộc sống của người vợ so với cũng quyền lực này bà ta có đối với chồng. Quyền lực của người chồng khác xa với quyền lực của một ông vua chuyên chế, và nhiều khi người vợ có quyền tự do tách khỏi chồng, ở những trường hợp mà quyền tự nhiên hay khế ước của họ cho phép, dù khế ước đó được làm bởi chính họ trong trạng thái tự nhiên, hay bởi tập quán hoặc luật pháp nơi đất nước họ sống; và con cái, từ sự chia tách như vậy, sẽ theo lá thăm mà về với cha hay với mẹ, như một khế ước như vậy xác định.
§83. Vì tất cả mục đích của hôn nhân đạt được dưới sự cai quản chính trị cũng chẳng khác gì điều
đạt được trong trạng thái tự nhiên, nên quan cai trị dân sự không tước đoạt quyền hay quyền lực của điều tất yếu tự nhiên đối với những mục đích này, tức sự sinh sản và nương tựa, trợ giúp hỗ tương trong thời gian họ cùng chung sống; mà [ông ta] chỉ phân xử những tranh cãi có thể xảy ra giữa người đàn ông với vợ về những vấn đề của họ. Nếu không có sự phân xử này, cùng với việc chủ quyền tối cao tuyệt đối và quyền sinh sát vốn tự nhiên thuộc về người chồng, đã là tất yếu trong quan hệ giữa người đàn ông với vợ, thì sẽ không có đời sống vợ chồng ở bất kỳ đất nước nào mà người chồng được phép có một thẩm quyền tuyệt đối như vậy. Mà mục đích của đời sống vợ chồng cũng không cần đến một quyền lực như thế ở người chồng, bối cảnh của xã hội vợ chồng không đặt quyền lực đó vào ông, nó không cần thiết chút nào cho quan hệ đó cả. [N]ói cho đúng, tính cộng đồng về tài sản và quyền lực đặt lên chúng, sự trợ giúp và cưu mang hỗ tương, cùng những điều khác nữa thuộc về xã hội vợ chồng có thể được đa dạng hóa và được điều tiết từ cái khế ước đã làm nên sự hợp nhất giữa người đàn ông và người vợ trong kiểu xã hội này, trong chừng mực có thể phù hợp với việc sinh sản và nuôi dưỡng con cái cho đến khi chúng có thể tự xoay xở. [K]hông có gì cần thiết cho một kiểu xã hội nào đó khi mà nó không cần thiết cho những mục đích mà vì đó xã hội này được tạo dựng.
§84. Cái xã hội giữa cha mẹ và con cái, và giữa các quyền và quyền lực khác nhau vốn thuộc về họ
một cách riêng biệt, là điều tôi đã đề cập cụ thể trong chương trước và không cần thiết phải nói thêm ở đây. Và tôi cho rằng rõ ràng là nó khác xa với xã hội chính trị.
§85. Chủ nhân và đầy tớ là những cái tên xưa như Trái đất nhưng đã đem lại cho những con người đó thân phận rất khác biệt. [M]ột người tự do tự biến mình thành đầy tớ cho người khác bằng cách bán mình trong một thời gian nhất định, đảm nhận việc phục dịch để đổi lấy tiền lương anh ta nhận; và dù điều này thường đặt anh ta vào trong gia đình của người chủ, dưới một tình trạng kỷ luật vẫn thường gặp của nó, nhưng cũng chỉ cho chủ nhân một quyền lực tạm thời đối với anh ta và không lớn hơn điều được bao hàm trong khế ước giữa họ với nhau. Nhưng còn có một loại đầy tớ khác, mà bằng cái tên riêng biệt chúng ta gọi họ là nô lệ, là những người bị bắt trong chiến tranh và theo quyền tự nhiên thì phải chịu khuất phục trước quyền uy tuyệt đối và quyền lực độc đoán của chủ nhân. Những người này, như tôi nói, đã bị tước đi cuộc sống của riêng họ, và cùng với nó là các quyền tự do, bị mất hết điền sản và rơi vào tình trạng nô lệ, không có khả năng có bất kỳ sở hữu nào. [V]à trong tình trạng đó, họ không thể được xét đến như một phần của xã hội dân sự, nơi mà mục đích chính của nó là sự bảo toàn đối với sở hữu.
