Chủ nghĩa tả khuynh - Chương 4: Hữu phái và Tả phái

Chủ nghĩa tả khuynh - Chương 4: Hữu phái và Tả phái

Cho đến nay, chúng ta đã dọn dẹp được một khối lượng lớn những “đống đổ nát” về mặt ngữ nghĩa trong hệ thống từ vựng thường được sử dụng ở thế giới phương Tây (mặc dù đôi khi không phải ở Hoa Kỳ). Nhưng giờ đây chúng ta đã đi đến một định nghĩa rất cần thiết, dù không được chấp nhận phổ quát: định nghĩa về các thuật ngữ “hữu” (right) và “tả” (left).

Nếu đã có sẵn một định nghĩa khả thi, thì công việc của chúng ta sẽ là thừa thãi. Điều này cũng đúng nếu chúng ta có thể loại bỏ hoàn toàn hai từ ma thuật này. Tuy nhiên, chúng có thể được sử dụng rất hiệu quả và thường – như những nhãn dán tiện lợi – thực sự làm đơn giản hóa vấn đề.

Khái niệm “hữu” và “tả” đã được sử dụng trong nền văn minh phương Tây từ thời xa xưa với những ý nghĩa nhất định; hữu (tiếng Đức: rechts) mang hàm ý tích cực, tả mang hàm ý tiêu cực. Trong tất cả các ngôn ngữ châu Âu (bao gồm cả các ngôn ngữ hệ Slav và tiếng Hungary), “hữu” (right) được kết nối với “sự đúng đắn / quyền lợi” (ius), một cách đúng đắn, chính đáng; trong tiếng Đức là gerecht (công lý), tiếng Nga là pravo (luật pháp), pravda (sự thật); trong khi đó ở tiếng Pháp, gauche (bên trái) cũng có nghĩa là “vụng về, lóng ngóng” (trong tiếng Bulgaria là levitsharstvo). Từ sinistro trong tiếng Ý có thể có nghĩa là bên trái, xui xẻo hoặc thảm khốc. Từ sinister trong tiếng Anh có thể có nghĩa là bên trái hoặc nham hiểm/đen tối. Từ chỉ “bên phải” trong tiếng Hungary là jobb, đồng thời cũng có nghĩa là “tốt hơn”, trong khi bal (bên trái) được sử dụng trong các danh từ ghép với ý nghĩa tiêu cực: balsors là sự bất hạnh.

Trong ngôn ngữ Kinh Thánh, vào Ngày Phán Xét, những người công chính sẽ ở bên phải và những kẻ bị kết án sẽ ở bên trái. Chúa Kitô ngồi ad dexteram Patris (bên hữu Đức Chúa Cha) như Kinh Tin Kính Nicene đã khẳng định. Ở Anh, việc sắp xếp chỗ ngồi cho những người ủng hộ chính phủ ở bên phải và phe đối lập ở bên trái đã trở thành một phong tục. Và khi tiến hành bỏ phiếu tại Hạ viện, những người bỏ phiếu thuận (“ayes”) sẽ đi vào hành lang bên phải phía sau ghế của Chủ tịch Hạ viện, trong khi những người bỏ phiếu chống (“noes”) đi vào hành lang bên trái. Họ được đếm bởi bốn thành viên, những người này sau đó sẽ thông báo kết quả cho Chủ tịch Hạ viện. Do đó, trong “Bà mẹ của các Nghị viện” (chỉ Nghị viện Anh), bên phải và bên trái ngụ ý sự khẳng định hoặc sự phủ định.

