Tất định luận và tự do lựa chọn - Chương 7: Sự ra đời của chủ nghĩa cá nhân Hi Lạp (Phần 5)

Tất định luận và tự do lựa chọn - Chương 7: Sự ra đời của chủ nghĩa cá nhân Hi Lạp (Phần 5)

Do bất cứ người nào cũng có thể thấu hiểu tính tất yếu duy lí của bất cứ điều gì xảy ra, nên không cần phải cố đạt tới tình trạng hài hòa, ổn định, bình an của tâm hồn để nhằm có được một mức tối thiểu của sức khỏe và tiền bạc vật chất, là thứ mà Aristotle thừa nhận là cần thiết cho hạnh phúc. Vua Priam, dù có can đảm và lương hảo tới đâu, cũng không thể đạt được hạnh phúc, theo như Aristotle nhận định, vì những bất hạnh của Priam là quá lớn; còn theo nhận định của những người khắc kỉ thì Priam có thể đạt được hạnh phúc. Chỉ có một thứ là hiện thực, ấy là lí trí cơ bản thấu qua suốt bản chất con người. Tại sao phải thu thập chi tiết của 257 thể chế để tìm ra cái gì thì thích hợp với loại người nào, ở nơi nào, trong khí hậu nào, với những truyền thống gì - trong khi mọi con người về cơ bản đều như nhau, và chúng ta có thể khám phá một cách tiên nghiệm bằng việc rèn luyện lí trí bên trong chúng ta để thấu hiểu những định luật vĩnh cửu của thế giới, phải chăng điều chúng ta nên làm là hòa hợp chính mình cùng thế giới, hơn là biết được điều đó qua con đường quy nạp không chắc chắn như các Peripatetics366 đã chọn? Làm sao chúng ta biết được cái gì là chắc chắn? Bởi vì đôi khi một cái gì đó “gần như nắm lấy tóc chúng ta… bắt chúng ta phải chấp thuận”.367 Một số chân lí là không thể sửa được và không cưỡng lại được. Dễ dàng hòa hợp trong hòa bình ở một số tình huống này hơn là ở một số tình huống khác: nếu vàng không được đào lên hay các đồ xa hoa không được các con tàu chở đến từ nước ngoài, thì hẳn đã có nhiều giản dị và an bình hơn, thế nhưng ngay cả tại Athens đầy sành sỏi và đồi bại vào đầu thế kỉ thứ 3, thì vẫn có thể có được rèn luyện cảm xúc, và người ta có thể tự rèn luyện mình thành trơ lì trước ý chí độc ác của con người hay những đòn đánh của số phận. Con tàu phải được sơn bảo vệ chống rò rỉ - nếu để cho những cảm xúc yếu ớt có thể thấm qua thì anh sẽ bị chìm.

Lí tưởng là apathia - vô cảm xúc. Nhà thông thái khắc kỉ không cảm xúc, khô khan, không thiên kiến, không thể bị tổn thương; chỉ có ông ta là nhà vua, là giáo sĩ, là ông thầy, là thần linh. Giống như những giáo đồ Pharisees368 mà Josephus369 so sánh những người khắc kỉ với họ, các nhà thông thái khắc kỉ bị kết tội là lạnh lùng, đạo đức giả, kiêu căng, khinh người, kiêu kì. Phong trào đã có những người tuẫn đạo của mình: do đau khổ chỉ là kết quả của tình trạng lệch ra khỏi lí trí, của lòng quyến luyến quá đáng với con người hay đồ vật, nếu các tình huống trở nên quá xấu hay bạo chúa quá tàn nhẫn và luôn đe dọa, thì anh luôn có thể thoát khỏi các hậu quả bằng cách tự kết liễu đời mình. Những người khắc kỉ không biện hộ cho việc tự sát, nhưng họ cũng không thuyết giảng chống lại chuyện này. Một người duy lí lìa đời khi mà cuộc sống phù hợp với lí trí trở nên bất khả dĩ, bởi các chức năng của đời sống đã tiêu tan quá nhiều, hoặc là bởi cuộc sống có thể duy trì bằng một giá quá bất hợp lí. Con người như con chó bị buộc vào cỗ xe kéo; nếu anh ta khôn ngoan thì sẽ chạy theo cỗ xe (Cái đó được gọi là tuân theo tự nhiên - chính là hợp lí và sáng suốt. Nếu anh ta không sáng suốt thì cỗ xe sẽ lôi anh ta và anh ta phải chạy theo xe dù muốn dù không.)