§86. Vậy chúng ta hãy xét đến chủ nhân của một gia đình cùng với tất cả những quan hệ phụ thuộc
của vợ, con cái, đầy tớ và nô lệ, thống nhất dưới gia quy của gia đình, là cái mà dù có thể tương đồng đến đâu chăng nữa trong trật tự, chức vụ và cả số lượng của nó với một cộng đồng quốc gia nhỏ, thì vẫn khác rất xa với một cộng đồng như vậy, cả trong hiến chế lẫn trong quyền lực và mục đích. [C]òn nếu nó phải được xem là một nền quân chủ, và do đó càng có nhiều các vị gia trưởng thì càng có nhiều những ông vua chuyên chế, thì nền quân chủ chuyên chế sẽ chỉ có một quyền lực vụn vỡ và ngắn ngủi khi - theo điều đã được nói trên đây - rõ ràng là chủ nhân của gia đình chỉ có một quyền lực hạn chế tách biệt và khác biệt đối với những người trong gia đình, cả về thời gian và phạm vi. Với việc loại bỏ người nô lệ ra (và gia đình là một gia đình lớn, còn quyền lực của ông ta cỡ như khi có nhiều gia trưởng, dù có nô lệ nào hay không trong gia đình của ông), thì ông không có quyền lực lập pháp nào lên sự sinh tử của bất kỳ ai trong số họ; và cũng như ông, không một bà chủ gia đình nào có thể có quyền lực này. Như thế ông chắc chắn không thể có một quyền lực tuyệt đối lên toàn bộ gia đình, mà chỉ có một quyền lực rất hạn chế lên các cá nhân trong đó. Nhưng gia đình hay bất kỳ quan hệ xã hội nào khác của con người, khác biệt như thế nào với chính cái xã hội chính trị, thì cách tốt nhất để chúng ta nhận ra là xem xét khía cạnh mà chính xã hội chính trị bao hàm.
§87. Con người sinh ra, như đã được chứng minh, với một địa vị tự do hoàn hảo và sự thụ hưởng không bị kiểm soát đối với tất cả các quyền và những ân huệ của luật tự nhiên, một cách bình đẳng như bất kỳ ai khác hay như với tất cả lượng người có trên thế giới này. [M]ang bản chất của một quyền lực, địa vị đó không chỉ để bảo toàn sở hữu của một con người, tức là sinh mạng, quyền tự do và điền sản của anh ta, chống lại những phương hại và xâm phạm của người khác; mà còn để xét xử và trừng phạt những vi phạm đối với luật này của người khác, ngay cả bằng cái chết, khi người đó được chứng minh là phạm tội, với thực tế tội lỗi ghê tởm mà ngay trong suy nghĩ của anh ta đã muốn hành động như vậy. Nhưng vì không một xã hội chính trị nào có thể có, mà cũng không thể tồn tại, khi mà không có một quyền lực tự thân nhằm bảo toàn sở hữu, và thêm vào, để trừng phạt người phạm tội đối với người khác trong xã hội; nên ở đó - và chỉ ở đó, là xã hội chính trị, nơi mà mỗi một thành viên của nó đã rời bỏ quyền lực tự nhiên của mình và trao vào tay của cộng đồng, trong tất cả các trường hợp, mà không loại trừ anh ta khỏi quyền cáo kiện đến luật pháp, vốn được thiết lập từ cộng đồng đó, để nhận được sự bảo hộ. Và vì thế, mọi phán xử tư riêng đối với các thành viên cụ thể đều bị loại trừ, cộng đồng trở thành người phân xử, theo những luật lệ thường trực đã được cố định, khách quan và như nhau đối với mọi bên, từ những người nhận thẩm quyền từ cộng đồng để thực thi những luật lệ này, quyết định về tất cả những khác biệt có thể xảy ra giữa các thành viên bất kỳ trong
xã hội, về bất kỳ vấn đề gì thuộc về lẽ phải của họ, và trừng phạt những vi phạm của bất kỳ thành viên nào phạm phải chống lại xã hội, với những hình phạt như đã được luật pháp thiết định, mà theo đó dễ dàng phân biệt là ai có và ai không có trong cùng một xã hội chính trị với nhau. Những người được hợp nhất trong một cơ thể xã hội, đồng thời có luật pháp và cơ quan tư pháp được thiết lập chung để cáo kiện đến, với thẩm quyền quyết định những tranh cãi giữa họ và trừng phạt người vi phạm, là những người cùng chung sống trong một xã hội dân sự. [C]òn những người mà không có chỗ làm nơi cáo kiện chung như thế - tôi muốn nói trên Trái đất vẫn có nơi còn trong trạng thái tự nhiên, thì mỗi người - ở nơi mà vốn không có ai khác - là người phán xử và người thừa hành cho chính mình, tức điều mà, như tôi đã chỉ ra, là một trạng thái tự nhiên hoàn hảo.