Trên Lục địa (châu Âu), bắt đầu từ Pháp, nơi hầu hết các nghị viện có hình móng ngựa (chứ không phải các dãy ghế dài đối diện nhau), các đảng bảo thủ nhất được xếp ngồi ở bên phải, thường được sát cánh bởi các đảng viên tự do; tiếp đến là các đảng phái ở phe trung dung (những người thường giữ các vị trí chủ chốt trong việc hình thành các liên minh chính phủ); sau đó là những kẻ “cấp tiến” và cuối cùng là những người Xã hội, Xã hội Độc lập, và Cộng sản. Ở Đức sau Thế chiến I, một điều vô cùng đáng tiếc là những người Quốc xã (National Socialists) lại được xếp ngồi ở cực hữu, bởi vì đối với những người có đầu óc đơn giản, những người theo chủ nghĩa dân tộc là những người cánh hữu, nếu không muốn nói là những người bảo thủ – một ý tưởng lố bịch nếu ta nhớ lại rằng Metternich, các gia tộc quân chủ, và những người cực kỳ bảo thủ của châu Âu trong quá khứ đã từng bài trừ chủ nghĩa dân tộc đến mức nào. Quả thực, chủ nghĩa dân tộc là một sản phẩm phụ của Cách mạng Pháp (không kém gì chủ nghĩa quân phiệt).

Rốt cuộc, chủ nghĩa dân tộc (theo cách hiểu thuật ngữ này ở châu Âu, mặc dù không phải ở Mỹ) mang tính đồng nhất bản sắc (identitarian), trong khi lòng yêu nước (patriotism) thì không. Ở Trung Âu, chủ nghĩa dân tộc mang một ý nghĩa thuần túy về sắc tộc và ngụ ý một sự nhiệt tình thái quá về văn hóa, ngôn ngữ, văn hóa dân gian và lối sống. Mặt khác, lòng yêu nước lại đặt trọng tâm vào đất nước. Một người yêu nước sẽ cảm thấy hạnh phúc nếu có nhiều dân tộc cùng chung sống trên Tổ quốc của mình, nơi mà âm hưởng chủ đạo phải là sự đa dạng chứ không phải sự đồng nhất. Một người theo chủ nghĩa dân tộc lại thù địch với tất cả những ai không tuân thủ về mặt sắc tộc. Do đó, chủ nghĩa dân tộc (như được hiểu trên lục địa châu Âu) chính là anh em ruột thịt của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc.

Việc xếp nhầm vị trí của những đảng viên Quốc xã trong tòa nhà Quốc hội (Reichstag) do đó đã khoét sâu thêm sự nhầm lẫn về mặt ngữ nghĩa và tư duy logic vốn đã bắt đầu từ trước đó. Những người cộng sản, xã hội chủ nghĩa và vô chính phủ bị đồng nhất với cánh tả, còn những người phát xít và Quốc xã bị đồng nhất với cánh hữu. Đồng thời, người ta lại phát hiện ra một số điểm tương đồng giữa Đức Quốc xã ở một bên và những người cộng sản ở bên kia. Từ đó, một công thức nổi tiếng và hoàn toàn ngu ngốc đã ra đời: “Chúng tôi phản đối mọi chủ nghĩa cực đoan, dù là từ cánh tả hay cánh hữu. Và, dù sao đi nữa, phe Đỏ và phe Nâu về cơ bản là giống nhau: các thái cực luôn gặp nhau.”

Tất cả những điều này là kết quả của một lối tư duy vô cùng cẩu thả, bởi vì các thái cực không bao giờ gặp nhau. Lạnh cùng cực và nóng cùng cực, khoảng cách xa cùng cực và gần cùng cực, sức mạnh cùng cực và điểm yếu cùng cực, tốc độ nhanh cùng cực và chậm cùng cực, không có cặp nào trong số chúng từng “gặp nhau”. Chúng không trở nên đồng nhất hay thậm chí là giống nhau. Ngay khoảnh khắc người ta phản công và vặn hỏi cái gã đạo mạo vừa mới lên mặt dạy đời về “sự giao nhau của các thái cực” xem rốt cuộc anh ta hiểu thế nào là tả và hữu, anh ta sẽ tỏ ra bất lực trong việc đưa ra bất kỳ một sự phân tích mạch lạc nào về các thuật ngữ này. Anh ta sẽ lấp lửng ám chỉ một cách yếu ớt rằng ở đầu cực là những kẻ phản động – ví dụ như những người phát xít. Khi bị hỏi liệu Cộng hòa Xã hội Ý (Repubblica Sociale Italiana) của Mussolini là một thiết chế phản động hay cánh tả, anh ta sẽ lại lầm bầm điều gì đó về cái nghịch lý giao thoa của các thái cực. Rõ ràng cánh tả mang tính tập thể và tiến bộ; những người Cộng sản là những “người tiến bộ cực đoan”. Nếu anh ta vẫn khăng khăng bám lấy mớ lý lẽ vô nghĩa này, người ta nên chỉ ra cho anh ta thấy rằng một số xã hội châu Phi nguyên thủy với chủ nghĩa tập thể bộ lạc không thực sự “vô cùng tiến bộ” như thế. Đó thường là lúc cuộc trò chuyện đi vào ngõ cụt.

