Tất định luận và tự do lựa chọn - Chương 3: Hai khái niệm về tự do (Phần 8)

Tất định luận và tự do lựa chọn - Chương 3: Hai khái niệm về tự do (Phần 8)

Cuộc cách mạng Pháp, giống như tất cả các cuộc cách mạng vĩ đại khác, ít nhất cũng trong hình thức Jacobin của nó, chính là một phun trào như vậy của khát vọng đòi tự do “khẳng định”- tự hướng dẫn tập thể, từ phía đông đảo những người Pháp, những người cảm thấy được giải phóng như một quốc gia, dẫu cho kết quả đối với số khá đông trong họ lại là hạn chế tự do cá nhân. Rousseau đã hả hê nói về sự thật rằng các luật lệ của tự do có thể chứng tỏ sẽ còn khắc nghiệt hơn cả cái ách của chính thể chuyên chế. Chính thể chuyên chế là phục vụ cho các ông chủ nhân bản. Luật pháp không thể là một bạo quân. Rousseau không hàm ý tự do theo nghĩa tự do “phủ định” của cá nhân không bị can thiệp ở bên trong một không gian xác định, mà hàm ý tự do như việc sở hữu phần được chia trong quyền lực công cộng bởi tất cả các thành viên có đầy đủ tư cách của xã hội, chứ không phải chỉ bởi một số, quyền lực công cộng ấy có quyền can thiệp vào bất cứ phương diện nào trong đời sống của bất cứ công dân nào. Những người thuyết giảng tự do ở nửa đầu thế kỉ 19 đã nhìn thấy trước thật đúng đắn là tự do theo nghĩa “khẳng định” có thể dễ dàng phá hủy thật nhiều các tự do “phủ định” mà họ coi là thiêng liêng. Họ đã chỉ ra rằng chủ quyền của nhân dân có thể dễ dàng phá hủy chủ quyền của các cá nhân. Mill giải thích thật kiên nhẫn và không được hồi đáp, rằng chính quyền của nhân dân hiểu theo nghĩa của ông không nhất thiết là tự do chút nào. Vì những người cai trị không nhất thiết cùng là cái “nhân dân” như những người bị cai trị, và cai trị tự quản dân chủ không phải là “mỗi người tự quản lấy mình”, mà nhiều nhất là “mỗi người đều bị quản bởi tất cả những người khác”.177 Mill và các môn đệ của ông nói về “chuyên chế của đa số” và về chuyên chế của “ý kiến và cảm xúc đang thịnh hành”178, và không thấy có khác biệt nhiều giữa nền chuyên chế ấy với bất cứ loại chuyên chế nào khác xâm phạm vào các hoạt động của con người vượt quá ranh giới thiêng liêng của đời sống riêng tư.

Không ai nhìn thấy sự xung đột giữa hai kiểu tự do tốt hơn, hay bày tỏ nó rõ ràng hơn, là Benjamin Constant. Ông đã chỉ ra rằng việc chuyển giao quyền uy từ một tập hợp những bàn tay này sang một tập hợp khác, bằng cách thực sự nâng cao quyền uy không giới hạn, thường được gọi là chủ quyền, sẽ không làm gia tăng tự do, mà chỉ đơn thuần dịch chuyển gánh nặng nô lệ. Ông đã có lí khi hỏi tại sao một người lại phải quan tâm nhiều đến việc liệu anh ta bị nghiền nát bởi chính quyền nhân dân hay chính quyền quân chủ, hay thậm chí bởi một tập hợp các luật pháp mang tính đàn áp. Ông đã nhìn thấy rằng, vấn đề chính yếu đối với những người mong muốn tự do cá nhân “phủ định” không phải là ai nắm được và sử dụng quyền uy ấy, mà là cái quyền uy ấy sẽ nhiều đến đâu, bất kể được đặt vào tập hợp những bàn tay nào. Vì quyền uy không giới hạn thâu tóm bởi bất cứ ai sớm muộn sẽ buộc phải phá hủy một ai đó. Ông đã giữ quan điểm cho rằng thông thường người ta phản đối chống lại tập hợp này hay tập hợp khác của các bàn tay đàn áp, khi nguyên nhân thực sự của việc đàn áp nằm đơn thuần ở sự kiện của bản thân việc tích tụ quyền lực, dù nó có thể xảy ra ở đâu đi nữa, vì rằng tự do bị lâm nguy đơn thuần do hiện hữu của quyền uy tuyệt đối như nó là thế. Ông viết: “Người ta phải lập hàng rào không phải để chống lại cánh tay, mà để chống lại vũ khí. Một số vũ khí là quá nặng đối với cánh tay con người.”179 Nền dân chủ có thể giải giáp một tên đầu sỏ nhất định, một cá nhân nhất định có đặc quyền hay một tập hợp các cá nhân, nhưng nó vẫn có thể nghiền nát các cá nhân một cách tàn nhẫn như bất cứ kẻ cai trị cũ nào. Một quyền bình đẳng trong việc đàn áp - hay can thiệp - không hề tương đương với tự do. Cũng như việc tất cả đều đồng ý chịu mất tự do mà lại vẫn giữ được tự do bằng cách thần kì nào đó, chỉ vì tất cả đều cùng chịu chung hay vì tất cả đều đồng ý. Nếu tôi đồng ý chịu đàn áp, hay ưng thuận vói tâm trạng thờ ơ hay mỉa mai, thì liệu tôi có bị đàn áp ít hơn không? Nếu tôi tự bán mình làm nô lệ, liệu tôi có là nô lệ ít hơn không? Nếu tôi quyết định tự sát, liệu tôi có bị chết ít hơn không, do tôi tự nguyện lấy đi cuộc sống của mình? “Chính quyền nhân dân đơn thuần chỉ là một chế độ quân chủ chuyên chế từng cơn co giật không đều đặn, một nền chuyên chế tập trung hơn.”180 Constant nhìn thấy nơi Rousseau một kẻ thù nguy hiểm nhất của tự do cá nhân vì Rousseau đã tuyên bố rằng “Bằng cách giao nộp mình cho tất cả, tôi không trao mình cho một ai hết.”181 Constant không hiểu nổi tại sao, dẫu cho chủ quyền có là “bất cứ ai”, nó lại phải không đàn áp một ai trong số những “thành viên” của cái ngã bất khả phân chia của nó, nếu nó cứ quyết định làm thế. Tất nhiên tôi có thể ưu tiên việc tước đoạt tự do của mình cho một quốc hội, hay một gia đình, hay một giai cấp mà tôi là một thiểu số trong đó. Điều này cho tôi cơ hội thuyết phục những người khác một ngày nào đó sẽ làm cho tôi cái mà tôi cảm thấy mình có quyền được hưởng. Thế nhưng cái việc tự do của tôi bị tước đoạt từ bàn tay của gia đình tôi, hay của bạn bè tôi, hay của đồng bào tôi, thì vẫn là việc tự do bị tước đoạt thật hiệu quả. Dù sao thì Hobbes cũng thật thà hơn: ông ta không giả bộ rằng một chủ quyền không nô dịch hóa; ông ta biện minh cho việc nô dịch ấy, nhưng không trâng tráo gọi nó là tự do.

