Sự nghèo nàn của thuyết sử luận - Chương 3: Phê phán những luận thuyết phản tự nhiên luận (Phần 2)

Sự nghèo nàn của thuyết sử luận - Chương 3: Phê phán những luận thuyết phản tự nhiên luận (Phần 2)

21. “KIẾN DỰNG PHÂN MẢNH” ĐỐI LẠI “KIẾN DỰNG KHÔNG TƯỞNG”

Mặc dù còn nhiều những sự liên tưởng đáng tranh luận gắn với thuật ngữ “kiến dựng xã hội” [social engineering], tôi vẫn quyết định dùng cụm từ “kiến dựng xã hội theo lối phân mảnh” để mô tả việc áp dụng vào thực tiễn những kết quả của công nghệ phân mảnh (không nhất trí với việc sử đụng thuật ngữ “kiến dựng xã hội” (theo nghĩa “phân mảnh”), giáo sư Hayek có ý kiến phản đối cho rằng công việc đặc trưng của người kĩ sư [tức hoạt động kiến dựng] đòi hỏi phải tập trung toàn bộ tri thức [hay kiến thức] có liên quan vào một đầu óc duy nhất, trong khi mọi vấn đề xã hội đích thực lại được đặc trưng bởi việc những tri thức cần sử dụng đến không thể được tập trung theo lối ấy (xem Hayek, Collectivist Economic Planning, 1935, trang 210). Tôi đồng ý rằng điều này có một tầm quan trọng cơ bản. Nó có thế được phát biểu dưới dạng một giả thuyết mang tính công nghệ như sau: “Trong một hệ thống quyền lực mang tính kế hoạch, không thể tập trung được đủ mọi kiến thức cần thiết có liên quan nhằm thực hiện những mục đích như thỏa mãn những nhu cầu cá nhân hay tận dụng tài năng hoặc năng lực chuyên môn.” (Một giả thuyết tương tự cũng có thể được đặt ra để nói về việc không thể có khả năng có được những sáng kiến chủ động tập trung liên quan đến những nhiệm vụ nói trên). Giờ đây ta có thể biện hộ cho việc sử dụng thuật ngữ “kiến dựng xã hội” bằng cách lưu ý rằng người kĩ sư buộc phải sử dụng kiến thức công nghệ thuộc phạm vi những giả thuyết cho anh ta biết rõ giới hạn của sự chủ động sáng tạo của anh ta cũng như biết rõ được những kiến thức mà anh ta có).

Thuật ngữ này rất tiện dụng vì ta đang cần một cách thể hiện bao quát được các hoạt động xã hội, cả tư lẫn công, để trong việc thực hiện một số mục tiêu hay mục đích nào đó, với cách biểu hiện này, ta có thể tận dụng được mọi kiến thức về công nghệ có trong tay (nếu có thể tiếp thu được thì khối kiến thức này bao gồm cả kiến thức về những giới hạn của tri thức, như đã được giải thích ở chú thích trên). Kiến dựng xã hội theo lối phân mảnh cũng tương tự như phép kiến dựng trong vật lí học nếu xét đến những mục đích với tư cách là những thứ không còn thuộc phạm vi công nghệ (tất cả những gì công nghệ có thể nói về các mục đích chỉ là liệu chúng có tương hợp hay không hoặc liệu chúng có khả thi hay không mà thôi). Chính đây là điểm khác biệt so với quan niệm của thuyết sử luận, một quan niệm cho rằng mọi mục đích trong hoạt động của con người đều phụ thuộc vào những động lực lịch sử, và do đó chúng đều thuộc phạm vi ảnh hường của những động lực ấy.