Các học thuyết chính trị của chủ nghĩa khắc kỉ thời sơ khởi là gì? Chỉ có người sáng suốt mới có thể sống trong an bình và hòa hợp. Họ có thể sống ở bất cứ thành bang nào; không quan trọng là ở đâu, vì họ vô cảm xúc nên họ không cảm thấy quyến luyến đặc biệt với đám người nào. Nơi cư trú lí tưởng là nơi không có thánh đường thờ thần linh, không có tượng thờ thần linh, không có nơi xử án, không có nơi luyện võ, không có quân đội hay tàu chiến hay tiền bạc, vì người sáng suốt không cần đến những thứ đó; nếu anh sống trong ánh sáng của lí trí thì những xung đột, những nỗi sợ hãi và niềm hi vọng dẫn đến việc dựng lên các định chế ấy, sẽ tan biến mất. Zeno biện minh cho tự do tình dục hoàn toàn: mọi con cái đều là con cái của tất cả các cư dân. Trong cuộc sống đúng đắn của con người, theo Zeno, “Chúng ta không nên sống theo các thành bang hay các khu vực hành chính ngăn cách nhau thật tách biệt tùy theo ý tưởng của riêng chúng ta về điều gì là đúng đắn, mà phải xem mọi người đều là thành viên của khu vực và là công dân [thành bang]; phải xem chỉ có một cuộc sống và một thế giới, đúng như một bầy đàn cùng ăn chung, được nuôi dưỡng bởi một đồng cỏ chung”.370 Đó là thế giới của những người tốt; chỉ có họ mới có thể thụ hưởng tình yêu, tình bạn, hòa hợp nội tại và ngoại tại.

Đó là những gì Zeno thuyết giảng; và Plutarch371 thốt lên đầy hứng khởi, [hoàng đế] Alexander xứ Macedon tiếp thu nó. Tarn than phiền rằng, giống như Aristotle chia người ta ra thành những người tự do và những kẻ nô lệ theo bản chất, thì Zeno cũng chia họ ra thành những người tốt và những kẻ xấu xa, những người được cứu rỗi và những kẻ có tội. Thế nhưng điều này không đúng. Bất kì ai cũng có thể được cứu rỗi, nhưng không phải người nào cũng có thể thay đổi bản chất của mình xác định theo Aristotle, từ bản chất của kẻ nô lệ sang bản chất của người tự do được. Điều rõ ràng là trong khi Plato và Aristotle khao khát tổ chức, tạo dựng và duy trì một trật tự, chủ nghĩa cộng sản của Plato về nguyên tắc là một phương tiện để nhân giống những công dân thích hợp. Zeno muốn bãi bỏ chuyện này; cả Zeno lẫn các môn đệ Cleanthes372 và Chrysippus của ông đều biện minh cho tự do xã hội theo kiểu cực đoan nhất: tình dục lang chạ, tình dục đồng tính, loạn luân, buông thả nhục dục, cho phép làm mọi thứ không ngăn cấm bởi thể chất (physis) - tự nhiên – bất chấp việc đi ngược lại với các quy phạm, các truyền thống va các tập quán, những thứ mà khi nghiên cứu kĩ sẽ thấy đều là nhân tạo và phi lí tính. Khi anh nhìn vào bên trong bản thân mình và chỉ vào bên trong minh ma thoi - vì cũng chẳng có chỗ nào khác nữa để nhìn vào (chắc là anh chăng nên nhìn vào các định chế xã hội, những thứ đơn thuần chỉ là cái trợ giúp ngoại tại ngẫu nhiên để sống) - khi đó anh sẽ thấy được một số quy phạm khắc ghi nơi trái tim anh bởi chính tự nhiên, trong khi những thứ khác đơn thuần chỉ là những thứ nhân tạo, phù du và hướng tới những mục đích phi lí, chẳng có gì là dành cho con người sáng suốt cả.

Chủ nghĩa khắc kỉ hậu kì hấp thu vào nó nhiều học thuyết Aristotle hơn, tự làm cho nó thích nghi cho việc sử dụng của đế chế La Mã, từ bỏ giọng điệu và nội dung sắc bén chống chính trị của nó - vì về nguyên tắc chủ nghĩa khãc kỉ cũng chống chính trị như học thuyết Epicurus. Quả thực Zeno đã gây ấn tượng cho người cai trị Athens gốc Macedon là Antigonus Gonatas, như một vị thầy về đức hạnh công dân. Bản thân Zeno chắc không phục vụ ông ta, nhưng ông đào tạo các đệ tử của mình trở thành các cha tuyên úy cung đình và các cố vấn riêng cho các vị vua thời Hi Lạp cổ đại, đôi khi cũng trở thành các tướng lĩnh và các nhà cải cách xã hội thực tiễn (như ở Sparta). Mặc dù vậy, đối với những người khắc kỉ thì ông vua không phải là một tạo vật thần thánh như những người theo Pythagoras hay thậm chí cả Aristotle cũng quan niệm như thế; ông vua là người bình thường, và vì rằng điều đáng mong muốn là khiến cho cuộc sống được hợp lí càng nhiều càng tốt, nhà thông thái khắc kỉ có thể tư vấn cho nhà vua và gây ảnh hưởng lên ông ta theo hướng đúng đắn, chuyện này tuy không phải là nghĩa vụ cốt yếu nhất - nghĩa vụ cốt yếu nhất là đặt mình trong khuôn khổ đúng đắn của tâm hồn và không có gì khác hơn - nhưng tạo điều kiện cho con người dễ dàng cứu rỗi bản thân bằng phép nội quan khắc kỉ, tự xem xét mình về các nhiệm vụ mà lí trí đặt ra.