Sai lầm đầu tiên của lối lập luận lỏng lẻo này nằm ở niềm tin đã được đề cập ở trên rằng “các thái cực gặp nhau”; sai lầm thứ hai nằm ở sự thiếu vắng gần như hoàn toàn các định nghĩa rõ ràng về tả và hữu. Nói cách khác, có một sự khiếm khuyết về logic cũng như sự thiếu rõ ràng về ngữ nghĩa. Logic tồn tại độc lập với những ý thích bất chợt của chúng ta, nhưng chúng ta lại hoàn toàn có thể đưa ra những định nghĩa rõ ràng.

Vậy thì, chúng ta hãy thống nhất với nhau rằng cánh hữu là những gì thực sự đúng đắn đối với con người, mà trên hết là sự tự do của anh ta. Bởi vì con người có nhân cách, bởi vì anh ta là một câu đố, một “mảnh ghép” không bao giờ vừa khít hoàn toàn vào bất kỳ bức tranh chính trị hay xã hội đã được dàn xếp sẵn nào, nên anh ta cần “không gian vùng vẫy” (elbowroom). Anh ta cần một Lebensraum (không gian sinh tồn) nhất định, nơi anh ta có thể phát triển, mở rộng, nơi anh ta sở hữu một vương quốc cá nhân nhỏ bé. “L’enfer, c’est les autres” – “Địa ngục, đó chính là kẻ khác,” như Jean-Paul Sartre, một nhà hiện sinh ngoại giáo, đã nói vào cuối vở kịch Huis Clos của ông. Mối đe dọa vĩ đại đang bủa vây quanh chúng ta. Nó nằm ở trục dọc vì nó giáng xuống từ trên cao, nhưng nó cũng nằm ở trục ngang vì nó tấn công chúng ta từ mọi phía. Trong một thứ chủ nghĩa tập thể được nhà nước bảo hộ, chính quyền áp đặt, và – tệ hơn nữa – được xã hội tán thành, thì tự do của chúng ta, nhân cách “phương Tây” của chúng ta, sự phát triển tâm hồn của chúng ta, hạnh phúc đích thực của chúng ta đều đang bị đe dọa.

Và tất cả các “chủ nghĩa” (isms) năng động, to lớn trong 200 năm qua đều là những phong trào quần chúng tấn công vào tự do và sự độc lập của mỗi cá nhân – ngay cả khi chúng luôn giữ chữ “tự do” trên môi. Về mặt cương lĩnh, điều này được thực hiện nhân danh đủ loại lý tưởng nghe có vẻ cao cả hoặc thậm chí là thấp kém: Quốc gia, chủng tộc, mức sống tốt hơn, “công bằng xã hội”, “an ninh”, niềm tin hệ tư tưởng, sự phục hồi các quyền cổ xưa, hay cuộc đấu tranh vì một thế giới hạnh phúc hơn cho tất cả chúng ta. Nhưng trên thực tế, động cơ thúc đẩy của những phong trào này luôn là tham vọng điên cuồng của những trí thức có tài hùng biện hoặc ít nhất là có tài văn chương, cùng với việc huy động thành công những đám đông sục sôi lòng ghen tị và khát khao “trả thù”.

