Khảo luận thứ hai về chính quyền - Chương 2: Về trạng thái tự nhiên

Khảo luận thứ hai về chính quyền - Chương 2: Về trạng thái tự nhiên

§4. Để hiểu về quyền lực chính trị một cách đúng đắn và nhận ra nguồn gốc của nó, chúng ta phải xem xét đâu là trạng thái mà mọi người tồn tại một cách tự nhiên trong đó, và là một trạng thái tự do hoàn hảo, để sắp xếp cho hành động của họ, sắp đặt tài sản và cá nhân họ theo những gì mà họ cho là thích hợp, trong khuôn khổ của luật tự nhiên, mà không phải hỏi xin phép và không phụ thuộc vào ý chí của bất kỳ ai khác.

Đó cũng là một trạng thái bình đẳng khi mà tất cả quyền lực và quyền thực thi công lý có tính hỗ tương, không một ai có nhiều hơn người khác. [K]hông có gì hiển nhiên hơn là những sinh vật của cùng một loài và một hạng, được sinh ra một cách ngẫu nhiên với cùng những thuận lợi tự nhiên, sử dụng cùng những năng lực, cũng phải là những sinh vật bình đẳng với nhau mà không có sự lệ thuộc hay khuất phục; trừ khi vị chúa tể và chủ nhân của tất cả họ - bằng sự tuyên bố rõ ràng ý chí của ngài - đặt người này lên trên người khác, và ban tặng cho người đó - bằng sự chỉ định hiển nhiên và rõ rệt - một quyền thống trị không thể nghi ngờ và một chủ quyền tối cao không thể hoài nghi.

§5. Sự bình đẳng này của con người là do tự nhiên đem lại, Hooker Sáng suốt¹⁷ xem đó là điều hết sức hiển nhiên, tự thân và vượt lên mọi vấn đề, đến mức ông biến nó thành nền tảng cho nghĩa vụ yêu thương lẫn nhau giữa người và người; trên đó ông xây dựng những bổn phận mà chúng ta phải có đối với người khác, và từ đây ông đưa ra những cách ngôn cao cả về công bằng và tình thương. Ông nói rằng:

Sự thôi thúc tự nhiên giống nhau đã đưa người ta đến nhận thức rằng yêu thương người khác hơn cả bản thân chính là bổn phận của mình. [Đ]ể nhận ra những điều vốn là bình đẳng này thì nhất thiết là tất cả phải có một tiêu chuẩn chung. [N]ếu tôi không thể có những gì tốt đẹp nhưng lại mong muốn nhận được, ngay ở mức mà mỗi người khác có, như bất kỳ ai cũng có thể mong muốn để thỏa tâm tư của riêng mình; thì tôi phải nhìn nhận vấn đề như thế nào khác nữa để có phần mong muốn được thỏa mãn của tôi trong đó, trừ khi chính tôi cũng lưu tâm thỏa mãn mong muốn giống như vậy, mà không nghi ngờ gì, là cũng có ở người khác, như một bản tính tự nhiên và có cùng bản tính đó như tôi? Có điều gì được đề nghị với họ mà xung khắc với mong muốn này, nhất thiết là mọi khía cạnh phiền lòng gây cho họ thì cũng là từng ấy phiền lòng gây cho tôi, đến mức nếu tôi gây tổn hại cho mong muốn của họ, tôi phải lưu ý đến cái tôi phải chịu. [K]hông có lý do gì mà người khác phải chứng tỏ sự yêu thương lớn hơn đối với tôi, so với yêu thương họ có được từ sự thể hiện của tôi đối với họ. [V]ì thế mà mong muốn nhận được sự yêu thương của những người bình đẳng với tôi trong tự nhiên - ở mức tối đa mà sự yêu thương đó có thể có - đặt lên tôi một bổn phận tự nhiên, là mang đến cho họ đầy đủ sự yêu mến giống như vậy. [T]ừ sự yêu mến đó mà quan hệ bình đẳng giữa ta với họ - vốn cũng như là chính ta vậy, cùng các quy tắc và tiêu chuẩn lý trí tự nhiên - vốn là cái vạch ra phương hướng cho cuộc đời, là những điều không khiến ai là ngu dốt cả. (Hooker, Eccl. Pol. Lib. i.).

