Tất định luận và tự do lựa chọn - Chương 7: Sự ra đời của chủ nghĩa cá nhân Hi Lạp (Phần 4)

Tất định luận và tự do lựa chọn - Chương 7: Sự ra đời của chủ nghĩa cá nhân Hi Lạp (Phần 4)

Cho tới nay một điều tầm thường sáo mòn ai cũng biết là những người Hi Lạp thời kì cổ đại, đặc biệt là Athens và Sparta ở thế kỉ thứ 5 tCN, quan niệm con người bằng những từ ngữ có bản chất xã hội. Bằng chứng về điều này chẳng cần phải viện dẫn. Bi kịch và hài kịch cổ điển ở thế kỉ thứ 5, các sử gia Herodotus và Thucydides xem đời sống tự nhiên của con người cứ như là đời sống được định chế hóa của polis.311 Ý kiến kháng cự lại điều này - nhân danh tự do cá nhân hay thậm chí thoái lui hòa bình khỏi nơi giao dịch công cộng về cuộc sống riêng tư - cũng khó mà hình dung được. Những thằng ngốc (Idiotes) có nghĩa trực tiếp là “công dân ở nhà” (private citizen), nhưng trong chừng mực liên quan đến diện mạo con người lo việc riêng tư của bản thân mình gây tổn hại cho công việc của thành bang, nó có thể có ý nghĩa chê bai giống như từ ngữ hiện đại liên quan đến từ đó về mặt từ nguyên. Còn đối với các triết gia - những người đánh giá có ý thức những ý kiến được công chúng chấp nhận xem như là đúng và được thẩm tra về những mục đích tối hậu của cuộc đời - nếu chúng ta lấy hai bậc thầy vĩ đại mà những trước tác của họ bao trùm tư duy Hi Lạp và cả mãi sau này - Plato và Aristotle - nhấn mạnh đến các giá trị xã hội là áp đảo trong các tác phẩm của họ. Aristotle nói: “Không được nói là một công dân thuộc về chính bản thân anh ta, mà phải nói là toàn bộ con người công dân thuộc về polis: bởi con người cá nhân là một bộ phận của polis.”312

Khẳng định giản dị ấy có thể còn nguyên giá trị như một công thức tổng kết thái độ của tất cả các nhà tư tưởng chủ yếu của Athens cổ đại. Aristotle thận trọng hạn định luận đề này: có thể có một tình trạng như là quá đơn điệu ở thành bang. Các công dân không nên bị nghiền nát, những khác biệt trong tính cách và thái độ cần phải được dành cho không gian thỏa đáng để chúng tự thể hiện mình. Những đức hạnh mà Aristotle thảo luận phần lớn là những đặc trưng của con người trong giao tiếp với nhau trong bối cảnh xã hội: hình ảnh lí tưởng của con người hào phóng, lỗi lạc, giàu có, có tinh thần vì việc chung với cái nhìn tự do phóng khoáng, phẩm cách cao và tầm cỡ lớn, vượt lên trên một công dân thường thường bậc trung, là không thể quan niệm được, ngoại trừ trong một xã hội có trật tự, được tổ chức tốt. “Con người về bản chất được sinh ra để sống trong một polis.313 Tình cảm ấy là chủ chốt trong các bản văn cổ điển của nghệ thuật và tư tưởng Hi Lạp còn lưu giữ được. Có vẻ như không cần thiết phải có luận cứ nào để thiết lập giả định này, vì nó là thứ gì đó thật hiển nhiên khiến cho tất cả những người có đầu óc lành mạnh đều tin vào mà không tra vấn, nó là một bộ phận của nhận xét chung về con người. Cảnh cô đơn chỉ có ở nơi thần linh hay thú vật: đó là con người cấp thấp hay con người siêu nhiên. 

Thái độ này cũng là thái độ chung của Plato vì cảm giác kinh tởm của ông đối với nền dân chủ Athens. Một số môn đệ của Plato cho rằng ông quan tâm nhiều đến chuyện tâm hồn cá nhân có trật tự đúng đắn, hơn là việc tổ chức xã hội và chính trị. Đôi khi ông nhận xét về hiệu quả “không xảy ra chuyện xấu xa cho người tốt trong lúc sống cũng như sau khi chết”314 – điều này quả thực đã được nhắc lại trong tác phẩm Cộng hòa315. Cả Plato lẫn Anstotle đều nói về cuộc sống trầm tư như cuộc sống cao nhất mà con người có thể sống. Tầm nhìn của hai ông hướng đến mục tiêu tối hậu mà mọi vật đều tìm kiếm, lời giải đáp cho câu hỏi tại sao mà mọi vật lại đang là như chúng đang là và tìm kiếm để được là cái mà chúng muốn được là: ấy là thỏa mãn [khao khát] tìm kiếm chân lí, cả trên lí thuyết lẫn trong thực tiễn. Quay trở về hang động và thế giới của ảo ảnh, nơi con người theo đuổi những mục đích trá ngụy, nào tranh giành nhau, nào cãi cọ nhau ầm ĩ, nào lo lắng cáu giận, nào sống ngu ngốc và hư hỏng - việc quay trở lại này phải được nhìn nhận chỉ như một tình trạng bất đắc dĩ cùng cực. Nhưng mà họ vẫn còn phải quay trở lại. Tại sao vậy? Vì họ cần phải sáng tạo một xã hội mà trong đó một người minh triết - Socrates - sẽ không bị bắt phải chết hay sao? Hay chỉ vì nhà nước có thể giáo dục khiến cho con người có khả năng đức hạnh và minh triết, và có thể thấu hiểu được hiện thực mà chỉ có thấu hiểu ấy mới đem lại an toàn đạo đức và trí tuệ cùng cảm giác thỏa mãn hay sao? Đó là những lời giải đáp khác nhau mà lời giải đáp này không hòa hợp được với lời giải đáp kia: nhưng những lời giải đáp ấy có điểm chung, đó là quan điểm cho rằng con người không thể và không nên sống bên ngoài nhà nước.