Suốt thế kỉ 19 các nhà tư tưởng tự do chủ trương rằng, nếu tự do liên quan đến việc giới hạn quyền lực của bất cứ ai cưỡng bức tôi làm cái mà tôi không muốn hay có thể không muốn làm, thì dù có nhân danh bất cứ lí tưởng gì để ép buộc tôi, tôi vẫn là mất tự do; rằng học thuyết về chủ quyền tuyệt đối là một học thuyết mang tính chuyên chế trong bản thân nó. Nếu tôi muốn gìn giữ tự do của tôi, thì sẽ là không đủ nếu nói rằng: tự do phải không bị vi phạm trừ phi người này hay người khác - nhà cầm quyền chuyên chế, hay một quốc hội nhân dân, hay Nhà vua trong Nghị viện, hay các quan tòa, hay tổ hợp quyền uy nào đó, hay bản thân luật pháp (vì luật pháp cũng có thể mang tính đàn áp) - cho phép hợp pháp hóa việc vi phạm. Tôi phải thiết lập một xã hội trong đó có đường ranh giới nào đó cho tự do để không một ai được phép vượt qua nó. Những định danh hay bản chất khác nhau có thể được đưa ra cho các quy tắc xác định ranh giới ấy: chúng có thể được gọi là các quyền tự nhiên, hay lời của Thượng Đế, hay luật tự nhiên, hay đòi hỏi của tính hữu ích, hay “những quyền lợi lâu dài của con người”182. Tôi có thể tin tưởng chúng có giá trị một cách tiên nghiệm, hay khẳng định chúng là những mục đích tối hậu của chính tôi, hay mục đích của xã hội của tôi hay của nền văn hóa. Điểm chung của những quy tắc hay những điều răn ấy là chúng được chấp nhận thật rộng rãi và đọng lại thật sâu sắc trong bản chất hiện tại của con người, khiến cho chúng phát triển xuyên lịch sử cho đến nay để trở thành một bộ phận thiết yếu của cái mà chúng ta hàm nghĩa như một con người bình thường. Niềm tin chân thành vào tính bất khả vi phạm của một phạm vi tối thiểu cho tự do cá nhân, đòi hỏi một kháng cự tuyệt đối nào đó để bảo vệ nó. Vì rõ ràng là chẳng thể hi vọng gì từ việc cai trị theo đa số; nền dân chủ, như nó là thế, không bắt buộc phải làm chuyên này, và trong lịch sử nhiều khi nền dân chủ đã thất bại trong việc bảo hộ tự do trong khi vẫn giữ trung thành với các nguyên tắc của chính nó. Người ta đã quan sát thấy rằng ít có chính quyền phải gặp nhiều khó khăn trong việc khiến cho các thần dân của mình thể hiện bất cứ ý chí nào mà chính quyền mong muốn. Chiến thắng của chế độ chuyên chế là cưỡng bức được các nô lệ tuyên bố rằng họ là người tự do. Có thể chẳng cần đến vũ lực; các nô lệ có thể tuyên bố tự do của họ rất chân thành: nhưng họ vẫn là nô lệ không trừ một ai. Có lẽ giá trị chủ yếu đối với những người thuyết giảng tự do - “khẳng định” - về quyền chính trị, về sự tham gia vào chính quyền, là như phương tiện bảo hộ cho cái mà họ xem là một giá trị tối hậu, được gọi là tự do - “phủ định” - cho cá nhân.