§88. Và vì thế mà cộng đồng quốc gia có được quyền lực để gán loại trừng phạt nào dành cho những vi phạm luật pháp mà cộng đồng cho rằng đáng như vậy, đối với những thành viên nào của xã hội phạm phải (quyền định ra luật pháp), cũng như có quyền lực để trừng phạt bất kỳ sự phương hại nào gây ra cho thành viên của nó, từ bất kỳ ai không thuộc về cộng đồng quốc gia (quyền chiến tranh và hòa bình), và tất cả điều này là để bảo toàn sở hữu của mọi thành viên trong xã hội, đến mức cao nhất có thể được. Nhưng dù mỗi người đã gia nhập vào xã hội dân sự và trở thành thành viên của
một cộng đồng quốc gia bất kỳ, và do vậy đã rời bỏ quyền của mình trong việc [trực tiếp] trừng phạt những tội phạm chống lại luật tự nhiên bằng sự truy tố xuất phát từ phán xử tư riêng của chính anh ta, và bằng sự phán xử đối với các tội phạm mà anh đã nhường cho cơ quan lập pháp trong mọi trường hợp có thể cáo kiện đến quan cai trị, thì anh ta đã trao cho cộng đồng quốc gia quyền thực hiện vũ lực của mình, để thực thi các phán xét của cộng đồng quốc gia, bất cứ khi nào mà anh ta kêu gọi đến nó, là cái thật sự là những phán xét của chính anh ta, được chính anh ta hay đại diện của anh ta làm nên. Và ở đây chúng ta thấy nguồn gốc của quyền lực lập pháp và quyền lực hành pháp trong xã hội dân sự, vốn là để phán xét - bằng những luật thường trực - mức độ mà các tội phạm bị trừng phạt khi phạm phải trong cộng đồng quốc gia; và cũng là để xác định, bằng những phán xử theo trường hợp cụ thể căn cứ trên bối cảnh thực tế hiện thời; và cả hai điều này là nhằm sử dụng tất cả vũ lực của mọi thành viên, khi nào nó được cần đến.
§ 89. Vì thế, hễ khi nào có một lượng người hợp nhất trong một xã hội, với tính cách là mỗi người rút khỏi quyền thực thi luật tự nhiên của mình và trao quyền lực đó cho cộng đồng, thì khi đó - và chỉ khi đó, nó là một xã hội chính trị, tức là một xã hội dân sự. Và nếu điều này được thực hiện, hễ nơi nào có một lượng người bất kỳ thuộc trạng thái tự nhiên mà gia nhập vào xã hội và làm nên một cộng đồng nhân dân, thì đó là một cơ thể chính trị, dưới một chính quyền tối cao; hoặc là vào lúc khác, khi ai đó bất kỳ tự liên kết mình vào và hợp nhất với một chính quyền đã được tạo lập rồi, vì bằng biện pháp này anh ta đã ủy quyền cho xã hội - cái tổng thể toàn vẹn, cho cơ quan lập pháp - để định ra luật pháp cho anh ta, theo như lợi ích công của xã hội đòi hỏi, cho cơ quan hành pháp - để có sự trợ giúp mà chính anh ta được hưởng (theo những mức độ của riêng mình). Và điều này đưa người ta ra khỏi trạng thái tự nhiên để bước vào một cộng đồng quốc gia, bằng việc dựng nên một người phán xử thế tục với thẩm quyền quyết định tất cả những tranh cãi và bồi thường cho những phương hại có thể xảy ra cho bất kỳ thành viên nào của cộng đồng này. [N]gười phán xử đó là cơ quan lập pháp hoặc quan cai trị được chỉ định từ đây. Và hễ ở đâu có một lượng người, dù đã liên hợp lại, nhưng không có quyền lực nào có thể đưa ra quyết định như thế để mọi người cáo kiện đến, thì ở đó vẫn chỉ là trong trạng thái tự nhiên.