Quả thực là Socrates đã tránh được mọi điều: ông đã tuân thủ luật pháp và hoàn tất nghĩa vụ quân sự thật xuất sắc, nhưng ông đã tránh xa chính trị, nếu chúng ta tin vào những người đã viết về ông, vì rằng nền dân chủ Athens đã quá tham nhũng và không một ai trong những người biết được chân lí nằm ở đâu, lại chịu đi xin những giải thưởng hào nhoáng rẻ tiền mà một xã hội xấu xa đồi bại mời chào. Mặc dù vậy, một trong những lời buộc tội chống lại ông là ông đã quá gần gũi với Critias, thủ lĩnh của những tên bạo chúa đã tiếm quyền và thiết lập một vương triều khủng bố, cũng như đã tàn sát khá nhiều nhà dân chủ. Socrates đã không bị buộc tội vì đã quay lưng lại với cuộc sống công dân, mà vì “đã làm đồi bại các thanh niên”316 và vì đã gieo rắc hoài nghi về các giá trị gìn giữ kết cấu xã hội, và, chắc chắn, vì đã là bạn của Aldbiades, một kẻ phản bội, và là bạn của những thanh niên dòng dõi, những kẻ đã khinh miệt những người bán hàng khô và thợ thuộc da là những người tạo nên số đông các cử tri Athens, nói cách khác, vì ông đã thuyết giảng các học thuyết thường được tạo ra bởi giới tinh hoa, có thể là giới tình hoa duy lí, nhưng vẫn còn là những người tài giỏi vượt trên toàn thể công dân bình thường, những đầu sỏ chính trị tin vào các giá trị cao hơn của bản thân họ và không tin vào bình đẳng hay đa số phiếu bầu.

Đây chưa phải là việc tách rời khỏi chính trị, nhưng là tích cực lật đổ một kiểu đặc biệt của đời sống chính trị. Tại Crito, nơi cảnh sát nói với Socrates trước khi ông chết rằng ông là một đứa trẻ và là kẻ nô lệ của luật pháp. Ông là một trong số người đã vi phạm luật pháp. Một khi luật pháp đã được đặt ra thì nghĩa vụ của công dân là phải tuân theo - không có vấn đề chọn lựa ra khỏi cam kết như thế. Người công dân chịu ơn luật pháp nhiều hơn là cha mẹ đẻ của mình.317 Socrates cho điều này là dĩ nhiên; ông không tranh cãi điều đó: đạo đức hợp nhất anh với xã hội, và trên hết anh không được phá hủy luật pháp bằng cách không tuân theo do luật pháp bất công, do anh phải đau khổ một cách bất công dưới luật pháp ấy. Quyền của kết cấu xã hội là tối thượng. Giả định cho rằng Plato chỉ quan tâm đến hay thậm chí quan tâm chủ yếu đến việc tạo điều kiện, sao cho thiểu số đủ tài năng khám phá chân lí có thể có điều kiện để theo đuổi nghiên cứu của mình, giả định này thực tế không thể đứng vững. Dù tác phẩm Cộng hòa có được diễn giải thế nào đi nữa thì Chính trị vẫn là một chuyên luận không phải về các phương tiện mà về mục đích - theo ông thì chỉ có cuộc sống xứng đáng với con người mang danh cuộc sống của thành bang, là cuộc sống mà những người có trách nhiệm nên sống. Đối với Plato, đức hạnh là kết quả của nền giáo dục được nhà nước định hướng. Một nhà nước xấu xa phải bị cải tổ hay giải thể, nhưng không phải để mất đi kết hợp của các cá nhân. Không có điều gì mà Plato phản đối gay gắt hơn là “một xã hội trong đó mọi người được phép làm bất cứ điều gì họ thích”.318 Khẳng định dữ dội nhất về điều này là trích đoạn nổi tiếng toong tác phẩm Luật pháp, ở đây sau đoạn phê phán Sparta như một nhà nước quân phiệt - một “trại lính” đơn thuần319, ông tuyên bố trong nhiều toang tiếp theo:

Chuyện có tính nguyên tắc là không một ai, đàn ông hay đàn bà, có bao giờ được ở một mình không có nhân viên trông coi, là không một ai được có thói quen tinh thần quyết định bất cứ hành động gì dựa trên trách nhiệm cá nhân, dù nghiêm chỉnh hay đùa vui. Trong hòa bình và trong chiến tranh anh ta luôn phải nhìn vào cấp trên của mình mà sống, theo lãnh đạo và dẫn dắt của ông ta trong mỗi hành động nhỏ nhặt nhất… Nói tóm lại, anh ta phải rèn luyện đầu óc sao cho thậm chí không nghĩ tới hành động như một cá nhân hay biết được làm chuyện đó thế nào.320

Chắc chắn đỉều này được ông viết ra vào lúc tuổi già cay đắng, sau thất bại của thí nghiệm ở Sicile, khi mà niềm tin nồng nàn của ông vào lí trí con người có thể đã bị suy yếu bởi thí nghiệm của ông về thói xấu và tình trạng điên rồ của con người. Trong một cách giải thích ôn hòa hơn, đây là lưu ý của Plato mỗi khi xuất hiện vấn đề về tổ chức chính trị. Quy giản đời sống xã hội thành một khuôn mẫu chặt chẽ duy nhất lấy cảm hứng từ logic học hay toán học có thể bàn luận về thái độ căm ghét tiềm ẩn đối với việc kết hợp xã hội như bản thân nó, hay về những vấn đề hòa giải tính đa dạng của con người và những mục tiêu, hay hòa trộn chúng thành một hình thức nào đó có thể phát triển được cho đời sống xứng đáng với con người, trong đó nghệ thuật hay khoa học chính trị có thể hiện diện ở đó. Có thể cho là như vậy, Plato rõ ràng suy nghĩ về con người trong bối cảnh xã hội. Trong hình dung của ông con người là ở giữa những con người. Ý nghĩa đạo đức của ông là ý nghĩa đạo đức xã hội, dù thậm chí không phải ở mức độ như Aristotle - với Aristotle thì đạo đức có thể tạo ra được từ chính trị. Chúng ta khám phá điều gì con người nên làm bằng cách tự hỏi tự nhiên đã dự tính những chức năng nào cho họ, để họ thực hiện trong khuôn mẫu mà họ được tạo ra vì nó. Thành bang Hi Lạp bắt nguồn từ khuôn mẫu ấy. Ở nơi nào mà có kết hợp quá lớn, như Ba Tư chẳng hạn, hay quá thô thiển, như nơi các người man khai, hoặc chẳng có kết hợp nào hết - khi tan rã xảy ra và người ta thấy mình phải tự trông cậy vào mình - thì sẽ gây ra suy thoái, tình trạng bất thường. Chuẩn mực là tình trạng cân bằng của các sức mạnh và các đặc trưng chứa đựng trong thành bang. Điều xấu xa tệ hại nhất và có tính bào mòn nhiều nhất - bất công - là gây rối loạn trạng thái cân bằng ấy. Những thể chế tốt đẹp nhất là thể chế giữ cho sự vật ở trạng thái cân bằng, bảo tồn khuôn mẫu và tạo nên khuôn khổ trong đó con người có thể thể hiện mình về mặt xã hội - nên xà vậy mà cũng thể hiện mình về mặt đạo đức và trí tuệ. Các tính cách con người được xác định theo kiểu xã hội mà thiên nhiên đã tạo ra con người vì mục đích ấy. Có con người dân chủ, con người đầu sỏ chính trị, con người tài phiệt: là những viên gạch được xác định theo kiểu tòa nhà mà con người thích hợp với nó một cách tự nhiên. Đó là lí tưởng Hi Lạp về cuộc sống vẫn được ca tụng trong cách diễn tả rõ ràng nhất.

