Tất định luận và tự do lựa chọn - Chương 3: Hai khái niệm về tự do (Phần 1)
Nếu giả sử người ta chưa từng bao giờ bất đồng với nhau về những mục đích của cuộc sống, nếu giả sử tổ tiên của chúng ta chịu ở yên trên Vườn địa đàng, thì thật khó hình dung được những nghiên cứu mà cái ghế giáo sư Chichele bộ môn Lí thuyết Xã hội và Chính trị hiến dâng cho chúng116. Vì rằng những nghiên cứu ấy xuất phát từ sự bất hòa và phát triển dựa trên bất hòa. Có thể có ai đó sẽ thắc mắc điều này dựa trên cơ sở là ngay cả trong xã hội của những người vô chính phủ đầy thánh thiện, nơi chẳng thể có các xung đột nào về các mục đích tối hậu, nhưng các vấn đề chính trị, ví dụ như các vấn đề hiến pháp hay lập pháp, vẫn có thể xuất hiện. Thế nhưng phản bác này dựa trên một lầm lẫn. Một khi các mục đích được thồa thuận rồi, thì vấn đề còn lại chỉ là về các phương tiện, và những vấn đề ấy không phải là chính trị mà là kĩ xảo, tức là những vấn đề ấy có thể được giải quyết ổn thỏa bởi các chuyên gia hay các máy móc, tựa như bàn cãi giữa các lã sư hay các bác sĩ. Chính vì thế mà những người đặt niềm tin vào một điều kì diệu vô bờ bến biến đổi cả thế giới, tựa như chiến thắng chung cuộc của lí trí hay cách mạng vô sản, thì họ phải tin rằng mọi vấn đề chính trị và đạo đức do vậy có thể trở thành những vấn đề kĩ xảo. Đó chính là ý nghĩa câu nói nổi tiếng của Engels (nhại lại Saint-Simon) về chuyện “thay thế việc cai trị những con người bằng việc quản trị các sự vật”117, và những lời tiên tri theo chủ nghĩa Marx về sự tàn lụi của nhà nước và khởi đầu lịch sử đích thực của nhân loại. Cách nhìn ấy bị gọi là Không tưởng bởi những người xem việc suy tưởng về điều kiện ấy của hài hòa xã hội thật hoàn hảo, là trò chơi của trí tưởng tượng vô công rồi nghề. Tuy nhiên, một vị khách đến từ sao Hỏa thăm viếng bất cứ đại học nào hiện nay của Anh - hay Mĩ - có thể sẽ được tha thứ nếu ông ta bị ấn tượng là các thành viên đại học sống trong trạng thái nào đó rất giống với trạng thái điền viên vô tư lự, vì rằng chỉ có các triết gia chuyên nghiệp là dành mọi chú ý nghiêm chỉnh cho các vấn đề cơ bản của chính trị.
Dù sao thì tình trạng này vẫn đáng ngạc nhiên và thật nguy hiểm. Đáng ngạc nhiên bởi vì có lẽ chưa có thời nào trong lịch sử hiện đại lại có số lượng nhiều đến thế những người, cả ở phương Đông lẫn phương Tây, giữ những ý kiến của mình và có các cuộc sống thực thật khác nhau đến thế, và trong một vài trường hợp [các cuộc sống thực khác nhau ấy] bị xáo trộn đầy bạo lực bởi các học thuyết xã hội và chính trị được bám giữ một cách cuồng tín. Thật nguy hiểm bởi vì khi mà các ý tưởng bị bỏ qua bởi những người lẽ ra phải lưu tâm đến chúng - tức là những người đã được huấn luyện để tư duy một cách có phê phán về các ý tưởng - thì những ý tưởng ấy đôi khi có được một sức mạnh thúc đẩy không được kiểm tra và một quyền lực không thể chống lại, đối với những đám đông có thể lớn lên quá bạo lực khiến cho không thể tác động được bằng phê phán duy lí. Hơn một trăm năm trước đây thi sĩ người Đức, Heine, đã cảnh báo người Pháp không nên đánh giá thấp sức mạnh của ý tưởng: những khái niệm triết học, được nuôi dưỡng yên tính trong công việc nghiên cứu của một giáo sư, có khả năng phá hủy cả một nền văn minh. Ông nói về tác phẩm Phê phán lí trí thuần túy của Kant giống như thanh gươm khiến cho thần luận Đức bị chém đầu, và ông mô tả các tác phẩm của Rousseau như vũ khí hoen máu ở trong tay của Robespierre đã phá hủy chế độ cũ; ông đã tiên tri rằng niềm tin đầy lãng mạn của Fichte và Schelling một ngày nào đó sẽ gây tác động khủng khiếp bởi những môn đệ người Đức của họ chống lại nền văn hóa tự do của phương Tây. Các sự kiện đã không chứng thực hoàn toàn cho lời tiên đoán ấy; thế nhưng nếu các giáo sư có thể thực sự nắm giữ và sử dụng sức mạnh chết người ấy, liệu có thể không phải là chỉ những giáo sư khác, hay ít nhất cũng là các nhà tư tưởng khác (chứ không phải các chính phủ hay các ủy ban quốc hội), một mình họ có thể giải giáp chúng chăng?