§90. Do đó mà hiển nhiên, nền quân chủ chuyên chế, với một số người được xem là những người cai quản duy nhất trên thế giới này, là điều thật sự mâu thuẫn với xã hội dân sự, và vì thế không hề là hình thức của chính quyền dân sự. Vì mục đích của xã hội dân sự là để tránh những phiền phức của trạng thái tự nhiên, và nó cũng chính là phương cách giải quyết cho những phiền phức tất yếu theo cùng với trạng thái này, ở việc mỗi người đều là quan tòa cho trường hợp của riêng mình, bằng cách thiết lập một thẩm quyền được nhận biết mà mỗi người của xã hội dân sự đều có thể cáo kiện đến do có bất kỳ sự phương hại nào đã phải nhận lấy hay vì những tranh cãi có thể nảy sinh, và đó là thẩm quyền mà mọi người trong xã hội phải tuân thủ². Nơi đâu mà những con người bất kỳ không có một nơi có thẩm quyền như vậy để cáo kiện đến hầu có được quyết định cho sự khác biệt bất kỳ nào đó giữa họ, nơi đó người ta vẫn sống trong trạng thái tự nhiên, và vì thế mỗi người họ là một quân vương chuyên chế đối với những người sống dưới quyền thế của họ.
§91. Vì quân vương được cho rằng có tất cả nơi mình ông, cả quyền lập pháp lẫn quyền hành pháp, nên không một quan tòa nào được tìm thấy, không một cáo kiện nào được mở ra, đến bất kỳ người nào có thẩm quyền quyết định, công bằng và vô tư, và từ quyết định của người này có thể hy vọng đến việc giảm nhẹ và sửa chữa cho những phương hại hay phiền phức bất kỳ nào đó đã phải chịu từ quân vương hay từ mệnh lệnh của ông. Đến mức mà một quân vương như vậy, dù được trao quyền, là *Sa hoàng hay Lãnh chúa Vĩ đại⁴⁵, hay là [tên gọi] gì khác mà quý vị muốn, với tất cả những gì đặt dưới sự thống trị của ông, thì ông cùng với phần loài người còn lại cũng chỉ là như trong trạng thái tự nhiên mà thôi. Vì ở đâu có hai người bất kỳ mà lại không có luật lệ thường trực và quan tòa thế tục chung để cáo kiện, hầu có được quyết định về những tranh cãi về lẽ phải giữa họ với nhau, ở đó họ vẫn trong trạng thái tự nhiên và sống dưới mọi phiền phức của nó, ngay cả bằng sự khác biệt đáng buồn này đối với thần dân, những người mà nói cho đúng ra, chính là nô lệ của một quân vương chuyên chế³.
Đến mức là trong khi ở trạng thái tự nhiên bình thường, thần dân có quyền tự do để phán xét về quyền của mình và duy trì nó, theo những gì tốt nhất từ quyền lực của mình; thì nay khi sở hữu của anh ta bị xâm đoạt bởi ý chí và mệnh lệnh của nhà vua, anh ta không những không thể cáo kiện, như những người trong xã hội cần phải có, mà còn - như thể anh ta bị thoái hóa so với tình trạng chung của những sinh vật có lý trí - bị từ chối quyền tự do để phán xét về quyền của mình hay để bảo vệ nó, và vì thế mà bị đặt vào tình thế phải hứng chịu tất cả cảnh khổ cực và những phiền phức, đến độ người ta có thể sợ hãi trước một con người nay đang trong trạng thái tự nhiên không bị kiểm tỏa, mà lại còn trở nên thối nát bằng sự xu nịnh và được vũ trang bằng quyền lực.