Không có đối lập nào chăng? Thế còn về cô Antigone321 thách thức luật pháp nhà nước để mai táng cho anh trai cô thì sao? Cô thách thức luật pháp của Creon, nhưng không nhân danh một niềm tin cá nhân nào đó hay nhân danh các giá trị nào đó của cuộc sống riêng tư: viện dẫn luật pháp bất thành văn, chứ không phải luật pháp của ngày hôm nay hay hôm qua, viện dẫn luật pháp mà toàn nhân loại phải phục tùng, luật pháp có giá trị đối với bất kì xã hội nhân tính nào, nhưng không có giá trị đối với các cá nhân không có mối liên hệ xã hội. Đây là viện dẫn một nền đạo đức xã hội này kháng lại một nền đạo đức xã hội khác, chứ không phài viện dẫn một nền đạo đức cá nhân kháng lại một nền đạo đức xã hội.

Thế còn các nhà ngụy biện (Sophists)? Ở đây chúng ta tiếp cận với một vấn đề quan trọng, nhưng không may là không thể giải đáp. Vì rằng chúng ta không biết nhiều về những gì các nhà ngụy biện đã nói. Có thể là họ đa không viết được những cuốn sách có tầm cỡ nào; hay có thể là những cuốn sách ấy đã mất đi - vì chúng ta ít nhất cũng biết vài tên sách qua các người đối lập là Socrates và Plato, các sách ấy đã không còn nữa. Tuy nhiên, uy tín đối với chúng ta về những gì mà Protagoras, Prodicus, Hippias, Thrasymachus322 đã tin vào, ấy là những gì mà Plato và Aristotle nói cho chúng ta biết. Chúng ta biết về những nhân vật khác cũng chẳng nhiều hơn mấy chút, như về Antiphon323 chẳng hạn. Nhưng phần lớn những gì ta biết [về họ] lấy từ nguồn gốc ở những kẻ thù [của họ], những bức tranh biếm họa mà người vẽ là người căm ghét họ nhiều như là Aristophanes324 - ngoại trừ Aristophanes cũng đưa cả Socrates vào nữa - và khắc họa chân dung trào lộng các bậc thiên tài. Những sự kiện chân thực về những nhân vật mà họ mô tả vĩnh viễn bị xóa sạch. Tôi dự định sau đây sẽ còn quay trở lại điểm này vì nó gắn nhiều với toàn bộ luận cứ của tôi. Nhưng tạm thời lúc này tôi chỉ nói rằng những nhà ngụy biện, giống như các nhà hùng biện và các nhà viết kịch, cho thấy bằng chứng của những bất đồng sâu sắc về chuyện nhà nước theo kiểu gì là nhà nước tốt nhất, nhưng không phải về chuyện đối lập với vị thế tối thượng của các định chế xã hội.

Lycophron325 đã cho rằng phân chia giai cấp là giả tạo, không phải là tác phẩm của tự nhiên mà của ý chí hay định kiến của con người. Alcidamas326 (và ở mức độ nào đó Euripides) đã cho rằng định chế nô lệ là giả tạo vì tự nhiên hàm ý mọi người đều giống nhau, và việc phân biệt giữa người Hi Lạp và người man khai cũng là [giả tạo] như vậy. Antiphon đã nói: “Chẳng một ai trong chúng ta theo định nghĩa là người man khai hay người Hi Lạp, bởi vì tất cả chúng ta đều thở ra không khí bằng miệng và bằng mũi”327. Là người man khai hay người Hi Lạp là xếp đặt của con người, chắc hẳn con người có thể xóa bỏ xếp đặt ấy theo ý muốn. Archelaus328 đã cho rằng những phân biệt giữa đúng đắn và gian dối là kết quả xếp đặt của con người chứ không phải của tự nhiên; Phaleas đã cho rằng phẩm tính cũng như vậy. Critias đã cho rằng Thượng Đế là được tạo ra nhằm giữ mọi người trong trật tự, vì rằng mọi người được cho biết là có con mắt luôn theo dõi họ ngay cả khi không ai nhìn thấy họ, con mắt ấy ghi nhận hành vi của họ và chuẩn bị trừng phạt họ vì các tội lỗi, mọi người hẳn sẽ cư xử tồi tệ khi họ cho rằng không có ai nhòm ngó và xã hội hẳn sẽ sụp đổ.