Đôi khi người ta nói rằng Zeno tin vào một nhà nước toàn cầu, nhưng đó là diễn giải sai văn bản của Plutarch: ông ta chẳng có chút quan tâm nào đến nhà nước cả. Trái ngược hẳn với Plato và Anstotle, ông ta tin rằng minh triết phải được học hỏi và thực hành không phải trong polis lí tưởng, mà trong thế giới đầy những con người sáng suốt. Xã hội về cơ bản là vật cản trở cho tình trạng tự đầy đủ. Hiển nhiên là người ta không thể hoàn toàn tránh khỏi xã hội và cần phải tạo ra xã hội tốt nhất, nhưng ngược hẳn với đạo đức diễn dịch từ chính trị, riêng tư diễn dịch từ công cộng, con đường đúng đắn là con đường khác: điều chỉnh các sự vụ công cộng cho phù hợp với các quy phạm của đạo đức cá nhân. Con người đức hạnh và sáng suốt phải học hỏi để không quan tâm đến những bão tố của cuộc sống công cộng, thoát vào bên trong bản thân mình, bỏ qua những thứ công cộng là thứ rốt cuộc chẳng mấy quan trọng. Khoảng cách giữa cái ataraxia của Epicurus - điềm tĩnh - và cái apathia khắc kỉ - vô cảm xúc - là không lớn. Niềm vui hay nghĩa vụ, hạnh phúc hay tự thể hiện mình hợp lí. Đó là những lí tưởng đối lập với các lí tưởng của thế giới Hi Lạp cổ đại. Dù chúng có khác biệt nhau đến đâu, chúng đều là thứ chống lại thế giới công cộng của Plato và Aristotle và những nhà ngụy biện chủ chốt. Gián đoạn là rất xa và các hệ lụy là rất lớn. Lần đầu tiên ý tưởng đạt kết quả là ý tưởng cho rằng chính trị là công việc bẩn thỉu, không đáng xem là sáng suốt và thiện hảo. Phân cách giữa đạo đức và chính trị được tạo thành tuyệt đối; con người được xác định dưới dạng cá nhân, còn chính trị may lắm cũng trở thành việc ứng dụng của những nguyên lí đạo đức nhất định cho một nhóm người, thay vì ngược lại. Không phải trật tự công cộng mà cứu rỗi cá nhân mới là quan trọng. Hi sinh cứu rỗi vì những nhu cầu công cộng là sai lầm tai hại lớn nhất mà con người có thể phạm phải; là phản bội lại tất cả những gì làm cho anh ta thành con người, phản bội lại lí trí bên trong anh ta - thứ duy nhất mang đến cho con người phẩm cách và giá trị. Không cần phải nói tới ảnh hưởng của ý niệm này trong Kitô giáo, đặc biệt là trong các truyền thống Augustine và truyền thống tĩnh tịch của Kitô giáo.

Chuyện này thật kì lạ. Làm sao lại có một gián đoạn gay gắt đến thế trong vòng hai thập kỉ? Vào một thời điểm tất cả các nhà tư tưởng chủ chốt có vẻ như đều thảo luận các vấn đề xã hội và chính trị; không đầy hai chục năm sau chẳng có người nào còn làm thế nữa. Những người theo Aristotle bận sưu tập các cây cỏ thực vật, tích góp thông tin về các hành tinh, các động vật, các thông tin địa lí; những người theo Plato bận nghiên cứu toán học, không một ai nói về các chuyện xã hội và chính trị nữa - nó đột nhiên trở thành một chủ đề không đáng để những người đứng đắn có ý kiến.