Các triết gia của chúng ta có vẻ như không ý thức được một cách lạ lùng về những tác động có sức tàn phá trong các hoạt động của họ. Những người tài giỏi nhất trong họ có lẽ quá say sưa với những thành tựu tuyệt vời của mình nên coi khinh một linh vực ít có khả năng được đền đáp, mà ở đó khó có khả năng tạo ra những phát hiện căn bản và tài năng dành cho phân tích nhất thời. Dẫu sao thì bất chấp mọi nỗ lực chia tách chúng theo thói câu nệ hàn lâm cứng nhắc, môn lí thuyết chính trị vẫn còn đan bện vững chắc với mọi hình thức khác của đòi hỏi triết học. Coi thường lĩnh vực tư tưởng chính trị vì đối tượng nghiên cứu không lâu bền với các ranh giới nhập nhèm, chính là không nắm bắt được các khái niệm cố định, các mô hình trừu tượng và các công cụ tinh tế thích đáng cho phân tích logic hay phân tích ngôn ngữ học - đòi hỏi một sự thống nhất phương pháp trong triết học, và vứt bỏ bất cứ thứ gì mà phương pháp không thể xoay xở được - chính là cho phép mình đơn thuần trông vào may mắn ở những niềm tin chính trị thô thiển và chưa được phê phán. Phủ nhận sức mạnh của các ý tưởng và nói rằng các lí tưởng đơn thuần là các lợi ích được che đậy, đó chỉ là một thứ chủ nghĩa duy vật lịch sử rất thô thiển. Có thể không có áp lực của các lực lượng xã hội thì các ý tưởng chính trị là thai nhi chết lưu: nhưng điều chắc chắn là những lực lượng xã hội ấy nếu không khoác cho mình bộ áo các ý tưởng thì vẫn còn là mù quáng và không có định hướng.
Lí thuyết chính trị là một nhánh của triết học đạo đức khởi đầu từ một phát hiện, hay một áp dụng, của các ý kiến đạo đức trong lĩnh vực quan hệ chính trị. Tôi không hàm ý rằng tất cả các vận động lịch sử đều có thể quy giản về các vận động hay va chạm của các ý tưởng hay của các sức mạnh tâm linh, thậm chí tôi cũng không cho rằng các vận động ấy là do tác động (hoặc là những phương diện) của chúng, tôi nghĩ rằng một số triết gia theo chủ nghĩa duy tâm có thể tin như vậy. Nhưng tôi hàm ý rằng, để hiểu được những vận động hay những va chạm như thế thì trước hết phải hiểu được các ý tưởng hay các thái độ đối với cuộc sống liên quan đến chúng, chỉ riêng những ý tưởng ấy mới khiến các vận động đó trở thành một bộ phận của lịch sử nhân loại chứ không đơn thuần là những biến cố tự nhiên. Các thuật ngữ, các ý kiến và các hành động chính trị không dễ hiểu trong bối cảnh của các vấn đề chia rẽ những con người sử dụng chúng. Hậu quả là các thái độ và các hoạt động của chính chúng ta có vẻ như vẫn là tối tăm với chúng ta, trừ phi chúng ta hiểu được các vấn đề chủ đạo trong thế giới của chính chúng ta. Chuyện lớn lao nhất trong đó là cuộc chiến công khai được tiến hành giữa hai hệ thống ý tưởng đưa ra những giải đáp khác nhau và đối chọi nhau đối với vấn đề từ lâu đã trở thành trung tâm của chính trị - vấn đề tuân phục và ép buộc. “Tại sao tôi (hay bất kì ai) lại phải tuân phục một ai đó khác?” “Tại sao tôi lại không sống như tôi thích?” “Liệu tôi có phải tuân phục hay không?” “Nếu tôi không tuân phục, liệu tôi có bị ép buộc hay không?” “Bởi ai, và ở mức độ nào, và nhân danh cái gì, và vì cái gì?”.
Đối với những lời giải đáp cho vấn đề các ranh giới được cho phép của sự ép buộc, các quan điểm đối lập nhau vẫn được duy trì trong thế giới ngày nay, mỗi bên tự cho là có rất nhiều người trung thành với mình. Cho nên tôi thấy là bất cứ phương diện nào của vấn đề này cũng đều đáng nghiên cứu.
Nguồn: Tất định luận và tự do lựa chọn (Liberty, Nhà xuất bản Oxford University Press, 2002) của Isaiah Berlin, do dịch giả Nguyễn Văn Trọng dịch một cách đầy đủ và mạch lạc