Cánh hữu phải được đồng nhất với tự do cá nhân, với sự vắng bóng của những viễn cảnh không tưởng mà việc hiện thực hóa chúng – ngay cả khi có khả thi – cũng sẽ đòi hỏi những nỗ lực tập thể khổng lồ; cánh hữu đại diện cho những hình thái đời sống tự do và nảy nở một cách hữu cơ. Và điều này đến lượt nó lại ngụ ý một sự tôn trọng dành cho truyền thống. Cánh hữu mới thực sự mang tính tiến bộ, trong khi chẳng có bước tiến thực sự nào trong chủ nghĩa không tưởng – thứ hầu như luôn đòi hỏi, giống như trong bài Quốc tế ca, việc “quét sạch” quá khứ: du passé faisons table rase (tiếng Pháp) hay dyelayem gladkuyu dosku iz proshlago! (tiếng Nga). Nếu quay trở lại điểm số không, chúng ta lại đứng ở nấc thang dưới cùng và chúng ta lại phải bắt đầu lại từ hai bàn tay trắng. Bernard xứ Chartres từng nói rằng các thế hệ “giống như những người lùn ngồi trên vai những người khổng lồ, nhờ đó có thể nhìn thấy nhiều thứ hơn và ở một khoảng cách xa hơn so với tổ tiên của họ.”

Thực tế mà nói, hầu hết các xã hội không tưởng, mặc dù mang khí chất “vị lai”, nhưng lại luôn rao giảng về sự quay trở lại một thời kỳ hoàng kim giả định, tỏa sáng rực rỡ trong những gam màu hấp dẫn nhất của một phiên bản được lãng mạn hóa một cách dối trá. Một người cánh hữu chân chính không phải là người muốn quay trở lại thiết chế này hay thiết chế kia chỉ vì mục đích hoài cổ; trước tiên anh ta muốn tìm ra điều gì là chân lý vĩnh cửu, là giá trị vĩnh viễn, và rồi sau đó mới phục hồi hoặc thiết lập lại nó, bất kể nó có vẻ lỗi thời, cổ xưa, hay đương đại, hoặc thậm chí là chưa từng có tiền lệ, mới toanh, “cực kỳ hiện đại”. Những chân lý cũ có thể được tái khám phá, những chân lý hoàn toàn mới có thể được tìm ra. Người Cánh Hữu không sở hữu một tâm trí bị trói buộc bởi thời đại, mà là một tâm trí hoàn toàn tự chủ. Nếu là một tín hữu Cơ Đốc, thì theo lời của Sứ đồ Phêrô, anh ta là người quản gia của một Basileion Hierateuma – một Chức Tư tế Hoàng gia.

Cánh hữu đại diện cho tự do, một lối tư duy cởi mở không định kiến, một sự sẵn sàng bảo tồn các giá trị truyền thống (miễn là chúng là những giá trị đích thực), một góc nhìn cân bằng về bản tính con người, coi con người không phải là dã thú cũng chẳng phải thiên thần, đồng thời nhấn mạnh vào tính độc bản của con người – những cá thể không thể bị biến thành hoặc bị đối xử như những con số hay những mật mã vô tri. Nhưng cánh tả lại là kẻ bênh vực cho những nguyên tắc hoàn toàn trái ngược. Nó là kẻ thù của sự đa dạng và là kẻ cổ xúy cuồng tín cho sự đồng nhất. Sự rập khuôn được nhấn mạnh trong mọi xã hội không tưởng của cánh tả – một thiên đường nơi tất cả mọi người đều “như nhau”, nơi sự đố kỵ không còn tồn tại, nơi “kẻ thù” hoặc là đã bị xóa sổ, hoặc phải sống lây lất ngoài cổng thành, hoặc bị chà đạp nhục nhã. Cánh tả căm ghét sự khác biệt, sự lệch chuẩn và sự phân tầng. Bất kỳ hệ thống cấp bậc nào mà nó chấp nhận đều chỉ mang tính “chức năng”. Từ “Một” chính là tư tưởng chủ đạo: Chỉ nên có một ngôn ngữ, một chủng tộc, một giai cấp, một hệ tư tưởng, một tôn giáo, một mô hình trường học, một bộ luật cho tất cả mọi người, một lá cờ, một quốc huy và một nhà nước thế giới tập quyền duy nhất.

