Tất định luận và tự do lựa chọn - Chương 7: Sự ra đời của chủ nghĩa cá nhân Hi Lạp (Phần 2+ Phần 3)
Những thời điểm vĩ đại là những thời điểm khi một thế giới thiêu vong và một thế giới khác kế tiếp nó. Điều này đánh dấu bởi một thay đổi trong mô thức chủ yếu. Những thời điểm vĩ đại của biến đổi xảy ra, ví dụ như khi các định luật chu kì của người Hi Lạp được kế tục bởi đường tuyến tính đi lên, cứu cánh luận lịch sử, của người Do Thái và các tín đồ Kitô giáo, hay khi cứu cánh luận đến lượt nó lại bị đánh đổ bởi mô thức toán học nhân quả của thế kỉ 17; hay là khi những cấu trúc tiền giả định nhường chỗ cho các phương pháp khám phá thường nghiệm và kiểm chứng. Có những người giống như Condorcet hay Hegel, Buckle hay Marx, Spengler306 hay Toynbee307 tự cho là có khả năng cảm nhận được khuôn mẫu duy nhất quá trình phát triển kế tục nhau của bức tranh nhân loại. Tôi không muốn xác nhận rằng những nỗ lực đầy tham vọng như thế nhằm quy giản một đa dạng rộng lớn của trải nghiệm ý thức con người, đưa về một khuôn mẫu khổng lồ vượt trội, nhất thiết phải bị thất bại; tôi tự giới hạn mình trong việc đơn thuần nói rằng ba cuộc khủng hoảng lớn mà tôi sẽ thảo luận không giải thích được một cách thỏa đáng bằng các giả thuyết của bất cứ ai trong các nhà tư tưởng ấy, và điều này làm giảm giá trị của những giả thuyết ấy trong mắt tôi một cách tự nhiên. Tôi không muốn chỉ trích những người giải đáp các câu hỏi của riêng họ vì họ thất bại trong giải đáp các câu hỏi của tôi, nhưng tôi không sao có được định kiến thuận lợi đối với các tác giả khiêm nhường và thận trọng nhiều hơn, mà những suy tư của họ cố thử xử lí ít vấn đề hơn, dẫu cho có phải vì lí do đó hay không mà đạt được kết quả nhiều hơn. Tolstoy có lần đã nhận xét rằng lịch sử giống như một người điếc, cứ trả lời những câu hỏi không một ai hỏi cả. Tôi không cho rằng đó là những trước tác gia lịch sử chân chính, nhưng điều này không phải hoàn toàn bất công đối với khá nhiều các triết gia lịch sử, những người nhân danh khoa học mà tìm cách nhào nặn tình trạng đa dạng của các hiện tượng thành một sơ đồ vũ trụ đơn giản - “những kẻ đơn giản hóa khủng khiếp” cả trong các vấn đề lí thuyết lẫn thực hành mà Montesquieu đã cảnh báo chúng ta từ hơn hai thế kỉ trước chống lại họ.308
Ba cuộc khủng hoảng trong lí thuyết chính trị phương Tây, khi mà ít nhất một phạm trù chủ yếu bị biến đổi không sao cứu vớt được nữa, khiến cho mọi tư tưởng hệ lụy bị thay đổi, đã xảy ra ở thế kỉ thứ 4 tCN, trong thời kì Phục hưng ở Italia và vào cuối thế kỉ 18 ở Đức.
Lí thuyết chính trị cổ điển phương Tây có thể được liên tưởng với một giá đỡ ba chân - tức là dựa trên ba giả định chủ yếu. Lẽ dĩ nhiên chúng không đại diện cho toàn bộ các niềm tin mà truyền thống chủ yếu dựa vào, nhưng chúng nằm trong số những trụ cột hùng mạnh nhất, khiến cho tình trạng sụp đổ hay suy yếu của bất cứ trụ cột nào trong chúng cũng phải tác động lên truyền thống, và quả thực đã biến đổi truyền thống ở mức độ đáng kể.
