Sự nghèo nàn của thuyết sử luận - Chương 4: Phê phán những luận thuyết duy tự nhiên luận (Phần 7)

Sự nghèo nàn của thuyết sử luận - Chương 4: Phê phán những luận thuyết duy tự nhiên luận (Phần 7)

33. KẾT LUẬN. LỜI KÊU GỌI TÂM HUYẾT CỦA THUYẾT SỬ LUẬN

 

Thuyết sử luận là một trào lưu đã có từ rất xa xưa. Những hình thức cổ xưa nhất của nó, thể như những loại thuyết luân hồi áp dụng cho các thành bang và các chủng tộc, thực ra còn có trước cả quan điểm thần học nguyên thủy vốn cho rằng còn có những cứu cánh nằm ẩn giấu đằng sau những phán quyết tưởng như mù quáng của định mệnh. Mặc dù sự thần thánh hóa của những cứu cánh ngầm ẩn này đã bị gạt phăng khỏi lối tư duy khoa học, nhưng chắc chắn nó vẫn còn lưu lại những tàn tích lẩn quất trong những lí thuyết sử luận hiện đại nhất. Bất cứ phiên bản nào của thuyết sử luận cũng đều thể hiện cảm thức bị tương lai cuốn đi bởi những động lực không ai cưỡng nổi. (Ý kiến phê phán nội tại hay nhất đối với luận thuyết thần học mà tôi được biết (và lại là ý kiến chấp nhận quan điểm tôn giáo và nhất là chấp nhận thuyết sáng thế) nằm ở chương cuối trong tác phẩm Các triết lí chính trị của Plato và Hegel (The Political Philosophies of Plato and Hegel) của M. B. Foster)

Tuy nhiên, có vẻ như các nhà sử luận hiện đại không hề ý thức được về nguồn gốc xa xưa của luận thuyết mà họ đưa ra. Họ tin tưởng - và còn gì khác mà sự tôn sùng chủ nghĩa hiện đại của họ cho phép cơ chứ? - rằng nhãn hiệu thuyết sử luận của bản thân họ là thành quả mới mẻ và táo bạo nhất của tâm trí con người, một thành quả mới lạ tới mức chỉ một số người có đầu óc đủ tân tiến mới hiểu nổi. Thật vậy, họ tin rằng chính họ đã khám phá ra bài toán về sự biến đổi - một trong những bài toán cổ xưa nhất của siêu hình học tư biện. Bằng việc đối lập cách tư duy “năng động” của mình với cách tư duy “tĩnh tại” của tất cả các thế hệ đi trước, họ tin rằng mình có được một cách tư duy tân tiến là nhờ ở việc chúng ta hiện “sống trong khuôn khổ một cuộc cách mạng” vốn đang gia tăng tối đa tốc độ phát triển, đến mức giờ đây ta có khả năng trải nghiệm được sự biến đổi của xã hội chỉ trong vòng một đời người. Câu chuyện đó hiển nhiên chỉ là huyền thoại thuần túy. Những cuộc cách mạng quan trọng đã xảy ra từ trước thời đại của chúng ta, và tận từ thời Heraclitus, sự biến đổi đã được khám phá đi khám phá lại nhiều lần. (Tham khảo cuốn "Xã hội mở và những kẻ thù của nó" của tôi, nhất là từ Chương 2; xem thêm cả Chương 10, trong đó tôi có đưa ra lập luận cho rằng chính sự mất mát trong thế giới bất biến của một xã hội nguyên thủy đã phần nào chịu trách nhiệm về khuynh hướng văn minh và cho thái độ sẵn sàng chấp nhận những niềm an ủi sai lầm của chủ nghĩa toàn trị và của thuyết sử luận)

Việc đưa ra một ý tưởng đáng nể đến thế và được xem như táo bạo và cách mạng đã bộc lộ một thứ chủ nghĩa bảo thủ vô thức; và chúng ta, những người đang tỏ ra ngưỡng mộ lòng nhiệt thành vĩ đại đối với sự biến đổi, hoàn toàn có quyền thắc mắc liệu đây phải chăng chỉ là một mặt của thái độ nước đôi, và liệu có hay không một sự đối kháng nội tại cũng đủ lớn cần phải vượt qua. Nếu đúng thế thì điều này có cơ cắt nghĩa được cho sự nhiệt tình mang tính tôn giáo mà người ta mang nó trong lòng khi tuyên bố rằng thứ triết lí cổ xưa và dễ lung lay này là sự soi rạng mới mẻ nhất, và do đó, là thiên khải vĩ đại nhất của khoa học. Xét đi xét lại thì có khi chính các nhà sử luận lại là những kẻ sợ biến đổi chăng? Và biết đâu phải chăng chính nỗi sợ hãi sự biến đổi này đã khiến họ hoàn toàn bất lực trong việc phản ứng lại với phê phán, và khiến những người khác nhiệt tình đáp trả những lời giáo huấn của họ? Mọi việc diễn ra như thể các nhà sử luận đang cố gắng tự an ủi mình trước sự mất mát của một thế giới bất biến bằng cách bám víu lấy được vào niềm tin cho rằng có thể tiên đoán được sự biến đổi vì nó phải tuân theo một thứ định luật bất biến.

Nguyên tác: The poverty of historicism, Karl Popper (Routledge, 1974)

Bản dịch: NXB Tri thức, Chu Lan Đình dịch.