Lời giải thích chính thức được hầu hết các nhà sử học chấp thuận, tất nhiên rồi, là sự kiện phá hủy các thành bang bởi [các hoàng đế] Philip và Alexander xứ Macedon. Quan điểm theo thông lệ, được hầu hết các nhà sử học chấp thuận về chủ đề này (có vài ngoại lệ đáng tôn vinh), cho rằng các trước tác của những nhà tư tưởng chủ chốt phản ánh các điều kiện chính trị một cách trực tiếp và dứt khoát. Sophocles, Pericles của [sử gia] Thucydides, Aeschylus, Herodotus là những người phát ngôn cho Athens trong đỉnh cao nhất sức mạnh và thành tựu sáng tạo của nó. Plato, Isocrates, bản thân Thucydides phản ánh áp lực và tình trạng căng thẳng thời kì sơ khởi của suy đồi. Demosthenes là cầm cự tuyệt vọng cuối cùng của nền dân chủ độc lập. Sau đó là đến trận chiến ở Chaeronea năm 338 tCN.373 Polis bị phá hủy bởi các đội hình chiến đấu của Macedon. Aristotle - giống như con cú của nữ thần Minerva374 - nói về quá khứ chứ không phải về tương lai, và bị lạc hậu về thời gian mà ông trốn chạy khỏi Athens năm 323. Polis trở nên không quan trọng nữa. Một thế giới rộng lớn được mở ra bởi các đạo quân của Alexander, và người Hi Lạp hay người Athens trung bình (tùy theo tác giả chọn lựa) bị tước đoạt mất ý thức thân mật và an toàn vốn được đảm bảo bởi các tường thành của thành bang nhỏ bé tự cung tự cấp, cảm thấy mình nhỏ bé không đáng kể trong đế chế mới đầy rộng lớn trải dài đến tận phương Đông. Không có đơn vị tự nhiên để anh ta trung thành và tụm lại cho an toàn.

Bầu không khí mới hoang vắng đã không còn các cảnh trí quen thuộc nữa, khiến cho anh ta cảm thấy sợ hãi và đơn độc, nên chỉ quan tâm tới cứu rỗi bản thân mình thôi. Cuộc sống công cộng tiêu tan. Các mối quan tâm công cộng trở nên có vẻ không thích hợp. Menander375, một công dân cùng thời với Epicurus, viết các vở hài kịch về những chuyện cá nhân trong nhà. Chủ nghĩa tự nhiên thành công với hội họa và điêu khắc lí tưởng hóa, thể hiện lí tưởng chung của toàn thể polis - các đối tượng cao quý cho sùng bái xã hội, cho ngưỡng mộ, cho tranh đua. Mê tín dị đoan lấp đầy khoảng trống do sự biến mất của tôn giáo nhà nước để lại. Người ta rút vào bản thân mình. Cơ cấu xã hội tan vỡ. Tất cả mọi người đều bình đẳng trước kẻ chuyên chế xa xôi từ Pella, hay Alexandria, hay Antioch. Tính cộng đồng hữu cơ bị nghiền nát thành các nguyên tử tách rời. Học thuyết khắc kỉ và học thuyết Epicurus là các hình thức tự nhiên của niềm tin cho con người ở trong điều kiện ấy.

Điều khó tin được của tường thuật này là thay đổi thảm hại - chẳng có gì quá lời - xảy ra quá nhanh. Athens vẫn nhỏ bé chẳng đáng kể trước trận chiến Chaeronea và cũng không ngừng tồn tại như một thành bang vào năm 337 tCN. Nó bị đánh bại, nhưng nó cũng đã từng bị Sparta đánh bại trước đó, và nó vẫn giữ được cuộc sống đủ mãnh liệt như một thành bang vào thế kỉ thứ 4 như những diễn từ của các nhà hùng biện truyền lại, nếu không có gì khác nữa. Đã có một đạo quân Macedon đồn trú ở Acropolis376; đạo quân ấy đã bị rời đi. Quả thật nó có trở lại để khuất phục thành bang nổi loạn. Nhưng cảm xúc công dân vẫn còn tiếp tục; người ta tiếp tục đi bầu cử, bầu chọn cơ quan công cộng, giữ các nghi thức tế lễ. Các polis đã không bị Alexander hay các ông vua kế vị giải thể: ngược lại, các polis mới còn được tạo ra thêm. Các văn bia không cho thấy thái độ uể oải của tinh thần công cộng. Không có suy sụp thực sự nào cho đến khi những người La Mã xuất hiện trên sân khấu. Chắc chắn các thành bang quả có mất đi tính độc lập của mình, đặc biệt là trong lĩnh vực chính sách đối ngoại. Tất nhiên hẳn sẽ là ngớ ngẩn nếu phủ nhận việc Alexander đã biến cải thế giới Địa Trung Hải. Nhưng dù cho anh có tin chắc đến đâu rằng cấu trúc thượng tầng ý thức hệ đi theo một cách trung thành với các biến đổi trong cấu trúc hạ tầng về xã hội và kinh tế - trong trường hợp này là tổ chức chính trị - thì chắc chắn cũng không có một gián đoạn gắt gao đến thế trong lịch sử của polis, phán đoán từ những trải nghiệm chủ quan của các công dân để giải thích một biến cải đột ngột, nhanh chóng và toàn diện đến thế trong quan điểm chính trị.