1. Giả định đầu tiên là: các câu hỏi về giá trị, về mục đích tối hậu hay giá trị, về tính đúng đắn hay tính đáng mong đợi của hành động con người, bao gồm hành động chính trị, là những câu hỏi đích thực; những câu hỏi đích thực là những câu hỏi mà lời giải đáp đích thực hiện hữu, dù nó có được nhận thức hay không. Những lời giải đáp ấy là khách quan, phổ quát, có giá trị vĩnh viễn và có thể nhận thức được về nguyên tắc. Mỗi câu hỏi đích thực chỉ có một lời giải đáp khả dĩ đúng, mọi lời giải đáp khác nhất thiết là sai - hoặc là sai ở các mức độ khác nhau, ở những khoảng cách khác nhau so với chân lí, hoặc là sai tuyệt đối phù hợp với học thuyết về logic được chấp nhận. Con đường đi đến chân lí trong lịch sử đã là chủ đề gây bất đồng sâu sắc nhất giữa con người. Một số người đã tin rằng các lời giải đáp phải được khám phá bằng lí lẽ, một số khác bằng tin tưởng hay bằng mạc khải, hay bằng quan sát thường nghiệm, hay bằng trực giác siêu hình. Một số cho rằng chân lí mở ngỏ cho mọi người ít nhất cũng về nguyên tác nếu họ theo đuổi phương pháp đúng đắn - bằng cách đọc các sách thiêng, hay bằng giao tiếp vói thiên nhiên, hay bằng tính toán duy lí, hay bằng cách nhìn vào bên trong trái tim mình; một số khác đã cho rằng chỉ có những nhà chuyên môn có thể khám phá ra lời giải, hay những nhân vật có đầu óc đặc biệt, hay ở những thời điểm nhất định, hay tại những nơi chốn nhất định. Một số cho rằng các chân lí ấy có thể được khám phá trong thế giới này; đối với số khác chúng chỉ có thể được khám phá đầy đủ trong cuộc sống tương lai nào đó. Một số giả định rằng những chân lí ấy đã được nhận biết ở thời hoàng kim trong quá khứ xa xôi, hay sẽ được nhận biết trong thời kì hoàng kim ở tương lai; theo một số người thì các chân lí ấy không có tính thời gian, theo một số khác thì chúng được khám phá bằng cách tiến bộ; theo một số người, về nguyên tắc, chúng có thể được con người nhận biết, theo số khác thì chỉ có Thượng Đế nhận biết được chúng mà thôi.
Dù cho những khác biệt ấy có sâu sắc đến đâu và đôi khi là nguồn gốc của xung đột bạo lực, không phải chỉ về trí tuệ mà còn mang tính chính trị và xã hội nữa, thì chúng vẫn là những khác biệt bên trong một niềm tin rằng những câu hỏi là những câu hỏi đích thực, và những lời giải đáp cho chúng, giống như kho báu bị che giấu, là hiện hữu, dù cho những lời giải đáp ấy có được tìm thấy hay không; cho nên vấn đề không phải là những lời giải đáp có hiện hữu hay không, mà chỉ là phương tiện nào tốt nhất để tìm thấy chúng. Các giá trị có thể khác biệt với các sự kiện hay khác với các chân lí tất yếu theo cách thức mà Aristotle hay các giáo phụ của Giáo hội, hay Hume hay Kant hay Mill đã cho là chúng khác nhau; nhưng những đề xuất khẩng định hay mô tả chúng cũng không kém phần khách quan, và chúng tuân theo một cấu trúc logic không kém phần mạch lạc và nghiêm ngạt, so với những đề xuất khẳng định các sự kiện - dù là sự kiện thường nghiệm hay tiền giả định hay theo logic - và các chân lí toán học. Đây là giả định đầu tiên và sâu sắc nhất làm nền tảng cho hình thức cổ điển của lí thuyết chính trị.