Các nhà ngụy biện là những người theo chủ nghĩa tương đối, những người đòi cào bằng, những người thực dụng, những người vô thần, thế nhưng ít nhất cho đến cuối thế kỉ thứ 5 phần đông họ không phải là những người theo chủ nghĩa cá nhân. Họ muốn biến đổi xã hội, họ không chú trọng đến cá nhân và tính cách cá nhân cũng như các nhu cầu cá nhân. Họ khác biệt về chuyện xã hội kiểu nào thì hợp lí nhất. Họ chỉ muốn xóa bỏ các tàn tích của truyền thống. Họ phê phán các định chế vì các định chế ấy không tốt, nhưng không phê phán bản thân cuộc sống theo các định chế. Một số có vẻ sẽ thành các nhà dân chủ, một số khác thì không. Một trong những nghịch lí to lớn của lịch sử là nền dân chủ, vốn là niềm vinh quang chính trị vĩ đại nhất của Athens, lại có quá ít người bảo vệ, đến nỗi hầu như mỗi nhà trước tác còn lưu danh đến nay đều là kẻ thù hay người phê phán nền dân chủ ấy ở mức độ nhất định. Lí tưởng là isonomia, bình đẳng trước pháp luật - “cái tên gọi đẹp nhất trong mọi cái tên”, như là Herodotus đã khiến cho Otanes thốt lên điều đó329 - hoặc là eunomia, trật tự tốt, một khẩu hiệu bảo thủ. Bình đẳng được bảo vệ chống lại bạo chúa hay việc cai trị tùy tiện. Aristotle cho rằng một nhà nước tốt là nhà nước mà người cai trị về phần mình cũng bị cai trị330, trong khi đó thì Antiphon khuyển nho lại thắc mắc không biết liệu có ai lại không ưa thích thà [tự mình] cai tri một cách sai trái còn hơn là được những người khác cai trị mình một cách đúng đắn.

Không có dấu vết nào ở đây của chủ nghĩa cá nhân đích thực, là cái học thuyết cho rằng có những giá trị cá nhân - niềm vui, hay hiểu biết, hay tình bạn, hay đức hạnh, hay tự thể hiện mình trong nghệ thuật hay trong cuộc sống - và các xếp đặt chính trị và xã hội phải được xem là thứ yếu, bởi chính vì những giá trị ấy mà các xếp đặt tạo ra một bệ đỡ, một phương tiện dù không thể thay thế được đi nữa, nhưng vẫn chỉ là phương tiện. Ngược lại, [ở đây] gia đình là mọi giá trị ấy chỉ có thể được thực hiện trong khuôn khổ và như một bộ phận cuộc sống của cái polis Hi Lạp. Bỏ qua các xếp đặt xã hội, sử dụng chúng để được lợi, đó không phải là trạng thái tinh thần chuẩn mực. Ngay cả Thrasymachus, người cho rằng công bằng là lợi ích của kẻ mạnh hơn, cũng không thể hình dung được cuộc sống ở ngoài sự kết hợp thân thiết của các ông chủ và các nô lệ. Callicles trong tác phẩm Gorgias của Plato phát biểu biện hộ cho một kẻ có tài, gan dạ, nhưng vô lương tâm, chỉ [sống] vì bản thân mình, kẻ đã quét đi những định chế của thành bang như quét mạng nhện, giẫm đạp lên chúng và làm theo ý thích của mình - tức là, có thể là đúng: tự nhiên đòi hỏi chuyên chế chứ không phải chủ nghĩa cá nhân. Lactantius331 đã đúng khi cho rằng Socrates không thắng được luận cứ chống lại Thrasymachus và đồng bọn. Ý kiến chung mà Socrates sắp xếp chống lại hắn không đủ để chống lại chủ nghĩa cá nhân đầy bạo lực thuộc loại này. Nhưng rõ ràng Plato cho rằng Socrates đã bác lại được lời khẳng định của bọn hoang tưởng vị ngã ấy, với quan điểm đã bị bóp méo của chúng đối với các sự kiện mà kết cuộc hẳn chúng sẽ phải trả giá đắt.

Về điểm này người ta có thể hỏi liệu tôi có bỏ quên một thuyết giảng vĩ đại nhất trong tắt cả những thuyết giảng về niềm tin chính trị, điếu văn của Pericles332 như Thucydides tường thuật lại, lời khẳng định vĩ đại nhất không có gì so sánh được thuộc thể loại này trong suốt toàn bộ lịch sử của chúng ta. Pericles nói là chắc chắn Athens khác biệt với Sparta trong việc “chúng ta sống như những công dân tự do, cả trong đời sống công cộng của chúng ta và cả trong thái độ của chúng ta đối với nhau trong các sự việc hằng ngày; chúng ta không giận dữ với hàng xóm của chúng ta, nếu người hàng xóm ấy cư xử theo ý thích của anh ta, chúng ta không lườm nguýt khó chịu với anh ta, cái lườm nguýt dù không gây tổn hại nhưng vẫn có thể gây đau đớn”.333 Có một nhận xét tương tự, được biểu hiện ít cao quý hơn, trong diễn văn của Nikias trước binh lính Athens đang chán nản bị thất trận ở Sicily năm 416 tCN334. Euripides cũng nói về tự do ngôn luận335, và Demosthenes đã nói: “Ở Sparta các anh không được phép ca ngợi luật pháp của Athens, hoặc của nhà nước này hay nhà nước kia; hơn thế nữa, các anh phải ca ngợi những gì phù hợp với hiến pháp của họ”336; trong khi đó ở Athens việc tự do phê phán các hiến chế hiển nhiên là được cho phép.