§6. Nhưng dù đây là một trạng thái tự do, nó không phải là trạng thái lộn xộn. [D]ù trong trạng thái này người ta có một quyền tự do không có sự kiểm soát để sắp đặt con người hay tài sản của mình, nhưng anh ta không được tự do hủy diệt bản thân, hay làm việc đó cho dù là đối với một sinh vật bất kỳ nào thuộc tài sản của anh ta, trừ khi cần đến việc này vì những điều còn cao đẹp hơn là bảo toàn sự tồn tại đơn thuần của nó.

[T]rạng thái tự nhiên có luật tự nhiên để cai quản, bắt buộc mọi người phải tuân thủ; và lý trí - vốn là luật này - huấn thị cho toàn thể loài người - những người có ý chí riêng nhưng phải tham vấn nó, rằng tất cả đều bình đẳng và độc lập với nhau. [K]hông ai được phép làm hại đến sinh mạng, sức khỏe, tự do, hay tài sản của người khác, vì tất cả đều là tuyệt tác của một đấng Sáng tạo toàn năng và thông thái vô hạn; tất cả đều là đầy tớ của một chủ nhân tối thượng, được sai phái vào thế giới này do lệnh của ngài và cho công việc của ngài. Họ là tài sản của ngài, là tuyệt tác của ngài, được tạo ra để tồn tại trong hoan hỉ của ngài - chứ không phải của người khác, và được trang bị những năng lực giống nhau, chia sẻ tất cả trong một cộng đồng tự nhiên. [Ở] đó không thể giả định bất kỳ sự lệ thuộc nào giữa những con người chúng ta, nghĩa là có thể trao quyền cho ta đi hủy diệt người khác, hoặc như thể chúng ta được tạo ra là để cho người khác sử dụng, giống như những sinh vật ở hạng thấp kém hơn là dành cho việc sử dụng của chúng ta. Mỗi người, do ràng buộc với sự bảo toàn của chính mình - chứ không phải với chủ ý thoát ra khỏi vị thế đó, nên với nguyên do giống như vậy, khi sự bảo toàn của bản thân không dùng vào tranh đua, thì ngoài bản thân mình, người ta còn cần phải bảo toàn cho toàn thể phần loài người còn lại, ở mức tối đa có thể; và không thể lấy đi hay làm suy yếu đi sinh mạng hay những khuynh hướng nhằm bảo toàn sự sống, quyền tự do, thân thể hay tài sản của người khác, trừ khi là để thực hiện công lý với kẻ vi phạm.

§7. Và lý trí đó cũng huấn thị rằng tất cả mọi người có thể phải bị ngăn chặn để không đi xâm hại các quyền của người khác, không gây phương hại cho người khác; còn luật tự nhiên, cái mang ý chí hòa bình và bảo toàn cho toàn bộ loài người, thì phải được tuân theo. [V]iệc thực thi luật tự nhiên, trong trạng thái này, được đặt vào tay của mỗi người, vì vậy mỗi người đều có quyền trừng phạt những kẻ xâm phạm đến luật của nó, đến mức có thể cản trở sự vi phạm này. Vì luật tự nhiên, như tất cả các luật khác liên quan đến con người trên thế giới này, sẽ là vô hiệu nếu như không một ai trong trạng thái tự nhiên có quyền lực để thực thi luật đó, nhằm bằng cách này mà bảo vệ cho người vô tội và ngăn chặn kẻ vi phạm. Và nếu một người bất kỳ trong trạng thái tự nhiên có thể trừng phạt người khác vì bất kỳ điều xấu nào mà người này gây ra, thì mỗi người còn lại cũng đều có thể làm như thế; vì trong trạng thái bình đẳng hoàn hảo đó, nơi mà mặc nhiên không có phẩm vị cao hơn hay quyền tài phán nào của người này lên người khác, thì bất kỳ điều gì có thể thực hiện như là hành động truy tố của luật tự nhiên, mỗi người nhất thiết đều phải có quyền để làm.

§8. Và vì thế, trong trạng thái tự nhiên, người này có được quyền lực đối với người kia, nhưng không phải là quyền lực tuyệt đối hay quyền lực độc đoán để xử sự với một tội phạm - khi kẻ này đã nằm trong tay - bằng sự cáu giận sục sôi hay sự cực đoan vô độ từ ý chí của riêng mình, mà chỉ là một sự đáp trả trong phạm vi của sự bình tĩnh lý trí và mệnh lệnh lương tâm, tương xứng với vi phạm của anh ta, ở chừng mực mà nó phục vụ cho việc bồi thườngkiềm chế thiệt hại. Hai điều này là những lý do duy nhất giải thích tại sao một người có thể gây hại một cách hợp pháp cho người khác, mà chúng ta gọi là sự trừng phạt.