Cũng giống hệt nhiệm vụ chính của người kĩ sư cơ khí là thiết kế máy móc, ta sửa và đưa chúng vào sử dụng, nhiệm vụ của người kĩ sư xã hội khi áp dụng kiến thức xã hội học phân mảnh là thiết kế các thiết chế xã hội, là cải tạo và vận hành các thiết chế sẵn có. Cụm từ “thiết chế xã hội” được dùng ở đây với hàm nghĩa rất rộng, bao gồm toàn bộ các tổ chức mang đặc tính tư cũng như đặc tính công. Do vậy, tôi sẽ sử dụng cụm từ đó để mô tả một tổ chức tác nghiệp, dù đó là một cửa hiệu nhỏ hay một công ti bảo hiểm, hay dù đó là một “hệ thống giáo dục”, một lực lượng cảnh sát, một giáo hội hay một toà án. Một công trình sư hay một kĩ sư kiến dựng phân mảnh phải biết thừa nhận rằng chỉ có một số nhỏ các thiết chế xã hội là được thiết kế một cách có ý thức, phần lớn còn lại chỉ “mọc lên” với tư cách những kết quả không được thiết kế hoạt động của con người. (Hai quan điểm này - cho rằng các thiết chế xã hội hoặc là “được thiết kế” hoặc là chúng chỉ đơn giản “mọc lên” - tương ứng với những quan điểm của các nhà lý luận thuộc trường phái Kế ước Xã hội [Social Contract] và của những người phê phán họ, chẳng hạn Hume. Nhưng Hume không hề từ bỏ quan điểm “chức năng” hay “duy công cụ” về các thiết chế xã hội, vì ông nói rằng mọi người không thể làm gì được nếu thiếu chúng. Có thể củng cố lập trường này bằng những kiến giải của Darwin về đặc tính công cụ của các thiết chế không được thiết kế - như ngôn ngữ chẳng hạn - nếu không có được một chức năng hữu hiệu, chúng sẽ không có cơ may tiếp tục tồn tại. Theo quan điểm như vậy, những thiết chế xã hội không được thiết kế để có thể nổi hiện với tư cách là những hệ quả không chủ ý của các hành động có lý tính: chẳng hạn như một con đường đất lớn có thể được hình thành không do một chủ ý nào mà chỉ do người dân cảm thấy tiện lợi trong việc sử dụng một con đường mòn sẵn có [như Descartes nhận xét]. Tuy thể, vẫn cần lưu ý rằng cách tiếp cận từ góc độ công nghệ là cách tiếp cận khá độc lập với mọi vấn đề về “nguồn gốc”.)

Nhưng dù sự thật này có gây ấn tượng mạnh tới đâu chăng nữa cho anh ta thì một công trình sư hay kĩ sư vẫn tiếp tục xem xét chúng từ góc độ “chức năng” hoặc “công cụ” (về cách tiếp cận theo quan điểm “chức năng” xin xem, chẳng hạn B.Malinowski, “Anthropology as the Basis of Social Science” trong cuốn Human Affairs, đặc biệt từ trang 206 và từ trang 239). Anh ta sẽ xem chúng như những phương tiện dùng để đạt được một số mục đích nhất định; như những cỗ máy hơn là những cơ thể hữu cơ. Điều này tất nhién không có nghĩa là anh ta sẽ không đếm xỉa gì đến sự khác biệt căn bản giữa các thiết chế và các công cụ vật lí. Trái lại, người công trình sư hẳn sẽ buộc phải nghiên cứu kĩ những khác biệt cũng như những sự tương đồng và sẽ phát biểu những kết quả anh ta thu được dưới dạng những giả thuyết, và trên thực tế, không có gì trở ngại trong việc trình bày các giả thuyết về các thiết chế dưới dạng công nghệ, như ví dụ dưới đây cho thấy:

“Không thể xây dựng những thiết chế hoàn hảo, tức là những thiết chế không phụ thuộc nhiều vào cơ cấu nhân sự của chúng; cùng lắm, các thiết chế chỉ có thể làm giảm thiểu sự bấp bênh của yếu tố nhân sự, bằng cách trợ giúp những người đang làm việc dành cho những mục tiêu mà vì những mục tiêu đó mà các thiết chế được thiết kế, và bằng cách trợ giúp cho những ai mà sự thành công phụ thuộc phần lớn vào sáng kiến cá nhân và vào kiến thức của họ (những thiết chế cũng giống như những pháo đài. Chúng cần được thiết kế thật tốt và cần có một đội quân đồn trú thiện nghệ). (Với việc ví dụ trên khẳng định rằng tính hiệu quả của các “cỗ máy” thiết chế là có giới hạn, và rằng sự vận hành của các thiết chế phụ thuộc vào việc chúng phải có được một bộ máy nhân sự tốt, có lẽ có thể so sánh được nó với những nguyên lí nhiệt động học, chẳng hạn như với định luật bảo toàn năng lượng (dưới dạng loại trừ khả năng thiết kế một động cơ vĩnh cửu). Như thế, có thể xem nó như tương phản với những nỗ lực “khoa học” khác nhằm tìm kiếm một sự giống nhau giữa quan niệm vật lí về năng lượng và một vài quan niệm xã hội học như quan niệm về quyền lực; xem, chẳng hạn, tác phẩm Power (1938) của Bertrand Russell, từ trang 10, trong đó có trình bày loại nỗ lực khoa học nói trên. Tôi không nghĩ là quan điểm chủ đạo của Russell - cho rằng “các dạng quyền lực” khác nhau như sự giàu sang, quyền lực trong tuyên truyền, quyền lực hiển nhiên [naked power] đôi khi có thể được “cải đổi” cho nhau - lại có thể được thể hiện dưới dạng công nghệ).