Những chuyện này dẫn tới điều gì? Pericles nói rằng một số nhà nước có tự do nhiều hơn số khác: [thực ra] không phải như quá nhiều lần ông đã được diễn giải rằng ở Athens các cá nhân có những quyền, do tự nhiên hay nhà nước ban cho, được nói như họ muốn hay được làm như họ muốn trong một khuôn khổ giới hạn nào đó mà nhà nước không có quyền can thiệp vào. Đó là quan điểm do Gomme đưa ra, nhưng có vẻ như ông ta đã sai lầm. Chắc chắn là cá nhân đã có “quyền tự do dồi dào trong cuộc sống riêng tư”337, chắc chắn là đã có những phản đối từ phía những người bảo thủ, như là thái độ không tán thành của Aristotle để cho mọi người “sống theo ý thích của mình” - giống như Euripides nói: “Mỗi người tùy theo khẩu vị của mình”338 - hay cảm giác kinh tởm của Plato đối vói thành bang có nhiều tính đa dạng, quá nhiều người nước ngoài, những người phụ nữ và nô lệ tỏ ra tự cao tự đại, cư xử gần như họ là các công dân. Hiến pháp của Athens theo kiểu giả bộ như Xenophon339 đưa ra lời chỉ trích kịch liệt chống lại cư dân gốc nước ngoài và những người nô lệ. Isocrates340 than phiền rằng việc kiểm soát đạo đức đối với cuộc sống riêng tư còn chưa đủ, rằng Areopagus341 lẽ ra phải tái khẳng định quyền uy cổ đại của nó trong những chuyện này. Tất cả những điều đó hàm ý rằng cuộc sống ở Athens quả thực được tự do hơn, rằng ở đây có nhiều tính đa dạng hơn, có thể là nhiều lộn xộn hơn là ở Sparta toàn trị hay là những nhà nước tổ chức chặt chẽ hơn, nhiều tính quân phiệt hơn. Nhưng những gì Pericles nói thực ra là những gì mà bất cứ thầy giáo nào tự hào về tinh thần trường học của mình hay bất cứ vị chỉ huy nào tự hào về tinh thần quân đội của mình, đều có thể cũng nói: Chúng tôi không cần đến ép buộc. Điều mà các nhà nước khác phải ép buộc các công dân của họ làm, thì những công dân của chúng tôi thực hiện điều đó là vì họ thực sự tận tụy với thành bang của họ, là vì họ trung thành một cách tự phát, là vì cuộc sống của họ gắn liền với thành bang của họ, nơi mà tất cả bọn họ đều có niềm tin và lòng tự hào.

Đây là một lời kêu gọi mà từ đó còn xa mới tới được việc khẳng định quyền của cá nhân. Những cậu học sinh, dù được cai trị nhẹ nhàng đến đâu đi nữa, cũng không có quyền gì chống lại các ông thầy. Nhà trường có thể lấy làm tự hào vì sự việc là họ không cần phải đe dọa hay bắt nạt, trừng phạt hay hăm dọa, nhưng đó là tinh thần tập thể của nhà trường, tình đoàn kết của các thành viên nhà trường, đó là cái được ca ngợi: nhà nước Athens là đối tượng cho việc sùng bái chính mình và mọi người đứng trước bàn thờ của nó, nếu ta phải tin vào Pericles, đều sẵn sàng hi sinh thân mình. Thế nhưng tự do hi sinh thân mình thì vẫn là hi sinh thân mình, dâng nộp tự nguyện thì vẫn là dâng nộp; và tật xấu cùng sai sót vẫn còn được xác định dưới dạng mỗi người đi theo hướng của riêng mình, thỏa mãn bản chất cá nhân của riêng mình. Thucydides giống như Pericles và không giống Cleon342. Demosthenes tin vào tự do chính trị, tự do thoát khỏi sự cai trị của các nhà nước khác - ví dụ như Macedon - và Pericles cũng vậy, cũng như tất cả những người Athens vĩ đại. Một số tin vào kết cấu lỏng lẻo, một số tin vào kết cấu chặt chẽ, nhưng ở đây không có chú ý nào tới chủ nghĩa cá nhân, tới giá trị của nhà nước trong việc đóng góp cho các thỏa mãn cá nhân của các thành viên. Họ phải sẵn sàng dâng mạng sống của họ cho nhà nước; nhà nước không có nghĩa vụ mà chỉ có các đòi hỏi; họ không có đòi hỏi đối với nhà nước mà chỉ có nghĩa vụ. Thế nhưng trong một nhà nước có tổ chức, hài hòa, Pericles cố miêu tả Athens là như vậy, các đòi hỏi không phải thúc ép; chúng được thỏa mãn một cách tự nhiên, và không có cái nhìn giận dữ với người hàng xóm vì anh ta khác biệt với mình. Tính đa dạng chống lại sự đồng nhất, tự nhiên chống lại ép buộc, lòng trung thành chống lại bạo ngược, tình yêu thay cho sợ hãi: đó là những lí tưởng của Pericles. Dù những lí tưởng ấy có hấp dẫn đến đâu chúng vẫn không đồng nhất cả với chủ nghĩa cá nhân lẫn với ý kiến về quyền của cá nhân chống lại xâm phạm của nhà nước (một giai đoạn muộn hơn trong phát triển của nhân loại) - đòi quyền bất khả xâm phạm cho một khu vực mà ở bên trong khu vực đó anh ta theo nghĩa đen có thể làm theo ý thích của mình, dù cho hành vi của anh ta có điên rồ, kì quặc, khác thường đến đâu.

Điều ấy là chứng cứ thử thách các tác giả chủ chốt. Có một số tiếng nói bất đồng ý kiến; họ là số ít và cũng khác nhau nhiều, tôi sẽ có dịp nhắc đến họ ở phần sau. Aristotle có thể là một người bảo thủ cổ hủ vào cuối đời mình, nhưng đây chính là quan niệm của ông về bản thể của xã hội - một toàn thể xã hội hài hòa, theo đuổi những mục tiêu được khắc sâu vào xã hội bởi bản thể của xã hội, mỗi phần tử phải là phụ thuộc, cho nên đạo đức học và chính trị mang tính xã hội và giáo dục về toàn cục, như được giải thích trong các chuyên luận của ông, nói về mối quan hệ giữa các mục đích tự nhiên của các thành phần xã hội khác nhau là gì, và làm sao để khiến cho chúng thực hiện được các chức năng của mình, các chức năng mang tính tự nhiên của chúng, một cách thật hiệu quả và thật phong phú nhuưcó thể - chính cái nhìn như thế kể từ thời của ông đã tạo ra sức quyến rũ tác động lên thế giới cổ đại, thời trung đại và khá nhiều xã hội hiện đại.