Các khuynh hướng tả và hữu không chỉ hiện diện trong lĩnh vực chính trị mà còn len lỏi vào nhiều lĩnh vực, mối quan tâm và nỗ lực khác của con người. Lấy cấu trúc của nhà nước làm ví dụ. Những người cánh tả tin vào sự tập quyền mạnh mẽ. Những người cánh hữu là những “người theo chủ nghĩa liên bang” (theo nghĩa của châu Âu), những “người bảo vệ quyền của các tiểu bang”, bởi lẽ họ tin vào các quyền và đặc quyền của địa phương; họ đại diện cho nguyên tắc bổ trợ (principle of subsidiarity). Nói cách khác, các quyết định nên được đưa ra và thực thi ở cấp độ thấp nhất – bởi cá nhân, gia đình, ngôi làng, thị trấn, thành phố, quận, tiểu bang, và chỉ đến bước cuối cùng mới do cấp cao nhất định đoạt, tức là bởi chính phủ tại thủ đô của quốc gia. Việc chia cắt các tỉnh lỵ cũ huy hoàng của Pháp cùng các nghị viện địa phương của chúng, rồi thay thế bằng các hạt (départements) nhỏ bé, được đặt tên theo một vài đặc điểm địa lý và phụ thuộc hoàn toàn vào chính phủ Paris, chính là một cuộc “cải cách” mang đậm tính cánh tả điển hình.

Hãy nhìn vào giáo dục. Người cánh tả luôn là kẻ tôn thờ chủ nghĩa nhà nước (statist). Anh ta mang trong mình đủ mọi sự bất mãn và thù địch chống lại sáng kiến cá nhân và doanh nghiệp tư nhân. Ý niệm về việc nhà nước thâu tóm làm mọi thứ (cho đến khi, cuối cùng, nó thay thế mọi sự tồn tại của tư nhân) chính là Giấc mộng Vĩ đại của Cánh tả. Do đó, thiết lập các trường học do thành phố hoặc tiểu bang quản lý – hoặc có một bộ giáo dục kiểm soát mọi khía cạnh của nền giáo dục – là một khuynh hướng cánh tả. Chẳng hạn, có một câu chuyện nổi tiếng về vị Bộ trưởng Giáo dục Pháp, người rút đồng hồ bỏ túi ra, liếc nhìn mặt số và nói với vị khách của mình: “Vào chính khoảnh khắc này, tại 5.431 trường tiểu học công lập, bọn trẻ đang cùng viết một bài luận về những niềm vui của mùa đông.”

Các trường học của giáo hội, trường xứ đạo, trường tư thục, hay gia sư riêng hoàn toàn không dung hợp được với tâm thức của cánh tả. Lý do cho thái độ này thì có vô số. Ở đây không chỉ liên quan đến sự khoái trá đối với quyền lực nhà nước, mà ý tưởng về sự đồng nhất và bình đẳng cũng mang tính quyết định; tức là, ý niệm cho rằng những khác biệt xã hội trong giáo dục phải bị xóa bỏ và tất cả học sinh phải được trao cơ hội để tiếp thu cùng một lượng kiến thức, cùng một loại thông tin, theo cùng một cách thức và ở cùng một mức độ. Điều này sẽ giúp chúng ta tư duy theo những cách đồng nhất, hoặc ít nhất là tương tự nhau.

Thật tự nhiên khi điều này lại càng đặc biệt đúng đối với những quốc gia nơi “chủ nghĩa dân chủ” (democratism) đang được thúc đẩy như một hệ tư tưởng. Ở đó, người ta sẽ nỗ lực tìm cách phớt lờ những khác biệt về chỉ số IQ cũng như nỗ lực của từng cá nhân. Đôi khi, điểm số và sổ liên lạc sẽ bị bãi bỏ và việc xét lên lớp sẽ được thực hiện một cách tự động. Rõ ràng là từ góc độ học thuật, điều này mang lại những hậu quả thảm khốc, nhưng đối với một kẻ cuồng tín hệ tư tưởng thực thụ, điều này chẳng thành vấn đề. Khi được thông báo rằng các sự kiện thực tế không hề ăn khớp với những ý tưởng của mình, Hegel từng gay gắt đáp trả: “Um so schlimmer für die Tatsachen” – thế thì càng xui xẻo cho thực tế.