§92. Đối với ai nghĩ rằng quyền lực chuyên chế sẽ thanh lọc giống nòi và sửa chữa tính hèn hạ nơi bản chất con người, thì chỉ cần đọc lịch sử của thời đại này hay bất kỳ thời đại nào khác, sẽ thấy được rằng thực tế là ngược lại. Giả như ai đó xấc láo và gây ra nhiều tổn hại trong các cánh rừng châu Mỹ, cũng sẽ không chắc là tốt hơn khi ngồi trên một ngai vàng,
nơi mà có lẽ học thức và tôn giáo sẽ được nhận ra là cái để biện minh cho mọi điều ông thực hiện với thần dân của mình, và thanh gươm tức thời làm câm lặng tất cả những người dám đặt câu hỏi. Nền quân chủ chuyên chế bảo vệ cho cái gì, loại người cha nào nơi đất nước của họ làm nên các quân vương, và nó đem lại hạnh phúc, an ninh đến mức độ nào cho một xã hội dân sự, nơi mà loại chính quyền này trưởng thành và hoàn thiện; nếu người nào nghiên cứu về liên hệ gần đây của Ceylon⁴⁶ thì có thể dễ dàng thấy được.
§93. Thật vậy, trong nền quân chủ chuyên chế, cũng như những chính quyền khác của thế giới này, thần dân được cáo kiện đến luật pháp, các quan tòa quyết định về bất kỳ tranh cãi nào và kiểm tỏa những hành vi bạo lực có thể xảy ra giữa thần dân với nhau, người này với người kia. Điều này mỗi người đều nghĩ là cần thiết, và tin rằng cái người đi khắp nơi để tước đi quyền cáo kiện này, đáng được xem là một kẻ thù công khai của xã hội và loài người. Nhưng cho dù đây là điều xuất phát từ một tình yêu chân thật của loài người và xã hội, và lòng nhân hậu như vậy là việc mà tất cả chúng ta chịu ơn đối với nhau, thì vẫn có lý do để nghi ngờ. Vì điều này không hơn cái mà những con
người yêu quyền lực, lợi nhuận hay sự tôn quý của riêng mình có thể làm và phải làm một cách đương nhiên, để giữ cho những động vật này khỏi việc gây tổn hại hay hủy hoại lẫn nhau, mà lao động và lao dịch của họ chỉ là cho sự thỏa mãn và lợi lộc của ông ta, và vì thế được chăm nom không phải từ tình yêu thương nào đó chủ nhân dành cho họ, mà do sự yêu thương đối với chính mình và lợi nhuận đem lại cho ông ta từ họ.
[N]ếu có được hỏi, sự an ninh nào, sự bảo vệ nào có được, trong một trạng thái như vậy, để chống lại bạo lực và áp bức của nhà cai trị chuyên chế này, thì chính câu hỏi này cũng đã hiếm khi mà sinh ra được. Họ sẵn sàng nói với quý vị, rằng điều đó đáng phải kết liễu, vì chỉ có câu hỏi sau khi đã có sự an toàn. Giữa thần dân với thần dân, họ sẽ chấp nhận, rằng chắc hẳn phải có những biện pháp, luật pháp và các quan tòa, vì sự thanh bình và an ninh giữa họ với nhau. Nhưng về phần nhà cai trị, ông phải là tuyệt đối và đứng trên tất cả những tình huống như vậy, vì ông có một quyền lực để gây ra nhiều phương hại và những sai trái, đó là quyền của ông khi thực hiện quyền lực của mình. Hỏi rằng bằng cách nào quý vị được bảo vệ trước sự thiệt hại hay tổn thương mà phía thực hiện nó lại có quyền hành mạnh nhất, thì tức thì đó là tiếng nói của phe phái và nổi loạn. Như thể khi con người thoát khỏi trạng thái tự nhiên và bước vào xã hội, họ đồng ý rằng tất cả họ, trừ ra một người, phải đặt dưới sự kiểm tỏa của luật pháp, rằng con người đó vẫn giữ lấy mọi quyền tự do của trạng thái tự nhiên, lại còn được gia tăng thêm cùng với quyền lực, và thực hiện những quyền đó một cách bừa bãi do được miễn tố. Điều này đưa đến suy nghĩ rằng con người ta thật là ngu xuẩn khi họ đã cẩn thận để tránh đi những nguy hại do chồn hoặc cáo có thể gây ra, nghĩ rằng đã an toàn, nhưng kỳ thực lại đang bị nhai nát bởi sư tử.