Thế nhưng nếu các nền dân chủ có thể đàn áp tự do mà vẫn không thôi là dân chủ, ít nhất cũng như những người thuyết giảng tự do đã sử dụng từ ngữ, vậy thì điều gì có thể làm cho một xã hội là tự do thực sự? Đối với Constant, Mill, Tocqueville và truyền thống tự do mà họ đi theo, thì không có xã hội nào là tự do trừ phi xã hội ấy ít nhất cũng được chi phối bởi hai nguyên lí liên quan lẫn nhau: thứ nhất là, không phải quyền lực mà chỉ có quyền là được nhìn nhận như tuyệt đối, cho nên tất cả mọi người, dù quyền lực nào chi phối họ, đều có một quyền tuyệt đối từ chối hành xử phi nhân tính; và thứ hai là, ở đây có đường ranh giới không phải được vạch ra một cách giả tạo, ở bên trong đường ranh giới ấy con người phải là bất khả xâm phạm, những đường ranh giới ấy được xác định dưới dạng thức các luật lệ với điều kiện chúng được chấp nhận rộng rãi trong chừng mực việc tuân thủ các luật lệ ấy đã ở trong chính ý niệm về vấn đề thế nào là một con người bình thường, và do đó cũng là vấn đề thế nào là hành xử phi nhân tính hay điên rồ; ấy là các luật lệ mà sẽ là ngớ ngẩn, ví dụ như nếu nói rằng, chúng có thể bị hủy bỏ bằng một quy trình hình thức nào đó từ phía một tòa án hay cơ quan có thẩm quyền nào đó. Khi tôi nói về một người như một hữu thể bình thường, thì một phần của điều mà tôi hàm ý là anh ta không thể vi phạm các luật lệ ấy một cách dễ dàng mà lại không thấy băn khoăn ghê rợn. Đó là thứ luật lệ bị vi pham giống như khi một người bị tuyên cáo là có tội mà không có xét xử, hay bị trừng phạt theo luật pháp có hiệu lực trở về trước; như khi con cái được ra lệnh tố cáo cha mẹ chúng, bạn bè phản bội lẫn nhau, những tên lính sử dụng phương pháp man rợ; như khi con người bị tra tấn và giết hại, hay các nhóm thiểu số bị tàn sát vì đã làm cho một nhóm đa số hay một bạo quân phải tức giận. Những hành vi như thế, ngay cả khi chúng được thực hiện theo luật pháp bởi chủ quyền, gây ra nỗi kinh hoàng ngay cả vào thời ấy, và điều này nảy sinh từ việc thừa nhận giá trị đạo đức - không kể tới luật pháp - của những rào cản tuyệt đối nào đó cho việc áp đặt ý chí của người này lên người kia. Nền tự do của một xã hội, hay một giai cấp hay một nhóm người, trong ý nghĩa này của tự do, được đo bằng sức mạnh của những rào cản ấy, cũng như số lượng và tầm quan trọng của những con đường mà nó giữ mở ngỏ cho các thành viên của nó - nếu như chưa phải cho tất cả, thì ít nhất cũng cho số đông trong họ.183

Đây hầu như là ở cực đối lập với mục tiêu của những người tin tưởng vào tự do theo ý nghĩa “khẳng định” - tự hướng dẫn. Những người kia muốn kiềm chế quyền uy như bản thân nó. Còn những người này muốn quyền uy được đặt vào tay mình. Đó là vấn đề chủ yếu. Đây không phải là hai cách diễn giải khác nhau của một khái niệm đơn nhất, mà là hai thái độ đi ngược nhau thật sâu sắc và không thể hòa giải được đối với những mục đích của cuộc sống. Phải thừa nhận điều này, ngay cả khi trong thực tế vẫn thường hay cần phải tìm cách thỏa hiệp giữa hai thái độ ấy. Vì mỗi thái độ đều đưa ra khẳng định tuyệt đối. Cả hai khẳng định không thể cùng được thỏa mãn đầy đủ. Thế nhưng thật là quá thiếu hiểu biết xã hội và đạo đức, nếu không thừa nhận rằng, thỏa mãn điều mà mỗi thái độ tìm kiếm, là một giá trị tối hậu mà cả về mặt lịch sử cũng như về mặt đạo đức, đều có quyền như nhau để được xếp vào trong những lợi ích sâu sắc nhất của loài người.

Nguồn: Tất định luận và tự do lựa chọn (Liberty, Nhà xuất bản Oxford University Press, 2002) của Isaiah Berlin, do dịch giả Nguyễn Văn Trọng dịch một cách đầy đủ và mạch lạc

Dịch giả:
Nguyễn Văn Trọng