Cánh tả không ưa tôn giáo vì nhiều lý do. Các hệ tư tưởng của nó, bộ máy nhà nước toàn năng và bao trùm mọi mặt của nó luôn đòi hỏi sự trung thành tuyệt đối. Khi tôn giáo xuất hiện, ít nhất một sự trung thành khác (với Thiên Chúa) – nếu không muốn nói là cả sự trung thành với Giáo hội – sẽ chen vào giữa. Trong việc đối phó với tôn giáo có tổ chức, cánh tả áp dụng hai phương thức hoàn toàn trái ngược nhau. Một là hình thức tách biệt Giáo hội và Nhà nước nhằm loại bỏ tôn giáo khỏi đời sống công cộng, đồng thời tìm cách làm nó teo tóp bằng cách không cho phép nó tồn tại ở bất kỳ đâu ngoài chốn linh thiêng. Phương thức còn lại là biến Giáo hội thành một tổ chức do nhà nước hoàn toàn kiểm soát. Trong hoàn cảnh đó, Giáo hội bị bóp nghẹt cho ngạt thở, chứ không phải bị bỏ đói cho đến chết. Phát xít Đức và Liên Xô đã sử dụng phương pháp trước; Tiệp Khắc vẫn đang áp dụng phương pháp sau.

Tuy nhiên, thiên kiến chống tôn giáo của cánh tả không chỉ dựa vào tinh thần chống giáo sĩ, chống giáo hội hay sự thù địch đối với việc tồn tại của một thể chế khác, một tổ chức khác bên trong ranh giới Nhà nước. Nó lấy động lực không chỉ từ sự ghen tị mà trên hết là từ sự phủ nhận ý niệm về một trật tự siêu nhiên, một trật tự tâm linh. Cánh tả, về bản chất, mang tính duy vật.

“Nhà nước quan phòng” (Provident State) – hay “Nhà nước nô dịch” (Servile State) theo cách gọi của Hilaire Belloc – rõ ràng là sản phẩm của tư duy tả khuynh. Chúng ta sẽ không gọi đó là “Nhà nước Phúc lợi” (Welfare State) vì mọi nhà nước đều tồn tại vì phúc lợi của công dân; ở đây, một cái tên tốt đẹp đã bị lạm dụng cho một điều tồi tệ. Trong lời tiên đoán cuối cùng của Alexis de Tocqueville trong tác phẩm Nền Dân trị Mỹ (Democracy in America), khả năng – hay đúng hơn là xác suất – về sự tiến hóa toàn trị của nhà nước dân chủ hướng tới nhà nước quan phòng đã được dự báo với độ chính xác rất cao. Ở đây, một lần nữa, hai ước muốn của người tả khuynh được hiện thực hóa: sự mở rộng quyền lực của chính phủ và sự phụ thuộc của cá nhân vào nhà nước – nơi kiểm soát số phận của họ từ nôi cho tới mộ. Mọi chuyển động của công dân: sự sinh ra và cái chết, hôn nhân và thu nhập, bệnh tật và giáo dục, huấn luyện quân sự và di chuyển, bất động sản và các chuyến du hành nước ngoài – mọi thứ đều phải nằm trong tầm nắm bắt của nhà nước.