§94. Nhưng bất cứ điều gì những kẻ xu nịnh có thể nói để mua vui cho nhận thức của nhân dân, thì nó cũng không cản trở được cảm nhận của con người, và khi họ nhận biết được, rằng có người bất kỳ nào đó, ở vào một địa vị nằm ngoài những ràng buộc của xã hội dân sự mà họ thuộc về nó, và rằng họ không có được sự cáo kiện trần thế nào để chống lại một thiệt hại bất kỳ mà họ có thể nhận lãnh từ quân vương, thì họ thường nghĩ rằng mình đang sống trong trạng thái tự nhiên. [V]ới ông, họ cũng nhận thấy như thế. [V]à họ lo toan, trong thời gian sớm nhất có thể, nhằm có được sự an toàn và an ninh trong xã hội dân sự, vốn được thiết kế nên chính vì điều đó, và chỉ vì điều đó họ mới gia nhập vào. Như thế, dù có lẽ là vào lúc ban đầu (như sẽ được chỉ ra cụ thể hơn sau đây trong phần tiếp theo của luận văn này), một người tốt và xuất sắc nào đó có được khả năng vượt trội hơn số còn lại, có được sự tôn kính như là sự đáp lại cho cái tốt và phẩm hạnh của ông, liên quan đến một loại thẩm quyền tự nhiên vốn là chính yếu của sự cai trị, với việc phân xử những khác biệt của họ; bằng sự chấp thuận ngầm, họ đã chuyển giao quyền lực vào tay của người này, không có bất kỳ cảnh báo nào khác ngoài sự tin chắc mà họ có về sự chính trực và thông thái của ông; thì theo thời gian, việc trao thẩm quyền và tính thiêng liêng của các tập quán (như một số người thuyết phục chúng ta) đã có vào lúc ban đầu, với tính ngây thơ của sự hững hờ và việc không nhìn thấy trước, đã đem lại cho những người kế vị một con dấu bảo đảm khác. Nhân dân nhận thấy sở hữu của mình không được bảo đảm dưới chính quyền này, có thể nói như vậy (trong khi mà chính quyền không có mục đích nào khác ngoài việc bảo toàn sở hữu), và có thể không bao giờ an toàn, cũng không thể yên tâm, mà họ cũng không nghĩ mình đang sống trong xã hội dân sự, cho đến khi cơ quan lập pháp được đặt vào trong số những cơ quan quyền lực tập thể của con người, được gọi là viện nguyên lão, nghị viện, hay bất cứ tên gì mà chúng ta muốn⁴. Theo đó thì có nghĩa là mỗi một con người cá thể trong cơ quan này trở thành đối tượng bình đẳng với những con người bình thường khác trước luật pháp mà chính mỗi cá thể đó, với tư cách thành phần của cơ quan lập pháp, đã thiết lập. [Cũng theo đó], bất kỳ ai đều không thể, dù với thẩm quyền của riêng mình, né tránh sự bắt buộc của luật pháp một khi nó đã được làm nên; mà cũng không bằng bất cứ sự ngụy tạo nào về sự ưu việt để biện hộ cho một sự miễn trừ, và theo đó cho phép những điều như vậy cho riêng mình hay cho những thất bại của những người dựa dẫm vào mình. Không một ai trong xã hội dân sự có thể được miễn trừ trước luật pháp của nó⁵, vì nếu ai cũng có thể làm điều mình nghĩ là thích hợp và không có sự cáo kiện thế tục nào để sửa chữa hay bảo đảm nhằm chống lại bất kỳ nguy hại nào mà một người có thể sẽ gây ra, vậy tôi hỏi, ông ta có hoàn hảo được hay không, hay vẫn còn trong trạng thái tự nhiên, và vì thế không thể là một thành phần hay một thành viên của xã hội dân sự, trừ khi có ai đó nói rằng trạng thái tự nhiên và xã hội dân sự là một và như nhau, điều mà tôi không bao giờ thấy một ai, với tư cách là người bảo trợ cao cả cho trạng thái vô chính phủ, xác quyết.
Nguyên tác: John Locke, Two treatises of Government (Cambridge Text in the History of Political Thought), Cambridge University Press, 1960, 1967, 1988, 17th printing 2005
Bản dịch: Luận thứ hai về chính quyền - chính quyền dân sự, NXB Tri Thức, dịch giả Lê Tuấn Huy