Những cuộc chinh phục của Alexander là một nhân tố thích đáng trong phát triển, tất nhiên [ý kiến này] là đúng; nhưng thật khó mà cho rằng đó là yếu tố duy nhất đủ để giải thích những gì xảy ra. Nó cũng giống như nói là cuộc chinh phục châu Âu của Napoleon đã hoàn toàn biến cái tư duy xã hội và chính trị; đâu phải vậy. Nó thay đổi châu Âu một cách sâu sắc, nhưng không có khoảng cách giữa các trước tác của Hume và James Mill377 chẳng hạn, hay là cùa Kant và Hegel, như khoảng cách ghi nhận gián đoạn giữa Aristotle và Zeno. Người ta không tự nhủ: “Thế giới cũ của tôi đang tan vỡ, tôi phải hướng chú ý của mình đến các phương diện khác của trải nghiệm. Cuộc sống ngoại tại đã trở nên ảm đạm, đáng sợ và tẻ nhạt - đã đến lúc tôi phải hướng về cuộc sống nội tâm.” (Và nếu như ta có viện đến tiềm thức về điểm này thì cũng chỉ là hợp lí để nói rằng nó không thể vận hành đầy bí mật nhanh chóng đến thế.). Người ta đã không nói như thế, đặc biệt là trong thế giới cổ đại, khi mà có vẻ như các đổi thay diễn ra như các bước ngoặt ít đột ngột và thê thảm hơn so với thời đại chúng ta. Vì vậy chỉ là hợp lí khi cho rằng chủ nghĩa cá nhân khắc kỉ và [theo học thuyết] Epicurus không phải đã sinh ra được vũ trang đầy đủ như thế ngay từ đầu của Athena giờ đây bị đánh bại và bị làm nhục. Và quả thật những nhà tư tưởng mới đã có những vị tiền khu đôi khi được nhắc đến bởi các nhà nghiên cứu lịch sử triết học cổ đại. Zeno là học trò của Crates378, là người theo trường phái hoài nghi ích kỉ (Cynic), về phần mình ông này lại thuộc về trường phái Diogenes379, một người thành đạt vào giữa thế kỉ thứ 4 tCN, nếu đó là từ ngữ thích đáng cho cuộc sống độc đáo của ông. Chúng ta biết rằng đằng sau ông ta là các nhân vật Antisthenes380 và Aristippus. Antisthenes là học trò riêng của Socrates và được biết đến như một người không quan tâm đến cuộc sống công cộng hay nhà nước, một người tin vào tính độc lập, xem Herakles381 như vị anh hùng của mình, người đã bỏ nhiều công sức làm lợi cho những người đi theo con đường hẹp của nguyên tắc. Anstippus, người ở mọi nơi đều tự xưng là kẻ xa lạ, nói rằng ông chẳng muốn “cai trị người hay bị người cai trị”382, cho nên đối với Socrates ông đã đi quá xa. Biểu tượng của ông là ekho all’ oukh ekhomai (“Tôi sở hữu, nhưng tôi không bị sở hữu”383): Tôi thụ hưởng niềm vui và tìm kiếm chúng, nhưng chúng không khiến tôi trở thành kẻ nô lệ của chúng; Tôi có thể dửng dưng với chúng theo ý muốn của mình. Antisthenes đồng ý với Plato ở một điểm, dù sao đi nữa thì việc chiến thắng bản thân là chuyện khó khăn nhất và quan trọng nhất trong mọi chiến thắng. Aristippus là người có chủ trương Cyrenaic384, ông đến với Athens từ một nơi có khí hậu rất khác; ông có thể đã tin rằng niềm vui là mục đích tự nhiên của con người với điều kiện nó không nô dịch con người, trong khi đó những người khắc kỉ tin rằng niềm vui là kẻ thù, nó làm vẩn đục các cảm xúc và che mờ chân lí, khiến cho con người bị vấp ngã và đi lạc đường, trở thành kẻ nô lệ của các thế lực mà con người không kiểm soát được; tuy nhiên lí tưởng của cả hai trường phái đều như nhau - tính độc lập, tự chủ, tự khẳng định cá nhân mình. Chừng nào mà phần đông con người còn mù lòa, bị làm nô lệ, là nạn nhân của các cảm xúc phi lí tính, thì nhà thông thái còn không được quần chúng ưa thích và ít nhiều bị nguy hiểm; vì vậy lợi ích của nhà thông thái là phải tác động lên những người cai trị đi theo cách suy nghĩ của mình.