Người ta có thể tiếp tục kéo dài danh sách này đến mức phát chán. Dĩ nhiên, chúng ta phải nói thêm rằng trong thực tế vận hành, luôn có những ngoại lệ vì khuynh hướng tả là một căn bệnh không nhất thiết lan rộng như một hệ tư tưởng nhất quán và bài bản. Đâu đó, một biểu hiện đơn lẻ vẫn có thể xuất hiện ở “phe đối lập”. Đôi khi, lấy một ví dụ, cái nhãn “hữu khuynh” đã được dán cho chính phủ đương thời của Tây Ban Nha. Tuy nhiên, rõ ràng là một số đặc điểm của chính quyền Franco lại mang bản chất tả khuynh, chẳng hạn như xu hướng tập quyền mạnh mẽ, sự hạn chế đối với các ngôn ngữ ngoài tiếng Castilia, sự kiểm duyệt, hay sự độc quyền của các công đoàn do nhà nước điều hành. Đối với hai khuyết điểm đầu tiên – khuynh hướng tả khuynh vốn dĩ là những khuyết điểm – người ta phải nhớ đến ảnh hưởng của quá khứ lịch sử gần nhất.

Chủ nghĩa dân tộc (theo khái niệm của châu Âu) là cánh tả, và chủ nghĩa dân tộc của xứ Catalonia, Basque và Galicia đương nhiên mang một tính chất tả khuynh cực đoan chống lại sự tập quyền của “người Castilia”. Do đó, ở Madrid, hầu hết các phong trào thúc đẩy các quyền và đặc quyền địa phương, cho dù mang tính chính trị hay sắc tộc, đều bị nghi ngờ là cánh tả, vì mặc nhiên chống lại chế độ hiện tại cũng như sự thống nhất của Tây Ban Nha. (Tây Ban Nha là “Một, Vĩ đại, Tự do”!) Khá kỳ lạ – nhưng dễ hiểu đối với bất kỳ ai có kiến thức thực sự về lịch sử Tây Ban Nha – phe cực hữu ở Tây Ban Nha, dĩ nhiên được đại diện bởi những người Carlist chứ hoàn toàn không phải những người Falange, lại ủng hộ chế độ liên bang (mang tính “cục bộ”, chống tập quyền) theo nghĩa của châu Âu. Những người Carlist phản đối các xu hướng tập quyền của Madrid và khi chính phủ trung ương vào cuối năm 1964 nỗ lực hủy bỏ các đặc quyền của vùng Navarra (các fueros), những người Carlist ở Navarra gần như đã phát ra lời kêu gọi nổi dậy – ngay lúc đó, chính quyền nhanh chóng tuyên bố các bước chuẩn bị của mình là một “sai lầm” và phải nhượng bộ.

Tất cả các phong trào bảo thủ ở châu Âu đều ủng hộ chế độ liên bang và phản đối sự tập quyền. Do vậy, chẳng hạn ở Catalonia, chúng ta bắt gặp mong muốn tự trị và việc gìn giữ, phát triển ngôn ngữ Catalan ở cả những người ủng hộ phe cực hữu lẫn phe cánh tả. Những người vô chính phủ khét tiếng ở Catalonia luôn là những người ủng hộ sự tự trị, nhưng chủ nghĩa vô chính phủ chính thống luôn là một sự pha trộn (mixtum compositum) kỳ lạ. Những viễn cảnh tối hậu của nó mang tính tả khuynh, về bản chất là xã hội chủ nghĩa, nhưng khí chất của nó lại mang tính hữu khuynh.

Phần lớn “chủ nghĩa cộng sản” ngày nay ở Ý và Tây Ban Nha chỉ đơn thuần là “chủ nghĩa vô chính phủ bị công chúng hiểu lầm” (“popularly misunderstood anarchism”). Nhưng mặt khác, cũng có một chi tiết quan trọng là vào năm 1937, một cuộc chiến công khai đã nổ ra ở Barcelona giữa những người cộng sản và những người vô chính phủ. Và chính những người Vô chính phủ đã chống lại những người Cộng sản ở Nga lâu hơn bất kỳ nhóm nào khác, cho đến năm 1924, họ đã bị tiêu diệt theo đúng nghĩa đen trong tất cả các nhà tù và trại giam của Liên Xô. Hy vọng “thuần hóa” họ đã bị từ bỏ.