[B]ằng việc vi phạm luật tự nhiên, người vi phạm đã tự tuyên bố rằng mình sống bằng quy tắc khác thay cho quy tắc của lý trí và bình đẳng cộng đồng, vốn là tiêu chuẩn mà Thượng đế đã sắp đặt cho hành động của con người, vì sự an ninh hỗ tương của họ; và do đó, người vi phạm đã trở nên nguy hiểm đối với loài người. [S]ự ràng buộc giúp bảo vệ con người trước những phương hại và bạo lực nay đã bị anh ta làm suy yếu và phá vỡ. Đó là sự xâm hại chống lại toàn thể giống loài, chống lại hòa bình và an toàn của giống loài đã được trù liệu từ chính luật tự nhiên. [M]ỗi người đạt đến sự bảo vệ này bằng cái quyền anh ta có nhằm bảo toàn cho loài người nói chung, để có thể ngăn chặn hay - vào lúc cần thiết - tiêu diệt những điều có hại đối với loài người, và do vậy, có thể đem điều tồi tệ như thế đến với bất kỳ ai đã xâm phạm luật tự nhiên, khi điều tồi tệ đó có thể khiến người này phải hối hận vì đã làm như vậy, và vì thế mà làm thoái chí anh ta; và từ tấm gương của anh ta mà ngăn cản người khác có hành động nguy hại giống như thế. Trong trường hợp này, và với cơ sở này, mỗi người đều có quyền trừng phạt người vi phạm, và đều là người chấp pháp của luật tự nhiên.

§9. Tôi không hề nghi ngờ rằng chính điều này dường như sẽ là một chủ thuyết rất lạ lùng đối với một số người; nhưng trước khi lên án nó, tôi mong rằng họ sẽ giải quyết cho tôi vấn đề là bằng quyền nào mà một quân vương hay một nhà nước có thể bắt một người ngoại quốc phải chết hay trừng phạt anh ta, vì tội hình sự nào đó anh ta phạm phải trên đất nước của quân vương hay nhà nước này. Đó chắc chắn là luật pháp của nơi này, vì bất kỳ phê chuẩn nào nhận được từ ý chí của cơ quan lập pháp, được công bố chính thức, cũng không thể chạm được đến người lạ. [C]húng được công bố không phải với người ngoại tộc, mà nếu có công bố với người như thế, chúng cũng không buộc được anh ta phải nghe theo. Thẩm quyền lập pháp, nơi mà từ đó luật pháp có hiệu lực pháp lý đối với thần dân của một cộng đồng quốc gia, không có quyền lực đối với người ngoại quốc đó. Những người có quyền làm luật tối cao ở Anh, Pháp, hay Hà Lan có quyền đó đối với một người Indian¹⁸, nhưng giống như tất cả những người còn lại của thế giới, họ là người không có thẩm quyền đối với người ngoại quốc này. Và vì thế, nếu theo luật tự nhiên mà mỗi người lại không có quyền hạn để trừng phạt những người xâm phạm đến nó - khi anh ta phán xử đúng mực trường hợp đặt ra, tôi không thấy có cách thức nào cho các quan cai trị của một cộng đồng có thể trừng phạt một người ngoại tộc của một đất nước khác; vì đối với người này, họ không có quyền lực gì hơn so với cái mà mọi người còn lại cũng có một cách mặc nhiên đối với người khác.

§10. Cùng với việc phạm tội - chủ yếu ở sự xâm phạm luật pháp, việc hành động khác với quy tắc đúng đắn của lý trí sẽ đưa một người đi xa đến mức trở nên thoái hóa, tự tuyên bố mình rút khỏi những nguyên tắc của bản tính con người, và là một sinh vật có hại - thường gây thương tổn cho người này người kia, còn người khác thì lại nhận lãnh thiệt hại do hành động xâm phạm của con người đó. [T]rong trường hợp của người nhận lãnh thiệt hại, bên cạnh quyền trừng phạt chung mà người khác cũng có, anh ta còn có một quyền đặc biệt riêng nhằm tìm kiếm sự bồi thường thiệt hại từ người gây hại. Đồng thời, bất kỳ ai khác nhận thấy điều đó là đúng, đều có thể liên kết với người bị phương hại và trợ giúp anh ta trong việc giành lại từ kẻ vi phạm, càng nhiều càng tốt, những đền bù thỏa đáng so với sự tổn hại mà anh ta đã chịu.