Cách tiếp cận đặc trưng của người kĩ sư kiến dựng phân mảnh là như sau. Kể cả có nuôi hi vọng về một xã hội lí tưởng “như một chỉnh thể” - có thể về sự thịnh vượng của xã hội - anh ta cũng không tin vào phương pháp tái thiết kế xã hội với tư cách là một toàn thể. Dù mục tiêu đề ra là gì, anh ta cũng đều tìm cách đạt được chúng bằng những chỉnh sửa nhỏ và những tái chỉnh sửa mà anh ta có khả năng tiếp tục điều chỉnh cho tốt hơn. Anh ta có thể đề ra nhiều mục tiêu khác nhau, chẳng hạn như tích lũy của cải hay quyền lực cho một số cá nhân hay một số nhóm; cũng có thể là việc phân bổ của cải hay quyền lực; hoặc bảo vệ một số “quyền” cho các cá nhân hay các nhóm,.v..v. Do đó việc kiến dựng công cộng hoặc chính trị xã hội có thể được tiến hành theo rất nhiều khuynh hướng khác nhau, từ những khuynh hướng toàn trị cho đến những khuynh hướng tự do (những ví dụ về một số chương trình được thực hiện theo khuynh hướng tự do có ảnh hưởng sâu rộng đã được W. Lippmann dẫn ra dưới tiêu đề “Agenda of Liberalism” [Nghị trình của chủ thuyết Tự do] (W. Lippmann, The Good Society [Xã hội tốt đẹp] (1937, Chương XI, từ trang 203. Xem thêm W. H. Hutt, Plan for Reconstruction [Kế hoạch Tái thiết] (1943)). Cũng giống như Socrates, người kĩ sư kiến dựng phân mảnh biết là mình hiểu biết ít ỏi đến thế nào. Anh ta biết chúng ta chỉ có thể rút ra những bài học từ những sai lầm của chính mình. Do đó, anh ta sẽ làm từng bước một theo cách riêng của mình, so sánh kĩ những kết quả trông đợi với những kết quả đạt được, cảnh giác đối với những hệ quả không mong muốn mang tính tất yếu của mọi cuộc cải cách; và rồi anh ta sẽ cố tránh thực hiện những cải cách khiến anh ta không thể gỡ khỏi mối bòng bong của những nguyên nhân và những kết quả, và đồng thời khiến anh ta không hiểu nổi mình đang thực sự làm gì.

Sự “hàn nối từng mảnh” kiểu này không phù hợp với khí chất chính trị của đa số những người có quan điểm “duy hành động”. Dù cương lĩnh của những người này cũng đã được mô tả như một cương lĩnh “kiến dựng xã hội”, nhưng có thể gọi đó là loại cương lĩnh “chủ toàn” [holistic] hay loại cương lĩnh “kiến dựng Không Tưởng”.

Ngược lại với kiến dựng xã hội theo lối phân mảnh, phương pháp kiến dựng xã hội chủ toàn hoặc Không Tưởng không bao giờ mang đặc tính “tư”, mà luôn luôn mang đặc tính “công”. Mục tiêu cần đạt tới của loại kiến dựng này là uốn nắn “toàn bộ xã hội” sao cho khớp với một sự hoạch định hay một kế hoạch chi tiết đã được vạch sẵn; nó hướng tới việc “nắm được những vị trí chủ chốt” (cụm từ thường được K. Mannheim sử dụng trong cuốn Man and Society in an Age of Reconstruction [Con người và xã hội trong thời đại tái thiết] của ông; xem phần Phụ lục của cuốn sách và, chẳng hạn, các trang 269, 295, 320, 381. Đây là cuốn sách trình bày một cách kĩ lưỡng nhất về một cương lĩnh chủ toàn và duy lịch sử mà tôi được biết, và bởi vậy nó được nêu ra để phê phán trong cuốn sách này của tôi) và mở rộng “quyền lực của Nhà nước cho tới khi Nhà nước gần trở thành đồng nhất với xã hội” (xem Mannheim, sđd, trang 337. Ở mục 23 mệnh đề này được trích dẫn và phê bình đầy đủ hơn, xem chú thích 1 trang 142) và tiến tới nó còn hướng đến việc tìm cách từ những “vị trí chủ chốt” ấy kiểm soát những động lực lịch sử của sự phát triển xã hội trong tương lai: bằng cách hoặc kìm hãm sự phát triển đó hoặc tiên liệu tiến trình phát triển của xã hội và điều chỉnh, hướng xã hội đi theo một tiến trình nhất định.