Hãy lấy chế độ Metternich ở Trung Âu làm ví dụ. Về cơ bản, nó mang đặc tính hữu khuynh, nhưng vì ra đời trong sự phản kháng có ý thức chống lại Cách mạng Pháp, nó đã – một điều bi thảm thường hay xảy ra – học hỏi quá nhiều từ kẻ thù. Đúng là nó chưa bao giờ trở thành toàn trị, nhưng nó lại khoác lên mình những đặc điểm và khía cạnh độc tài mà người ta phải gọi là tả khuynh, chẳng hạn như hệ thống cảnh sát tinh vi được xây dựng dựa trên hoạt động tình báo, mật thám, kiểm duyệt và kiểm soát về mọi phương diện.

Điều tương tự cũng đúng với chủ nghĩa Maurras (Maurrasism), vốn cũng là một sự pha trộn kỳ lạ giữa các quan niệm hữu khuynh và tả khuynh, mang đặc trưng là những mâu thuẫn nội tại sâu sắc. Charles Maurras đồng thời là một người theo chủ nghĩa quân chủ và chủ nghĩa dân tộc. Tuy nhiên, chế độ quân chủ về cơ bản lại là một thể chế siêu quốc gia. Thông thường, vợ, mẹ của vị quốc vương và hôn phối của con cái ngài đều là người ngoại quốc. Với hai ngoại lệ (Serbia và Montenegro), tất cả các hoàng tộc trị vì có chủ quyền ở châu Âu vào năm 1910 đều có nguồn gốc ngoại quốc. Ngược lại, chủ nghĩa dân tộc mang tính “dân túy”, và các bản hiến pháp cộng hòa điển hình luôn khăng khăng rằng tổng thống phải là người bản xứ. Không thể phủ nhận rằng Maurras có những kiến giải xuất chúng và rất nhiều người bảo thủ ở châu Âu đã vay mượn tư tưởng của ông. Nhưng hoàn toàn không phải ngẫu nhiên mà ông lại hợp tác với Đức Quốc xã khi chúng chiếm đóng đất nước mình. Trong phần lớn cuộc đời, ông cũng không phải là một tín hữu Cơ Đốc. Tuy nhiên, ông đã trở về với Đức tin một thời gian trước khi qua đời. 8

Do vậy, nếu ta hiểu một cách khái quát rằng cánh hữu gắn liền với tự do, tính cá nhân và sự đa dạng, còn cánh tả gắn liền với sự nô dịch, chủ nghĩa tập thể và tính đồng phục, thì chúng ta đang sử dụng các phạm trù ngữ nghĩa hoàn toàn hợp lý. Khi đó, cái lối giải thích ngớ ngẩn cho rằng chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa Quốc xã giống nhau vì “các thái cực luôn gặp nhau” sẽ không còn khiến chúng ta phải bận tâm nữa. Đứng cùng phe với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa phát xít, và thứ tả khuynh đặc biệt mơ hồ mà ở Hoa Kỳ bị gọi một cách trớ trêu là chủ nghĩa tự do (liberalism), còn có một hiện tượng sẽ được giải thích ở chương 14. Tuy nhiên, điều này lại không đúng với chủ nghĩa tự do ở châu Âu. Đáng chú ý là Đảng Tự do Ý (PLI) lại có vị trí ghế ngồi (trong quốc hội) ở bên phải Đảng Dân chủ Cơ Đốc (Democristiani), ngay cạnh những người bảo hoàng.

Khái niệm cánh hữu và cánh tả sẽ luôn được sử dụng trong cuốn sách này theo đúng ý nghĩa mà chúng ta đã phác thảo ở đây, và chúng tôi tin chắc rằng sự phân định về ngữ nghĩa này thực sự mang tính sống còn khi bàn luận về bối cảnh chính trị của thời đại chúng ta.

Nguyên tác: Free to choose: A personal statement, Milton & Rose Friedman

Bản dịch: Tự do lựa chọn: một bản tuyên ngôn cá nhân, nhóm dịch giả gồm Đinh Tuấn Minh, Chu Diệu Hiền, Nguyễn Minh Huệ, Nguyễn Thùy Liên

Dịch giả:
Lê Lam Kiều