Có một phát triển đáng kinh ngạc nhất ở điểm này. Aristotle mất năm 322 tCN. Khoảng sáu mươi năm sau Epicurus343 bắt đầu dạy học ở Athens, và sau ông ta là Zeno344, một người Phoenic đến từ Kition trên đảo Cyprus. Trong vòng vài năm trường học của họ là những trường học triết học nổi bật tại Athens. Cứ tựa như nền triết học chính trị đột nhiên biến mất. Chẳng nói gì về thành bang, về việc giáo dục các công dân để họ thực hiện các nhiệm vụ của mình trong phạm vi thành bang, về các hiến chế xấu và tốt - hoàn toàn chẳng nói gì về chuyện đó cả.345 Chẳng nói gì về sự cần thiết của các thứ bậc và những mối nguy của chúng; chẳng nói gì về giá trị của những cộng đồng nhỏ bé có tổ chức, về cuộc sống xã hội hướng ngoại vui vẻ như chỉ dấu và tiêu chí của bản thể con người; chẳng nói gì về việc huấn luyện chuyên gia thế nào cho những người đang cầm quyền, hoặc về việc tổ chức cuộc sống sao cho những tài năng không tương đương được đãi ngộ thích đáng, với giải thích rằng các hiến chế khác nhau nhấn mạnh khác nhau vào những loại khác nhau của tài năng và tính cách. Đạo đức cá nhân thôi không còn được suy diễn ra từ đạo đức xã hội, đạo đức thôi không còn là một nhánh của chính trị, cái toàn thể thôi không còn ưu tiên trước các bộ phận, ý kiến về cảm giác thỏa mãn phải nhất thiết mang tính xã hội và công cộng, đã biến mất không còn dấu vết. Trong vòng hai chục năm hay ít hơn thế chúng ta thấy thay thế cho thứ bậc là bình đẳng; thay thế cho việc nhấn mạnh đến đề cao các chuyên gia là học thuyết về việc bất cứ người nào cũng có thể khám phá ra chân lí cho riêng mình và sống cuộc sống tốt đẹp giống như mọi người khác, ít nhất cũng về nguyên tắc; thay thế cho việc nhấn mạnh đến tài năng trí tuệ, khả năng, thành thạo thì bây giờ người ta nhấn mạnh đến ý chí, các phẩm chất đạo đức, tính cách; thay thế cho lòng trung thành kết nối những nhóm nhỏ lại với nhau, những nhóm người được uốn nắn bởi truyền thống và kí ức, tình trạng khớp nối hữu cơ của tất cả mọi bộ phận và chức năng của chúng, thì ở đây là một thế giới không có các biên giới quốc gia hay thành bang; thay thế cho cuộc sống hướng ngoại là cuộc sống hướng nội; thay thế cho các cam kết chính trị được xem như là của tất cả các nhà tư tưởng thời đại trước đây, là những thuyết giáo khuyến cáo một thái độ thờ ơ hoàn toàn. Thay thế cho việc theo đuổi cái hùng tráng, vinh quang, danh tiếng muôn đời, tính cao thượng, tinh thần vì việc chung, tự thể hiện trong hành động xã hội hài hòa, các lí tưởng phong nhã, bây giờ chúng ta lại có ý kiến về tự đầy đủ cá nhân, ca ngợi khắc khổ, một nhấn mạnh đầy khe khắt đến nghĩa vụ, trên tất cả mọi thứ là nhấn mạnh thường xuyên rằng giá trị cao nhất trong mọi giá trị là bình an trong linh hồn, cứu rỗi cá nhân, không phải đạt được bằng hiểu biết theo kiểu tích góp, không phải bằng gia tăng từng bước thông tin khoa học (như Aristotle đã dạy), cũng không phải bằng cách sử dụng phán xét hợp lí trong các công việc thực tiễn, mà bằng ngộ đạo đột ngột - một lóe sáng nội tâm. Con người phân chia thành người ngộ đạo và người không ngộ đạo. Không có loại người trung gian - con người hoặc là được cứu rỗi hoặc là không, dẫu họ khôn ngoan hay ngu đần cũng vậy. Một người hoặc là biết cách cứu rỗi linh hồn hoặc là không biết. Người ta có thể bị chết đuối dễ dàng trong nước cạn hay trong nước sâu, những người theo chủ nghĩa khắc kỉ (Stoics) nói thế. Người ta hoặc là ở trong Canopus346 hoặc là ở ngoài nó: ở ngoài xa một tấc hay xa nhiều dặm thì cũng đều là không ở trong Canopus - tất cả hoặc là không gì hết. Chuyện này cũng tương tự chủ nghĩa thanh giáo ngộ đạo đột ngột thời đại nữ hoàng Elizabeth.

Đối với vị thầy cao tuổi hơn trong hai vị thầy, Epicurus, thì nhà nước hầu như không tồn tại. Vấn đề là làm sao để tránh bị tổn thương, làm sao thoát khỏi khổ đau. Hiện thực - tự nhiên - được chi phối bởi các định luật sắt đá mà con người không thể thay đổi được. Anh không thể phá hủy hay né tránh được tự nhiên, nhưng anh có thể tránh va chạm với tự nhiên một cách không cần thiết. Điều gì làm cho con người bất hạnh? Sợ hãi các thần linh, thành kiến, sợ chết, sợ đau đớn - từ đó mà có mọi nghi lễ chi tiết, cố làm nguôi giận, tuân phục các sức mạnh địa ngục, tức là cái được gọi là tôn giáo. Thế nhưng nếu như các thần linh, ngay cả khi họ tồn tại đi nữa, chẳng quan tâm gì đến con người, mà sống sung sướng trong thế giới riêng xa xăm của họ, chẳng thiết gì đến các công việc trên trái đất thì sao? Nếu mất đi nỗi sợ hãi các thần linh thì gánh nặng sẽ nhẹ đi nhiều. Còn đối với nỗi đau đớn thì một ứng xử khôn khéo thành thạo cũng làm nó biến mất, cả cho tôi và cả cho các hàng xóm của tôi. Nếu nỗi đau đớn mạnh quá không chịu nổi thì nó cũng chẳng kéo dài và cái chết sẽ giải thoát cho tôi; nếu nó kéo dài thì nó không thể quá mạnh, và bằng cách sống thận trọng, theo hướng dẫn của tự nhiên, người ta có thể tránh được đau đớn và bệnh tật. Cuộc sống còn lại cái gì? Hạnh phúc, bình an, hài hòa nội tâm. Làm thế nào để có được những cái đó? Không phải bằng cách tìm kiếm giàu sang, quyền lực, danh tiếng, vì điều này sẽ phơi bày con người của anh cho cuộc tranh đua với tất cả những nhọc nhằn vất vả nơi đấu trường. Cuộc sống công cộng đem lại nhiều đau đớn hơn niềm vui sướng; phần thưởng của nó không đáng có, vì chúng chỉ nhân lên những mối lo lắng cho anh. Hãy tránh xa các tình huống khiến anh có khả năng bị đau đớn. Mọi người đều dễ bị tổn thương. Anh cần làm co lại cái bề mặt dễ bị tổn thương, [cái bề mặt] khiến anh có thể bị thương tích bởi những người khác hay bởi các sự vật và các sự kiện. Điều này phải được thực hiện bằng cách né tránh mọi hình thức cam kết. Epicurus thuyết giảng say sưa tựa như một người muốn dập hết những xúc cảm mãnh liệt vốn là nguồn gốc của đau khổ và rắc rối, chống lại cái mà nay ta gọi là thái độ say mê chính trị. Lathe biosas347: hãy cố gắng sống sao cho không ai nhận thấy mình. Tìm cách tránh để người ta nhận thấy mình và anh sẽ không bị tổn thương. Những phần thưởng mà cuộc sống công cộng tạo cơ hội chỉ là ảo tưởng đầy đau đớn. Hãy giống một diễn viên348. Hãy đóng vai được dành cho anh, nhưng đừng đồng nhất hóa với vai diễn. Trên hết là không nhiệt tình, đừng quá hăng say349. Hãy đóng thuế, tham gia bầu cử, tuân thủ trật tự, nhưng hãy rút lui vào nội tâm của mình. “Con người về bản chất không thích nghi với việc sống trong cộng đồng thành bang”350. “Hãy đối đầu với mỗi khát khao bằng câu hỏi: Tôi được gì nếu chiều theo nó, và tôi sẽ mất gì nếu dập nó đi?”351