§11. Từ hai quyền riêng biệt này - một là để trừng phạt tội phạm nhằm kiềm chế và ngăn ngừa những người khác xâm phạm giống như vậy, tức cái quyền trừng phạt vốn có ở mỗi người; còn quyền kia là để nhận bồi thường thiệt hại - là điều chỉ có ở phía người bị hại, ta sẽ bước sang vấn đề khác, là việc quan cai trị, vốn bằng chức vị này mà có trong tay quyền trừng phạt của cộng đồng, có thể thường xuyên miễn trừ sự trừng phạt cho những vi phạm hình sự, từ chính thẩm quyền của ông ta, ở nơi mà lợi ích công không đòi hỏi thực thi pháp luật. [N]hưng điều đó vẫn không miễn trừ quyền được hưởng sự bồi thường thỏa đáng của riêng cá nhân đã phải nhận lấy thiệt hại. Thế thì, người đã chịu thiệt hại có quyền đòi hỏi bồi thường, nhân danh chính mình, và chỉ một mình anh ta mới có thể miễn trừ cho điều đó. [N]gười bị phương hại có quyền chiếm đoạt về cho riêng mình tài sản hay sự phục vụ mà người đã vi phạm có, từ quyền tự bảo toàn - như việc mỗi người có quyền trừng phạt tội phạm nhằm ngăn chặn sự tái phạm - từ cái quyền bảo toàn toàn thể loài người mà anh ta có, và làm mọi điều hợp lý mà anh ta có thể làm nhằm đạt mục đích đó. Và vì thế, trong trạng thái tự nhiên, mỗi người đều có quyền hạn để giết một kẻ sát nhân nhằm ngăn chặn người khác gây ra thương tổn giống như vậy - vốn không có sự bồi thường nào có thể bù đắp được cho người đã bị sát hại - bằng tấm gương trừng phạt mà hành động của mọi người nhắm đến; mà cũng nhằm bảo vệ mọi người trước những cố gắng của một tội phạm - người mà sau khi từ bỏ lý trí, từ bỏ quy tắc chung và tiêu chuẩn mà Thượng đế đã ban tặng cho loài người, bằng bạo lực bất công và giết chóc mà anh ta phạm phải với người khác, đã tuyên bố chiến tranh chống lại loài người, và vì thế có thể bị tiêu diệt như một con sư tử hay một con hổ, trong số những con thú hoang dã nguy hiểm. [S]ống với người như thế, người ta không có được xã hội, mà cũng không được an ninh. Và điều này đặt nền tảng trên cái luật tự nhiên vĩ đại, là “nợ máu phải trả bằng máu”. Và Cain¹⁹ đã hoàn toàn nhận thức được rằng mỗi người đều có quyền tiêu diệt một tên tội phạm như vậy khi hắn đã sát hại người em của mình; chính là hắn đã gào lên “Bất kỳ ai nhận ra con đều sẽ giết hại con”. [Đ]iều giản dị như thế được viết vào tim óc của cả loài người.

§12. Với cùng lý do, người sống trong trạng thái tự nhiên cũng có thể trừng phạt những vi phạm nhỏ hơn. Điều này có lẽ sẽ được gặng hỏi tiếp rằng, với án tử hình chăng? Tôi trả lời là mỗi người vi phạm đều có thể bị trừng phạt đến mức độ đó, và sự khốc liệt đến như thế sẽ đáp ứng việc khiến cho người vi phạm ở vào vị thế mặc cả yếu ớt, cho anh ta nguyên nhân để hối hận và khiến người khác kinh hãi mà tránh đi việc hành động giống như vậy. Tất cả những vi phạm nào bị lên án trong trạng thái tự nhiên có thể đều bị trừng phạt như nhau, và đến mức mà có thể cũng như thế trong cộng đồng quốc gia. Vì dù sẽ ra khỏi chủ đích hiện tại của tôi, khi đi 

vào những trường hợp cụ thể của luật tự nhiên hay những hạn mức của việc trừng phạt, thì vẫn chắc chắn là có một luật như vậy; luật đó cũng dễ hiểu và giản dị đối với một sinh vật có lý trí và một người nghiên cứu luật tự nhiên, như ở các luật xác thực²⁰ của các cộng đồng quốc gia. [K]hông những thế, điều đơn giản khả dĩ hơn, là lý lẽ càng dễ dàng thì càng dễ được hiểu, thay vì những tưởng tượng và trù liệu rắc rối của nhiều người, theo những quyền lợi đối lập và những ẩn giấu đặt trong ngôn từ, vì đích thực là một phần lớn các luật quốc gia của các nước chỉ thật sự đúng đắn khi được xây dựng trên luật tự nhiên, và theo luật này mà chúng được điều chỉnh và diễn dịch.