Ở đây có thể đặt ra một câu hỏi, liệu cách tiếp cận phân mảnh và cách tiếp cận chủ toàn như mô tả ở trên về căn bản có khác nhau hay không, một khi chúng ta không đặt ra bất cứ giới hạn nào cho phạm vi của cách tiếp cận phân mảnh. Theo những gì ta hiểu về cách tiếp cận này thì việc cải tổ hiến pháp, chẳng hạn, cũng nằm gọn trong phạm vi đó; còn tôi thì cũng không hề loại trừ khả năng hàng loạt những cải cách từng phần có thể được thực hiện phỏng theo một khuynh hướng chung, chẳng hạn như khuynh hướng tiến tới một sự bình đẳng về thu nhập. Bằng cách này, các phương pháp phân mảnh có thể dẫn đến sự thay đổi trong cái ta thường gọi là “cấu trúc giai cấp của xã hội”. Người ta có thể hỏi, vậy thì liệu giữa những loại kĩ thuật phân mảnh có nhiều tham vọng hơn này và cách tiếp cận chủ toàn hay cách tiếp cận Không Tưởng có sự khác biệt nào hay không? Và câu hỏi này thậm chí có thể trở nên thích đáng hơn nếu ta xét thấy rằng, trong khi nỗ lực tìm kiếm những hệ quả của một cuộc cải tổ nào đó được đề xuất, người công trình sư áp dụng kĩ thuật phân mảnh buộc phải làm hết mình trong việc xem xét đánh giá những tác động của biện pháp được áp dụng lên cái “toàn thể” của xã hội.

Để trả lời câu hỏi này, tôi sẽ không cố vạch ra một đường phân ranh chính xác giữa hai phương pháp, nhưng tôi sẽ cố làm rõ những khác biệt lớn giữa một người có quan điểm chủ toàn và một công trình sư sử dụng kĩ thuật phân mảnh trong cách họ nhìn nhận nhiệm vụ cải tạo xã hội. Những người có quan điểm duy toàn bác bỏ cách tiếp cận theo lối phân mảnh, coi cách tiếp cận đó là quá khiêm tốn. Tuy nhiên, việc bác bỏ cách tiếp cận này không hoàn toàn song song với hành động thực tiễn của họ; bởi vì trong thực tiễn, họ luôn luôn quay lại áp dụng một cách bừa bãi và vụng về, dù vẫn rất tàn nhẫn và đầy tham vọng, một phương pháp thực ra là phương pháp phân mảnh nhưng lại không có được tính cẩn trọng và tính tự phê phán của phương pháp này. Lí do là vì, trong thực tiễn, phương pháp chủ toàn hóa ra lại là một phương pháp không khả thi; những thay đổi họ cố tạo ra càng lớn bao nhiêu thì những hệ lụy không chủ tâm và phần lớn không được trông đợi của chúng lại càng lớn bấy nhiêu, buộc người kĩ sư chủ toàn phải ứng biến theo lối phân mảnh. Đúng ra, thủ pháp kiểu này mang nhiều đặc tính của một thứ kế hoạch hóa tập trung hoặc một thứ chủ nghĩa tập thể hơn là đặc tính của việc can thiệp theo lối phân mảnh, một việc làm khiêm tốn và thận trọng hơn nhiều; và rồi điều đó sẽ dẫn dắt người kĩ sư Không Tưởng làm những việc mà anh ta không hề chủ tâm; tức là, dẫn tới hiện tượng kế hoạch hóa không theo kế hoạch rất quen thuộc. Như vậy là trên thực tế, sự khác biệt giữa kĩ thuật Không Tưởng và kĩ thuật phân mảnh sẽ là một sự khác biệt không đáng kể xét về thang độ và phạm vi nhưng rất đáng kể xét ở góc độ thận trọng và ở sự chuẩn bị đón nhận những bất ngờ không tránh khỏi. Người ta còn có thể nói rằng, trong thực tiễn, hai phương pháp này không khác nhau về thang độ và phạm vi áp dụng mà khác nhau ở những khía cạnh khác - ngược lại với những gì ta chờ đợi nếu có sự so sánh giữa hai luận thuyết bàn về các phương pháp cải tổ xã hội trên tinh thần duy lí. Trong hai luận thuyết ấy, tôi khẳng định một cái là đúng còn cái kia là sai và chắc chắn sẽ dẫn đến những lỗi lầm vừa nghiêm trọng lại vừa gần như tránh được. Giữa hai phương pháp, tôi khẳng định rằng một là khả dĩ còn một thì đơn giản là không tồn tại; nó là bất khả.