Con người có nên công chính không? Có nên, vì nếu anh gian lận - phá luật lệ - anh có thể bị phát hiện, và những người khác, do họ không điềm tĩnh khôn ngoan như anh, có thể sẽ trừng phạt anh hay ít nhất cũng căm ghét anh; và nếu anh bị ám ảnh bởi nỗi sợ hãi bị phát giác, điều này sẽ phá hủy niềm vui của anh. Không có giá trị nào trong tính công chính như bản thân nó; công chính chỉ là phương tiện để tránh phải cọ xát quá nhiều với những người khác, để thoát khỏi họ. Lí do là vì nó ích lợi: mọi xã hội đều đặt trên một khế ước xã hội, nhờ đó mà tạo ra các sắp xếp khiến cho người ta có thể không cản đường nhau quá nhiều.

Còn tri thức thì sao? Cái đó có đáng mong muốn không? Chắc chắn rồi, xà chỉ bằng cách đó anh mới biết nên làm gì và nên tránh điều gì, nếu anh muốn đạt được bình an và thỏa mãn. “Lời nói của triết gia là hão huyền, chẳng chữa lành được con người đang đau khổ”352. Đây cũng có thể là phương châm của Quỹ Rockefeller ngày nay. Tri thức không có mục đích tự thân; chẳng có gì là một mục đích tự thân ngoại trừ hạnh phúc cá nhân, và điều này có thể đạt được bằng những điều thiện đáng tin cậy - tình yêu bạn bè là nguồn gốc xác thực của niềm vui, những vui sướng của cuộc sống riêng tư.

Có nên tìm kiếm giàu có hay không? Không nên tìm kiếm bản thân sự giàu có vì nó dẫn đến những nỗi sợ hãi, những xung đột, nhưng nếu nó tự đến với anh thì chối bỏ nó sẽ là không hợp lí. Con người khôn ngoan phải biết kiếm đủ ăn đủ mặc, nhưng nếu sang trọng tự nó đến thì tại sao lại không chấp nhận cả nó nữa? Cuộc sống công cộng là cạm bẫy và ảo tưởng, và anh chỉ nên tham gia vào đó vì cần thiết - để tránh khỏi đau đớn - hoặc nếu như tình cờ anh có khí chất hiếu-động, hay nếu anh thích thú nó: tức là nếu như nó là một loại ma túy dành cho anh mà các thứ khác không đem lại được. Anh không thể có được tất cả mọi thứ anh muốn: muốn mà không đạt được là thành nô lệ cho ham muốn, là bị quãng ném bởi các thế lực mạnh mẽ hơn bản thân anh. Vì anh không thể đạt được cái anh muốn, thì cần phải cố gắng chỉ mong muốn cái gì anh có thể đạt được - anh không thể biến cải vũ trụ, nhưng anh có thể biến cải các trạng thái tâm lí của bản thân anh, trong những giới hạn nhất định. Hãy cố gắng đừng mong muốn điều gì đó có thể dễ dàng bị mất đi. “Chỉ có một con đường đến tự do: coi khinh những gì ở ngoài quyền lực của chúng ta.”353 Cái gì anh không thể đạt được thì không đáng phải nỗ lực.

Có hai cách để được hạnh phúc - thỏa mãn các ham muốn và diệt trừ chúng. Cách thứ nhất đạt được chỉ ở tầm cỡ nhỏ bé, bởi vì chúng ta không biết hết mọi việc mà cũng chẳng phải cái gì cũng làm được, các sự việc là các sự việc như chúng vốn là thế và chẳng thể thay đổi gì nhiều; cách thứ hai là cách duy nhất để có bình an và độc lập. Tính độc lập là mọi thứ: hai từ ngữ vĩ đại của Epicurus là autarkeia và ataraxia - tự đầy đủ và bình thản. Thế còn đời sống xã hội? Còn vinh quang của thành bang? Còn những mối hiểm nguy to lớn mà những con người can đảm phải đối mặt? Còn Alexander đội mũ sắt có lông ngù đuổi theo bọn nô lệ của Nhà vua Ba Tư? Đó không phải là những con đường dẫn đến hạnh phúc bền lâu. Chúng chỉ kích thích các ham muốn khiến cho anh cứ phải lao vào tìm kiếm nhiều nữa và thêm nhiều hơn nữa, và chúng biến anh thành nô lệ ngày càng tuyệt vọng nhiều hơn trước những tham vọng bao la không thể thực hiện nổi, rồi chúng phơi bày anh ra cho những hi vọng và nỗi sợ hãi chẳng để anh được nghỉ ngơi. Thành tựu lớn nhất của con người là tự dạy dỗ mình để không còn lo lắng phiền muộn. Ấy là bài học phải rút ra từ cuộc đời của Socrates, chứ không phải là những sắp đặt xã hội hay giá trị của toán học như con đường đi đến chân lí siêu hình. Anh không phải cứ được sống mãi và anh cũng có thể tự sắp xếp cho mình một cách tiện ích như có thể ở một xó riêng của anh trong thế giới. Nếu anh không cản trở những người khác, hoặc ghen tị hay căm ghét họ, hoặc tìm cách thay đổi cuộc sống của họ trái với ý muốn của họ, hoặc cố theo đuổi quyền lực, [như vậy] thì anh sẽ xoay xở được.