Đằng sau Antisthenes, thậm chí đằng sau cả Socrates nữa, là nhân vật đầy bí ẩn Antiphon, nhà ngụy biện cuối thế kỉ thứ 5 mà ít nhất chúng ta cũng có bằng chứng độc lập [viết trên] giấy cói về ông ta. Ông ta tin rằng anh có thể lừa bịp con người chứ không lừa bịp được tự nhiên. Nếu anh ăn phải thức ăn có độc, anh sẽ chết; nhưng nếu anh phạm tội được gọi là bất công, mà nếu không có ai nhìn thấy, anh sẽ không bị tổn hại vì chuyện đó. Từ đấy sinh ra việc anh chỉ thực hành công bằng nếu có nhân chứng cho hành vi của anh - là người mà anh có thể gây ấn tượng cho anh ta, nếu cần thì cả ấn tượng giả dối. Tình trạng hỗn loạn là một trạng thái tệ hại, cho nên có lí do để dạy trẻ con phải vâng lời, thế nhưng nếu anh có thể thoát khỏi việc mắc vào chuyện gì đó bị lên án bởi lề luật của con người do những con người đặc biệt lập nên, thì tại sao lại không làm thế? Ông ta chống lại chuyện kiện cáo bởi vì trong việc tuyên cáo công lí anh gây thù oán với những kẻ mà anh làm chứng chống lại họ, dù anh có làm chứng chân thực đến đâu đi nữa, điều này vẫn tiềm ẩn một nguy cơ trầm trọng cho anh sau này. Từ những gì chúng ta thu lượm được thì Antiphon là một người theo thuyết tình tịch bi quan, thuyết giảng sự cần thiết tự đề phòng. Thế giới đầy bạo lực, những kẻ nguy hiểm sẵn sàng gây tổn hại cho người vô tội. Ông khuyên bảo các nạn nhân làm sao để tránh bị rắc rối. Đây là tiếng nói đầu tiên có thể nghe rõ thời cổ đại ở Hi Lạp - điều mà Epicurus và các đồ đệ lặp lại mấy trăm năm sau - nói rằng chỉ có được một cuộc sống thỏa đáng bằng cách tránh xa những kẻ có thể làm hại mình, bằng cách lẻn vào một xó mà anh lựa chọn và xây đắp một cuộc sống riêng tư, và chỉ có cuộc sống riêng tư mới thỏa mãn được các nhu cầu sâu sắc nhất của con người. Đó là quan điểm mà Plato tự đặt cho mình nhiệm vụ phải bác bỏ - quan điểm cho rằng công lí, tham gia vào đời sống công cộng không có ích lợi gì mà chỉ dẫn đến các tổn hại và đau khổ, còn tham vọng thì chẳng thành. Plato hoàn thành nhiệm vụ của mình tốt đến đâu là chuyện vẫn còn tranh cãi cho đến bây giờ.

Diogenes còn đi xa hơn thế. Ông tuyên bố rằng ông phải thay đổi [những giá trị] đang thịnh hành - phá hủy những giá trị cũ và thay thế bằng những giá trị mới. Ông lấy làm hãnh diện là mình không thuộc về một thành bang nào, vì đó chính là hàm ý mà người theo chủ nghĩa thế giới đòi hỏi - theo ý nghĩa mà Bản tuyên ngôn Cộng sản năm 1847 tuyên cáo rằng “những người lao động không có tổ quốc” và “những người vô sản chẳng có gì để mất ngoài xiềng xích”385. Chỉ có con người độc lập là tự do, và chỉ có tự do mới tạo ra hạnh phúc bằng cách trở thành không thể bị tổn thương. Ông đả kích chống lại nghệ thuật, khoa học và mọi thứ tài nghệ bề ngoài với thái độ vô lê có chủ tâm chĩa vào Alexander. Những câu bông đùa sống sượng được gán cho ông tạo ra hình ảnh một con người quyết tâm gây sốc cho công luận để hướng chú ý vào thói giả trá vô cớ và những thói đạo đức giả theo lối truyền thống của đời sống văn minh. Người ta bảo rằng ông biện hộ cho thái độ hoàn toàn coi thường những [lề thói] đúng mực: giao hoan tình dục và mọi sự kiện thân thiết riêng tư đều có thể phô bày nơi công cộng. Từ chuyện đó thì có gì làm người ta phải sợ? Sự kiện là mọi người bị sốc ư? Thế thì sao nào? Tại sao người ta lại phải tôn trọng phản ứng của lũ ngu ngốc và bọn đạo đức giả, những kẻ làm nô lệ cho ước lệ, những kẻ không hiểu được rằng người ta chỉ có thể đạt được hạnh phúc và phẩm giá bằng cách thuận theo tự nhiên, tức là gạt bỏ những sắp xếp nhân tạo một khi mọi bản năng của con người thúc giục người ta theo chiều ngược lại? Đó là chủ nghĩa cá nhân nở rộ, nhưng được giới quyền uy trình bày như là kì quặc và hơi loạn trí.