2. Giả định thứ hai là: những lời giải đáp, nếu là chân lí, cho những câu hỏi nêu ra trong lí thuyết chính trị, không được xung đột nhau. Điều này suy ra từ quy tắc logic đơn giản là một chân lí không thể nào lại bất tương hợp với một chân lí khác. Nhiều câu hỏi giá trị buộc phải nêu ra trong quá trình tìm hiểu chính trị: những câu hỏi như “Công bằng là gì và có nên theo đuổi nó không?”, “Liệu quyền tự do có phải là mục đích [tối hậu] cần phải truy tầm vì chính bản thân nó hay không?”, “Các quyền là gì, và trong những tình huống nào chúng có thể bị bỏ qua, và ngược lại, [trong những tình huống nào chúng có thể] được khẳng định chống lại những đòi hỏi của tính hữu ích hay tính an toàn hay chân lí hay hạnh phúc?” Những lời giải đáp cho những câu hỏi ấy, nếu là chân lí, không thể xung đột với nhau; theo những quan điểm khác chúng tạo thành một toàn thể duy nhất liên quan vóỉ nhau, đòi hỏi lẫn nhau và cái này kế thừa cái kia, khiến cho phủ nhận bất cứ cái nào trong chúng cũng dẫn đến tình trạng không đồng bộ hay mâu thuẫn bên trong hệ thống. Bất cứ quan điểm nào trong những quan điểm ấy mà đúng, thì giả định tối thiểu cũng là một chân lí này không thể nào mâu thuẫn với một chân lí khác về mặt logic. Từ đó suy ra rằng, nếu mọi vấn đề của chúng ta được giải đáp thì bộ sưu tập hay khuôn mẫu hay một hệ thống kết nối logic với nhau của các lời giải đáp chân lí ắt sẽ cấu thành một lời giải đáp tổng thể của mọi câu hỏi về giá trị - của những câu hỏi phải làm gì, phải sống thế nào, phải tin vào cái gì. Nói ngắn gọn, đây hẳn là mô tả trạng thái lí tưởng mà tất cả các điều kiện nhân bản hiện có vẫn còn chưa đạt tới.
Đây có thể gọi là quan điểm trông như nhảy múa-đánh đố (jigsaw-puzzle) về đạo đức học, về chính trị và về mĩ học. Vì mọi lời giải đáp chân lí đều khớp được với nhau, vấn đề chỉ còn là sắp xếp các mảnh vỡ mà chúng ta trải nghiệm được hằng ngày, hay vào những thời khắc bừng sáng hay sau một khảo cứu trí tuệ đầy nỗ lực nhưng thành công - sắp xếp những mảnh vỡ ấy theo một cách thức duy nhất, trong đó chúng hợp thành một khuôn mẫu tổng thể, tức là lời giải đáp cho mọi nhu cầu và mọi rắc rối của chúng ta.
Lại một lần nữa xuất hiện vấn đề liệu có phải bất kì người nào cũng có thể làm được điều này, hay chỉ một số người nào đó - các nhà chuyên môn hay những người có đặc huệ tinh thần hay những người tình cờ ở vào đúng chỗ để hoàn tất lời giải cho câu đố. Liệu lời giải đáp được chiếu cố cho bất kì người nào sử dụng phương pháp đúng, hay chỉ cho một nhóm đặc biệt ở một vị thế thuận lợi đặc thù - một giáo hội đặc biệt hay một nền văn hóa hay một giai cấp? Lời giải đáp là bất biến, dù nó có được khám phá khi nào hay ở đâu đi nữa, hay là nó linh động - tức là một khi nó được khám phá bởi một người tìm kiếm chân lí tiến bộ và hoàn thiện, người đã rất nỗ lực tìm ra nó, thì sau đó dù nó không phải là lời giải đáp chung cuộc trong hình thức mà ông ta ban cho nó, liệu nó có tạo điều kiện dễ dàng cho quá trình biến đổi cần thiết bằng việc tiếp tục tìm kiếm lời giải đáp chung cuộc hay không? Giả định ở đây là có một lời giải đáp chung cuộc, là nếu như mọi lời giải đáp cho mọi câu hỏi có thể được tìm thấy, dù đó là việc bất khả (per impossibile), và liên hệ với nhau một cách đúng đắn, thì đó là lời giải đáp tổng thể - việc tất yếu chấp nhận nó bởi người đã tìm ra nó ắt là giải đáp được mọi câu hỏi, cả trên lí thuyết lẫn trong thực tiễn, một lần cho mãi mãi. Dù cho lời giải đáp ấy có khả dĩ khám phá được trên trái đất hay không, thì tất cả các cố gắng giải đáp những câu hỏi như thế có thể được miêu tả như có nhiều con đường đi đến tính tổng thể chủ yếu này, thỏa đáng hay không thỏa đáng phụ thuộc tỉ lệ thuận vào tính mạch lạc nội tại và tính bao quát của những lời giải đáp được đề nghị.