Một trong những khác biệt giữa cách tiếp cận Không Tưởng hoặc chủ toàn và cách tiếp cận theo lối phân mảnh, do đó, có thể được phát biểu dưới dạng sau: trong khi người kĩ sư áp dụng phương pháp phân mảnh có thể bắt tay giải quyết vấn đề của mình với đầu óc không thiên kiến đối với phạm vi cần cải tổ thì người theo quan điểm chủ toàn không làm được điều đó; bởi người theo quan điểm chủ toàn đã xác định từ trước rằng một sự tái tạo hoàn toàn là có thể làm được và là cần thiết. Điều này dẫn đến nhiều hệ quả sâu rộng. Nó khiến người hành động theo quan điểm Không Tưởng chống lại một số giả thuyết xã hội học đã vạch rõ những hạn chế của việc kiểm soát thông qua thiết chế; chẳng hạn như một hạn chế vừa được nhắc tới ở trên trong mục này về tính thiếu chắc chắn của yếu tố nhân sự, của “nhân tố con người”. Bằng việc bác bỏ những giả thuyết như vậy một cách tiên nghiệm, cách tiếp cận Không Tưởng đã vi phạm những nguyên lí của phương pháp khoa học. Mặt khác, những vấn đề liên quan đến tính thiếu chắc chắn của nhân tố con người hẳn sẽ buộc người theo thuyết Không Tưởng, dù muốn hay không, phải cố gắng kiểm soát nhân tố con người bằng các phương tiện mang tính thiết chế, và cố gắng tạo cho cương lĩnh của mình bao trùm không chỉ sự cải tổ của xã hội mà cả sự cải tổ của con người. (“Vấn đề cải tạo con người” là đầu đề của một chương trong cuốn Man and Society (Con người và xã hội) của K. Mannheim. Câu ngay sau được trích dẫn từ chương này, trang 199 - 200) “Do đó, vấn đề thuộc phạm vi chính trị ở đây là làm cách nào tổ chức được những xung lực của con người sao cho họ dồn trực tiếp toàn bộ năng lực của mình vào các mục tiêu chiến lược đúng đắn và lái toàn bộ quá trình phát triển theo đúng hướng đã định.” Xem ra người theo thuyết Không Tưởng dù đầy thiện chí cũng đã không nhận thấy một cương lĩnh như vậy chỉ có thể dẫn đến thất bại, một thất bại thậm chí có thể nhìn thấy ngay trước khi cương lĩnh đó được thực hiện. Bởi vì nó đã thay thế nhu cầu xây dựng một xã hội mới tốt đẹp đối với mọi người, nam cũng như nữ, bằng nhu cầu “gọt đẽo” những người đàn ông và những người đàn bà sao cho họ vừa với khuôn mẫu của xã hội mới. Rõ ràng điều này đã loại trừ mọi khả năng đưa những thành công hay thất bại của xã hội mới ra trắc nghiệm. Bởi vì đối với những ai không hài lòng sống trong xã hội mới, người ta chỉ có thể giải thích rằng họ chưa được rèn giũa đủ độ để sống trong xã hội đó; rằng “những xung lực trong con người” của họ cần được tiếp tục “tổ chức”. Nhưng vì không có khả năng trắc nghiệm nên mọi lời tuyên bố rằng phương pháp “khoa học” đang được áp dụng đều trở nên hão huyền.

Cách tiếp cận chủ toàn như vậy là không tương xứng với một thái độ khoa học đích thực.

Kĩ thuật Không Tưởng không phải là một trong những chủ đề chính của công trình nghiên cứu này, nhưng có hai lí do khiến ta phải bàn đến nó song song với thuyết sử luận trong ba mục tiếp theo. Thứ nhất, bởi nhân danh kế hoạch hóa tập thể (hay tập trung), nó là một học thuyết thời thượng cần được phân biệt thật kĩ càng với “công nghệ phân mảnh” và “kĩ thuật phân mảnh”. Thứ hai, bởi thuyết Không Tưởng không chỉ giống với thuyết sử luận ở thái độ thù nghịch đối với cách tiếp cận theo lối phân mảnh mà còn thường xuyên chung lưng đấu cật với hệ tư tưởng sử luận.

Nguyên tác: The poverty of historicism, Karl Popper (Routledge, 1974)

Bản dịch: NXB Tri thức, Chu Lan Đình dịch.