Crates, một người giàu có, đã bỏ hết của cải của mình và chỉ đem theo một ít đồ vật trong ba lô, trở thành nhà truyền giáo và vị thánh của cuộc sống theo tự nhiên. Ông kêu gọi các gia đình đã trở nên không hạnh phúc bởi những lo sợ, ghen tị, hằn thù, hãy hòa giải với các kẻ thù, tạo nên hài hòa và hạnh phúc; một kẻ bần cùng lại gù lưng như ông ta mà vẫn chiếm được tình yêu của một nàng quý tộc xinh đẹp, đã kết hôn với ông bất chấp mọi cam kết long trọng và trở thành nhà truyền giáo đồng chí hướng của ông. Con người phải được tự do, của cải của anh ta phải đủ ít để có thể đựng trong một chiếc ba lô khoác trên vai, chiếc ba lô (pera) trở thành biểu trưng của những người thuyết giáo của trường phái Cynic nay đây mai đó. Đây là lời của Crates:

Có một thành bang, Chiếc ba lô là tên gọi của nó, ở giữa biển khơi màu rượu vang Typhos [ảo ảnh]. Đây là công bằng và thành công, nghèo khó xác xơ quá chừng chẳng sở hữu cái gì. Cánh buồm hướng về nơi không có kẻ ngu ngốc, không có kẻ ăn bám, cũng chẳng có kẻ dâm đãng vui vầy bên gái điếm, nhưng nó mang theo cả húng thơm, cả tỏi, cả quả sung, cả bánh mì. Vì những người như thế không đấu đá nhau, không tranh cái lợi nhỏ nhen, cũng chẳng tìm vinh quang… Họ tự do khỏi thèm khát, thèm khát nô dịch con người, họ không bị nó làm cho méo mó: họ thà lấy niềm vui trong tự do và trong [cảm giác] vương giả bất tử.386

Và đây nữa:

Tôi là công dân của những xứ sở Tối tăm và Nghèo khổ, nơi vận may không thể đánh chiếm được, một công dân đồng chí hướng với Diogenes, con người thách thức mọi âm mưu và lòng ghen tị.387

Những người ấy là các vị tiền khu đích thực của chủ nghĩa cá nhân mới - họ không nhiều lắm; và giới quyền uy chủ chốt của chúng ta trình bày họ như là những nhân vật gì đó ở bên lề của phát triển văn hóa Hi Lạp. Thế nhưng họ có thực là ở bên lề không? Chúng tôi không thể khẳng định vì khó khăn có tính nguyên tắc và định mệnh của toàn bộ việc tường thuật, đơn giản vì chúng tôi không biết cả những người Hi Lạp bình thường lẫn những nhà tư tưởng của họ theo những học thuyết và những ý kiến nào. Phần lớn các thông tin của chúng tôi đến từ các trước tác của Plato và Aristotle, và các trước tác ấy chẳng bận tâm đến việc che giấu tính thiên vị của chúng. Aristotle có lẽ vô tư, kinh viện và khách quan hơn Plato một chút, nhưng các quan điểm của chính ông ta lại mang tính rất khẳng định và ông ta tỏ ra ít độ lượng với những người đối lập, không nhiều hơn mà cũng chẳng ít hơn các triết gia khác từ lúc khởi thủy hoạt động của họ. Những gì chúng ta biết được về các nhà ngụy biện thế kỉ thứ 5, về những người theo thuyết Cynic và Hoài nghi cũng như các trường phái được coi là thiểu số, thì cũng đại khái có mức độ chính xác giống như chúng ta biết, ví dụ như về Bertrand Russell và phái phân tích ngôn ngữ hiện đại, lấy từ lịch sử và triết học Xô viết; hay nếu giả như nguồn gốc [hiểu biết] của chúng ta về tư tưởng thời trung đại chỉ là [tác phẩm] lịch sử tư tưởng phương Tây của chính Russell. Rất khó trình bày về người phản bác mình một cách công bằng, và Plato thậm chí còn rõ ràng chẳng muốn làm chuyện đó, trừ phi ông thật có cảm tình với họ, giống như với Parmenides388, hay phần nào với Protagoras - trong khi ấy các nhà tư tưởng mà chúng ta đề cập đến rõ ràng là những kẻ thù quyết liệt của ông, quan điểm của họ ông phải đánh đổ bằng mọi giá.