3. Giả định thứ ba là: con người có một bản chất có thể khám phá được và có thể mô tả được, và bản chất ấy mang tính xã hội một cách tự nhiên, chứ không chỉ đơn thuần mang tính ngẫu nhiên. Có những thuộc tính nhất định thuộc về con người như là con người, ví dụ như khả năng tư duy hay liên lạc; vì một tạo vật không tư duy hay không liên lạc thì không thể gọi là con người được. Theo định nghĩa liên lạc là mối quan hệ với những người khác, thì mối quan hệ với những con người khác theo một kiểu có tính hệ thống, không chỉ là một sự kiện ngẫu nhiên về con người, mà còn là bộ phận của cái mà chúng ta hàm nghĩa con người như một giống loài. Nếu là thế, thì lí thuyết chính trị, là thứ lí thuyết về việc con người có hành vi ra sao hay phải có hành vi ra sao đối với nhau, và đặc biệt là về việc tại sao một người nào đó lại phải tuân theo một người nào đó khác, thay vì làm theo ý thích của mình (chuyện này đặt ra mọi câu hỏi về quyền uy và chủ quyền, về các loại chính thể và cơ sở của nghĩa vụ - những vấn đề ấy tất yếu được đặt ra bất cứ khi nào mà các câu hỏi về bản chất và mục đích của con người được nêu ra) - lí thuyết chính trị không phải là một học thuyết hay một kĩ thuật đặc biệt mà con người có thể sử dụng hay không sử dụng, giống như lí thuyết hàng hải (suy cho cùng thì con người không nhất thiết phải dùng tàu biển nếu họ không muốn), nhưng giống nhiều hơn với các lí thuyết về tư duy (những thứ không trợ giúp cho làm công việc), hay các lí thuyết về phát triển hay lịch sử, hay các lí thuyết về các thuộc tính không thể chuyển nhượng được của loài người. Vì thế những phân ngành truyền thống của triết học đề cập đến các đặc trưng bền vững không thể di dời của đời sống con người: logic, siêu hình học, nhận thức luận, đạo đức học, chính trị, mĩ học.
Mỗi trụ cột như thế mà lí thuyết chính trị dựa trên đó, đều đã bị tấn công, về mặt lịch sử chúng bị tấn công nhằm gia tăng tầm quan trọng, trong trật tự ngược lại với trật tự mà tôi đã trình bày chúng. Quan điểm về con người như một thực thể mang tính xã hội nội tại, và quan điểm về lí thuyết chính trị như lí thuyết bao gồm các câu hỏi xuyên thấu vào tâm điểm của bản chất con người là gì, đã bị tấn công vào cuối thế kỉ thứ 4. Đề xuất cho rằng mọi giá trị đều tương hợp với nhau, và rằng về nguyên tắc có một lời giải tổng thể cho các vấn đề con người, chỉ cần giả sử nếu chúng ta có thể khám phá ra lời giải ấy - cùng lắm ắt phải có một phương pháp tìm kiếm nó - đã bị Machiavelli309 tra vấn, tra vấn hiệu quả đến nỗi sự tin chắc đã từng kéo dài suốt hơn hai ngàn năm không bao giờ còn trở lại nữa. Đề xuất cho rằng về nguyên tắc có thể không có lời giải chung cuộc cho các vấn đề con người, và rằng một số giá tộ nào đó có thể không tương hợp được với các giá trị khác, đòi hỏi phải có những xem xét mà không mấy người có khả năng vừa đối diện với chúng lại đồng thời không cảm thấy bị xóa trộn thêm. Cuối cùng thì đòi hỏi rằng các câu hỏi về giá trị là những câu hỏi đích thực và có khả năng giải đáp được, ít nhất cũng về nguyên tắc, và rằng chính trị là một nhánh của nhu cầu trí tuệ, có khả năng đem lại những đề xuất khả dĩ là đúng hay sai, được thỏa hiệp bởi những người theo chủ nghĩa lãng mạn Đức vào cuối thế kỉ 18 với kết quả thuộc loại rất bạo lực, cách mạng. Những hệ quả [hiện nay] vẫn còn theo chúng ta; chúng đã phá hủy những cơ sở của những niềm tín xưa cũ, và chúng đánh dấu những biến động bạo lực chính trị và đạo đức thời nay của chúng ta, dù với tính chất là nguyên nhân hay biểu hiện.
Tôi sẽ thảo luận ba cuộc khủng hoảng vĩ đại ấy từng cuộc một310. Tôi bắt đầu với cuộc khủng hoảng thứ nhất - câu hỏi về vấn đề con người là một thực thể xã hội.
Nguồn: Tất định luận và tự do lựa chọn (Liberty, Nhà xuất bản Oxford University Press, 2002) của Isaiah Berlin, do dịch giả Nguyễn Văn Trọng dịch một cách đầy đủ và mạch lạc