§13. Đối với chủ thuyết lạ lùng này, tức điều cho rằng trong trạng thái tự nhiên, mỗi người đều có một quyền lực hành pháp của luật tự nhiên, tôi không nghi ngờ; nhưng nó sẽ bị phản đối, rằng vô lý khi người ta là các quan tòa trong những trường hợp của riêng họ, rằng sự tự yêu mình sẽ khiến người ta thiên vị cho bản thân và bạn bè; và bên cạnh đó, bản tính xấu, sự xúc động và thù hằn sẽ đưa họ đi quá xa khi trừng phạt người khác, và từ đây, theo sau nó sẽ không là gì khác ngoài sự hỗn độn và rối loạn; và rằng vì thế Thượng đế đã dứt khoát chỉ định chính quyền để kiềm chế sự thiên vị và bạo lực của con người.

Dưới đây là đoạn văn bản được trích xuất từ hình ảnh của bạn:

[T]ôi dễ dàng chấp nhận rằng chính quyền dân sự là phương thức thích đáng cho những bất tiện của trạng thái tự nhiên - một trạng thái chắc chắn là cao quý, nơi mà người ta có thể là quan tòa cho trường hợp của riêng mình - vì dễ dàng để hình dung rằng người nào đã bất công đến mức làm cho anh em mình bị thương tổn, thì sẽ khó mà công bằng khi lên án mình vì hành động đó. Nhưng tôi mong muốn những người đưa ra phản đối này hãy nhớ rằng các ông vua chuyên chế cũng chỉ là những con người, và nếu chính quyền là phương thuốc cho những điều tệ hại tất yếu sẽ xuất phát từ các quan tòa, vốn là cùng những con người đó, trong trường hợp của riêng họ, thì trạng thái tự nhiên vì thế mà không thể tồn tại kéo dài. Tôi mong được biết đâu là loại chính quyền tốt hơn, và tốt hơn đến mức nào so với trạng thái tự nhiên, ở nơi mà một người ra lệnh cho muôn người, có quyền tự do để làm quan tòa cho trường hợp của riêng mình, mà cũng có thể làm bất cứ điều gì ông ta muốn với tất cả thần dân của mình, nhưng lại không có quyền tự do tối thiểu cho bất kỳ ai khác để đặt vấn đề hay kiểm soát những người thực thi ý muốn của ông? Và ở những gì mà ông làm, có được hướng dẫn bằng lý trí hoặc từ sự sai lầm hay cảm xúc không, có được đưa ra để xem xét không? Vẫn còn tốt hơn nhiều trong trạng thái tự nhiên, khi mà người ta không bị ràng buộc phải phục tùng ý chí bất chính của người khác; và nếu ai đưa ra phán xử mà những phán xử đó sai, trong trường hợp của riêng mình hay trong những trường hợp khác, anh ta phải chịu trách nhiệm trước phần loài người còn lại.

§14. Điều vẫn thường được đưa ra như một phản đối đầy sức mạnh, rằng đâu là, hay đã từng là, nơi có ai đó sống trong một trạng thái tự nhiên như vậy? Có thể có câu trả lời đầy đủ cho nó ngay lúc này, rằng vì lẽ mọi quân vương và mọi nhà cai trị của các chính quyền độc lập trên khắp thế giới này ở trong một trạng thái tự nhiên, nên đơn giản là thế giới đã không bao giờ, mà cũng sẽ không bao giờ là trạng thái tự nhiên mà lại không có một lượng lớn người trong đó. Tôi đã nêu tên tất cả những người cai quản các cộng đồng độc lập, cho dù họ có trong liên minh với cộng đồng khác hay không; vì không phải mỗi thỏa ước đó là cái đặt sự kết thúc cho trạng thái tự nhiên của con người, mà chỉ là sự thỏa thuận cùng nhau gia nhập vào một cộng đồng và làm nên một cơ thể chính trị; những hứa hẹn và thỏa thuận khác người ta vẫn có thể đi đến với nhau, và vẫn trong trạng thái tự nhiên. Các hứa hẹn và thỏa thuận giá cả mua bán chẳng hạn, giữa hai người trên một đảo hoang, được Garcilasso de la Vega$^{21}$ nói đến trong sách lịch sử của ông về Peru, hay giữa một người Thụy Sĩ với một người Indian trong một khu rừng châu Mỹ, đang ràng buộc họ với nhau - dù họ hoàn toàn trong trạng thái tự nhiên - trong tương quan với một vấn đề khác: lẽ phải và sự tin tưởng giữa con người với nhau, với tư cách là con người chứ không phải với tư cách thành viên xã hội.