Việc kết hợp niềm tin trong chủ nghĩa duy lí như thế giải phóng con người khỏi tình trạng cuồng tín và nỗi lo âu, niềm tin ấy vào chủ nghĩa công lợi và các mối liên hệ cá nhân như điều thiện tối thượng trong cuộc sống, là thứ học thuyết quen thuộc mỗi khi những căng thẳng của cuộc sống trở nên quá lớn đối với những cá nhân lỗi lạc và nhạy cảm. Đó là hình thức rút lui vào chiều sâu, rút lui vào thành trì nội tâm của tâm hồn cá nhân bất khả xâm phạm, được che chở bởi lòng dũng cảm chịu đựng và bởi lí trí, sao cho không gì có thể làm xáo trộn nó, hoặc làm tổn thương nó, hoặc làm nó bị mất cân bằng. Godwin354 đã tin vào một thứ gì đó thuộc loại này và đã truyền nó cho Shelley355 mà trong chủ nghĩa Plato của ông này nó đóng một vai trò nhất định. Trong thời buổi hiện nay của chúng ta khá nhiều trí thức người Anh và có lẽ một số người Pháp và người Mĩ trước và sau năm 1914 - người theo chủ nghĩa duy lí, chống thói thư lại, người theo đuổi hòa bình, người coi khinh việc theo đuổi danh vọng hay tiền tài - người trên hết tin vào các mối liên hệ cá nhân và hưởng thụ mĩ học, tình bạn, tạo ra và thụ hưởng cái đẹp, theo đuổi chân lí không-tô-vẽ như cái duy nhất đáng giá với con người. Virginia Woolf356, Roger Fiy357, triết gia G.E. Moore358, trong những năm đầu đời của mình Maynard Keynes359 đã tin vào thứ gì đó thuộc loại này. Khi E.M. Forster360 trước cuộc chiến tranh vừa qua tuyên bố ngắn gọn, “nếu tôi buộc phải lựa chọn giữa phản bội đất nước tôi và phản bội bạn tôi, tôi hi vọng mình sẽ có đủ cam đảm để phản bội đất nước tôi”361, đó là một biểu hiện tín điều mang tính chiến đấu của Epicurus - những niềm tin hoàn toàn ngược lại với các niềm tin Hi Lạp trước đó. “Nghiên cứu các quy luật của tự nhiên tạo ra con người có tinh thần độc lập đầy ngạo nghễ [sobroi và autarkeis] tự hào vì những đức thiện phù hợp với con người [idioi agathoi], chứ không phù hợp với các tình huống.”362 Cuộc sống công cộng là một bộ phận của các tình huống, chứ không phải cuộc sống của cá nhân. Nhà nước là một phương tiện chứ không phải mục đích. Tất cả là ở cứu rỗi cá nhân. Học thuyết là thứ để giải phóng thông qua tình trạng tự đầy đủ. Đây quả thật là một hoán chuyển giá trị.

Tất nhiên những người theo chủ nghĩa khắc kỉ có nhiều ảnh hưởng hơn là những người theo Epicurus. Zeno, người đã tự khẳng định mình ở Athens vào cuối thế kỉ thứ 4, vốn là người ngoại quốc, một người Phoenic đến từ Cyprus, giảng dạy minh triết bao gồm tự do nội tâm, là thứ chỉ có thể đạt được bằng cách diệt trừ xúc cảm sinh ra từ thể tạng của con người. Thế giới là một khuôn mẫu và trật tự duy lí, và bởi vì con người về bản chất là một tạo vật duy lí nên việc thấu hiểu trật tự ấy tức là thừa nhận vẻ đẹp và tính tất yếu của nó - những định luật được khấc họa trong những chữ viết bất tử vào lí trí bất tử của chúng ta.363 Chỉ khi nào anh giải thoát bản thân khỏi những ảnh hưởng tàn phá anh - những lầm lạc về thế giới do ngu xuẩn và vô minh gây ra, hoặc do điều kiện xấu xa và đồi bại gây ra - khi đó anh mới trở thành người không thể bị tổn thương đối với những thứ xấu xa và bất hạnh do những người khác tạo ra. Thấu hiểu thực sự thế giới là hiểu được rằng mọi thứ trong thế giới đều là tất yếu cả, và cái mà anh gọi là điều ác là một yếu tố không thể thiếu được trong hài hòa rộng lớn hơn. Đạt được thấu hiểu ấy là thôi không còn cảm nhận thấy những ham muốn thông thường, những nỗi sợ hãi, những hi vọng của loài người, và hiến dâng bản thân mình cho một cuộc sống hòa hợp với lí trí hay với tự nhiên - đối với Zeno đó là cùng một thứ, vì tự nhiên là hiện thân các định luật của lí trí hoàn vũ. Nhà thông thái khắc kỉ nhận xét rằng lí trí điều hành thế giới. Nếu nỗi đau là bộ phận của bản thiết kế thì nó phải được đón nhận; ý chí của anh phải điều chỉnh theo nó. Khi Posidonius364, người theo chủ nghĩa khắc kỉ, bị trọng bệnh hành hạ, ông đã thốt lên: “Xin người cứ làm cho đau đớn tệ hại, dù người có làm gì đi nữa, người cũng không khiến tôi căm thù người đâu.”365

Nguồn: Tất định luận và tự do lựa chọn (Liberty, Nhà xuất bản Oxford University Press, 2002) của Isaiah Berlin, do dịch giả Nguyễn Văn Trọng dịch một cách đầy đủ và mạch lạc

Dịch giả:
Nguyễn Văn Trọng