Chỉ có một điểm tôi muốn nhấn mạnh, ấy là xét về bản chất nội tại không chắc rằng Zeno và Epicurus, Carneades389 và tân hàn lâm viện đã bật dậy đầy đủ lông cánh để nắm quyền kiểm soát đạo đức học và chính trị học từ tay của những người theo Aristotle và Plato đã suy đồi. Các học giả khác cũng đã cảm nhận thấy điều này và đã có những nỗ lực đầy dũng cảm dẫn ra nguồn gốc chủ nghĩa khắc kỉ ít nhất cũng từ phương Đông. Họ đã chỉ ra rất chính xác rằng mọi vị thầy theo phái khắc kỉ ít nhiều được chú ý, đều đến từ châu Á và châu Phi. Grant và Zeller, Pohlenz và Bevan cùng nhiều người khác nữa cho rằng không phải ngẫu nhiên mà Zeno và Persaeus390 đến từ thuộc địa của Phoenic tại Cyprus; Herillus đến từ Carthage; Athenodorus391 đến từ Tarsus392; Cleanthes đến từ Troad; Chrysippus đến từ Cicilia; Diogenes là người khắc kỉ đến từ Babylon; Posidonius đến từ Syria; Panaetius393 đến từ Rhodes394; những người khác đến từ Sidon và Seleucia395, Ascalon và Bosphorus396 - chao ôi, chẳng có người khắc kỉ nào sinh ra ở Hi Lạp xưa cũ. Có hàm ý rằng những người này mang các ý tưởng phương Đông về cứu rỗi cá nhân, ý niệm đen trắng rõ ràng về thiện và ác, nghĩa vụ và tội lỗi, niềm khát khao được tiêu tan trong ngọn lửa vĩnh hằng, tính hấp dẫn của việc tự sát. Có lẽ cũng có gợi ý rằng điều ấy còn vọng lại trong Kinh Thánh Do Thái dù có dưới hình thức mơ hồ đến đâu đi nữa: trong ý kiến về trách nhiệm cá nhân trước Thượng Đế, điều sẽ không còn là chung nữa trong kinh Jeremiah, kinh Ezekiel và kinh Psalms.397 Ai mà biết được? Có lẽ Philo398 đến từ Alexandria, người lúc nào cũng cố thuyết phục mọi người rằng Plato đã làm quen với những lời giảng dạy của Moses399, đã nói ra điều gì đó với thực chất nào đó ở trong lời nói ấy.

Những lí thuyết này khá lí thú như chỉ dấu cho thấy có điều gì đó không thể giải thích nổi trong tình huống này, hơn là vì những lí thuyết ấy khả tín nội tại. Đối với chuyện này, Epicurus, người có học thuyết khá gần với học thuyết khắc kỉ, là người mang dòng máu Athens thuần chủng, ngay cả dẫu ông ta lớn lên ở Samos400. Diogenes đã đến từ Sinope401, nhưng Crates lại tới từ Elis402, và chẳng một ai nghi ngờ Antiphon có gốc ngoại quốc. Chẳng có gì trong các học thuyết của Zeno mang tính phi-Hi Lạp một cách cố hữu: niềm tin vào lẽ phải phổ quát, vào tự nhiên, vào bình an và hòa hợp nội tâm, tính tự chủ bản thân và tính độc lập, tự do và điềm tĩnh vô tư, [những thứ này] không phải là các giá trị Hebrew. Ông ta không nói về nghĩa vụ dưới dạng các quy tắc tuyệt đối, mà nó bật ra từ ý niệm về lẽ phải như cái quy định các mục đích, giống như trong Plato - như một phạm trù nghiêm ngặt cho phép vô hạn độ. Ở đây không có tiếng nói sấm sét nạt nộ con người, không có hiện diện vừa cao cả, vừa huyền bí vừa siêu phàm gây hãi hùng mà việc dò hỏi bản chất của nó là bất kính Thượng Đế: ngược lại, mọi thứ ở đây gần như quá đỗi hợp lí, quá đỗi hệ thống, quá rành mạch ngắn gọn, quá thực chứng. Không có yếu tố huyền bí nào cả ở Zeno lẫn Epicurus. Bài tụng ca mang tính tôn giáo sâu đậm của Cleanthes không phải là lời phát biểu của một nhà huyền học mà của một người duy lí, một người tin vào lí trí hoàn vũ. Nếu quả thực những người này có nguồn gốc, tập quán và vẻ ngoài ngoại quốc thì họ đã đồng hóa quá nhiều với mô thức Hi Lạp, giống như nhiều thuộc địa của Đế chế La Mã, hoặc là giống những thổ dân của Levant hay Ấn Độ sống ở Pháp hay Anh trong thế kỉ 19. Các phong trào này thấm đẫm chất Hi Lạp. Thực ra Dodds than phiền rằng họ quá ư duy lí khiến cho những xung lực phi lí tính ép buộc Hi Lạp quay về với mê tín dị đoan.

Nguồn: Tất định luận và tự do lựa chọn (Liberty, Nhà xuất bản Oxford University Press, 2002) của Isaiah Berlin, do dịch giả Nguyễn Văn Trọng dịch một cách đầy đủ và mạch lạc

Dịch giả:
Nguyễn Văn Trọng