§15. Đối với những người nói rằng không bao giờ có một ai trong trạng thái tự nhiên, tôi sẽ không chỉ phản đối ảnh hưởng đầy quyền uy của Hooker Sáng suốt (Hooker, Eccl. Pol. lib. i. 10) khi ông nói rằng: Các luật được đề cập cho đến nay, tức các luật tự nhiên, luôn ràng buộc người ta một cách tuyệt đối, ngay cả với tư cách là những con người, cho dù họ không bao giờ có một tình bằng hữu lâu bền, không bao giờ có sự thỏa thuận chính thức nào với nhau về cái cần làm hay không cần làm, nhưng vì mọi sự đến mức độ là tự chúng ta không đủ sức để trang bị cho bản thân mình một cách dồi dào những thứ cần thiết cho một cuộc sống mà như bản tính của chúng ta mong muốn - một cuộc sống thích hợp cho phẩm giá của con người; vì thế, để bổ khuyết cho những điểm yếu và không hoàn thiện vốn có nơi chúng ta, khi chính ta sống một cách riêng lẻ và đơn độc, đã có sự xui khiến tự nhiên để ta tìm đến cộng đồng và tình bằng hữu với người khác. Đó là nguyên nhân của việc con người hợp đoàn nhau lại lúc đầu, trong một xã hội chính trị; mà tôi còn khẳng định thêm, rằng mọi người vốn dĩ là trong trạng thái tự nhiên đó, và cứ duy trì như thế đến khi, bằng sự chấp thuận của chính mình, họ khiến mình trở thành thành viên của một xã hội chính trị. [V]à, không cần nghi ngờ, trong phần tiếp theo của luận văn này, điều đó sẽ được tôi làm sáng tỏ.

17 Richard Hooker (1554-1600): nhà thần học Anh giáo nhiều ảnh hưởng, nhấn mạnh đến lý trí và khoan dung, được vinh danh vào ngày 03 tháng Mười một như một ngày lễ phụ của Giáo hội Anh.

18 Indian: người bản địa châu Mỹ.

19 Cain và Abel là hai anh em con của Adam và Eve; Cain trồng trọt, Abel nuôi cừu. Một lần dâng lễ vật cho Chúa trời, phần của Cain là hoa quả, của Abel là thịt và sữa từ lứa đầu của đàn gia súc. Cain giết em mình sau lần đó. Khi Chúa trời hỏi về Abel thì Cain trả lời: “Con là người lo giữ em trai mình sao?” Khi “tiếng gọi thẫm máu” của Abel vọng lên từ lòng đất báo cho biết, Chúa trời đã nguyền rủa Cain là phải đi lang thang khắp nơi. Cain tràn ngập sợ hãi bị người khác giết vì tội lỗi của mình và thốt ra câu nói mà Locke đã dẫn lại. Chúa trời đã phải đánh dấu cho Cain và tuyên bằng: “Ai giết Cain sẽ phải nhận lấy nguy hiểm gấp bảy lần.” Dù sao, Cain sau đó vẫn là cha của nhiều người con và không còn lang thang nữa, đã định cư và xây dựng nên một đô thị.

20 "Luật xác thực" thường được hiểu là những luật được con người làm nên, khác với "luật tự nhiên" vốn mặc nhiên mà có, hay khác với "luật thánh" không mang tính xác thực như luật thế tục.

21 Garcilasso de la Vega (1501?1503?-1536): tướng phục vụ dưới trướng Charles V ("Hoàng đế của Rome thần thánh và Quốc vương của Tây Ban Nha", 1500-1558), tham gia chinh chiến nhiều nơi. Cuốn sách được nói đến là Le Commentaire Royale, ou L'Historie des Incas,Rois du Peru (Nhận định của hoàng gia, hay là lịch sử người Incas, các hoàng đế tại Peru) 1633.

Nguyên tác: John Locke, Two treatises of Government (Cambridge Text in the History of Political Thought), Cambridge University Press, 1960, 1967, 1988, 17th printing 2005

Bản dịch: Luận thứ hai về chính quyền - chính quyền dân sự, NXB Tri Thức, dịch giả Lê Tuấn Huy

Dịch giả:
Lê Tuấn Huy