Tất định luận và tự do lựa chọn - Chương 5: Từ hi vọng và sợ hãi dẫn đến tự do
Phải chăng tri thức luôn luôn giải phóng? Quan điểm của các triết gia Hi Lạp cổ đại, được chia sẻ bởi nhiều nhà thần học Kitô giáo, nhưng không phải tất cả, là quả có như vậy. “Và các ngươi sẽ biết được chân lí, và chân lí sẽ khiến cho các ngươi được tự do”281. Những nhà Khắc kỉ và đa số các nhà duy lí hiện đại đều thống nhất với lời giảng dạy Kitô giáo về chuyện này. Theo quan điểm đó thì tự do là sự thực hiện bản chất đích thực của tôi mà không bị ngăn trở - không bị ngăn trở bởi các trở ngại dù là ngoại tại hay nội tại. Trong trường hợp trích đoạn mà tôi dẫn ra, tự do được đề cập đến (tôi theo diễn giải của Festugiere về điểm này) là tự do thoát khỏi tội lỗi, tức là thoát khỏi những niềm tin trá ngụy về Thượng Đế, về tự nhiên và về bản thân mình, vốn cản trở sự hiểu biết của tôi. Tự do là tự do tự-thể hiện hay là tự-định hướng - sự thể hiện, bởi hoạt động của bản thân cá nhân về những mục đích đích thực nơi bản chất của anh ta (dù những mục đích ấy hay những bản chất ấy có bị phủ nhận thế nào đi nữa), tự do ấy bị thất bại do những ý niệm sai lạc về thế giới và vị trí của con người ở trong đó. Nếu tôi bổ sung vào những điều này một hệ luận nói rằng tôi là một hữu thể có lí tính - tức là tôi có thể hiểu được hay biết được (hay ít nhất cũng hình thành được một niềm tin đúng đắn về chuyện) tại sao tôi lại làm cái điều tôi làm, tức là phân biệt được giữa hành động (vốn đòi hỏi phải có lựa chọn, hình thành ý định, theo đuổi mục tiêu) và hành vi đơn thuần (tức là bị tác động bởi những nguyên nhân gây ra mà tôi không biết hoặc có vẻ như không do tác động bởi những mong muốn hay thái độ của tôi) - khi đó sẽ suy ra rằng tri thức về những sự kiện có liên quan - về thế giới ngoại tại, về những người khác và về bản chất của chính bản thân tôi - sẽ xóa bỏ được những trở ngại cho cách xử sự của tôi vốn do sự ngu dốt và ảo tưởng.
Các triết gia (và các nhà thần học, các nhà viết kịch, các thi sĩ) đã phân biệt rõ ràng về tính cách của bản chất con người và những cứu cánh của bản chất ấy; sự kiểm soát loại gì và ở mức độ nào đối với thế giới ngoại tại là cần thiết để đạt được sự thực hiện bản chất ấy và những cứu cánh của nó, một cách đầy đủ hay một phần; liệu cái bản chất chung ấy hay những cứu cánh khách quan đó có tồn tại hay không; và cái ranh giới phân chia thế giới ngoại tại của vật chất cùng các tạo vật không có lí tính, với những tác nhân tích cực chủ động, phải được tìm thấy ở đâu. Một số nhà tư tưởng cho rằng sự thực hiện như thế từng là khả dĩ trên trái đất (hoặc đã từng xảy ra hay một ngày nào đó ắt sẽ xảy ra), nhà tư tưởng khác phủ nhận điều này. Một số người nhất trí rằng những cứu cánh của con người mang tính khách quan và có thể được khám phá bằng những phương pháp điều tra đặc biệt, nhưng lại bất đồng với nhau về chuyện những phương pháp ấy là gì: là thường nghiệm hay tiên nghiệm; trực giác hay tản mạn; khoa học hay suy tưởng thuần túy; công cộng hay riêng tư; giới hạn ở một số người điều tra có tài năng đặc biệt và may mắn, hay về nguyên tắc là mở ngỏ cho bất kì ai. Một so khác tin rằng những cứu cánh như thế mang tính chủ quan, hay được xác định bởi những yếu tố thể xác, hay tâm lí, hay xã hội, vốn là những thứ khác nhau rất nhiều. Lại một lần nữa, ví dụ như Aristotle, đã cho rằng nếu những điều kiện ngoại tại là quá không thuận lợi - nếu con người đau khổ vì chịu những nỗi bất hạnh như của [vua] Priam - thì điều này khiến cho sự tự-thể hiện, sự thực hiện thích đáng bản chất của người ấy là bất khả dĩ. Mặt khác, những người Khắc kỉ và những người theo Epicurus lại giữ quan điểm cho rằng con người có thể đạt được sự tự-kiểm soát duy lí một cách toàn vẹn dù hoàn cảnh ngoại tại của anh ta có thế nào đi nữa, vì tất cả những gì anh ta cần, chỉ là có đủ một mức độ tách mình ra khỏi xã hội loài người và thế giới ngoại tại; họ bổ sung một niềm tin đầy lạc quan cho rằng mức độ đủ cho sự tự-thể hiện về nguyên tắc là khả dĩ đạt được cho bất kì ai có ý thức hướng tới độc lập và tự trị, tức là thoát khỏi việc làm đồ chơi cho những sức mạnh ngoại tại mà anh ta không thể kiểm soát.
Trong những giả định là chung cho tất cả những quan điểm ấy, có những điểm sau:
(i) các sự vật và con người đều sở hữu những bản chất - những cấu trúc xác định, độc lập với việc chúng có được nhận biết hay không;
(ii) những bản chất hay những cấu trúc ấy được chi phối bởi những định luật phổ quát và không thể biến cải được;
(iii) những cấu trúc và những định luật ấy, ít nhất cũng về nguyên tắc, là có thể nhận biết; và tri thức về chúng sẽ tự động giữ cho người ta khỏi bị va vấp trong bóng tối và phung phí nỗ lực cho những đường lối nhất định thất bại, trong điều kiện đã cho của bản chất các sự vật và con người cũng như các định luật chi phối chúng.
Theo học thuyết này người ta trở thành không tự-định hướng và do đó không tự do, một khi hành vi của người ta bị gây ra bởi những cảm xúc sai lệch - ví dụ như sợ hãi những thực thể không hề tồn tại, hay căm thù do thiếu tri giác duy lí về tình trạng chân thực của sự việc, và do những ảo giác, những điều tưởng tượng, là kết quả của những trí nhớ vô thức và những vết thương bị lãng quên. Theo quan điểm này thì những duy lí hóa và những ý thức hệ đều là những giải thích trá ngụy về hành vi mà cội rễ đích thực của nó chưa được biết hay bị bỏ qua hay bị hiểu sai; những giải thích trá ngụy ấy về phần chúng lại tiếp tục sinh ra những ảo giác, những điều tưởng tượng và những hình thức của hành vi phi lí tính và đam mê. Cho nên, tự do đích thực bao gồm sự tự-định hướng: một con người là tự do ở mức độ mà sự giải thích đích thực về hoạt động của anh ta nằm trong những ý định và những động cơ mà anh ta có ý thức về chúng, chứ không phải ở trong điều kiện tâm lí hay sinh lí bị che đậy vốn cũng có thể tạo ra cùng một hiệu quả, tức là cùng một hành vi (tự cho là sự lựa chọn), dù tác nhân có toan tính đưa ra sự giải thích hay biện minh gì đi nữa. Một con người duy lí là tự do, nếu hành vi của anh ta không có tính cơ giới, và nảy sinh từ những động cơ và được dự tính nhằm thực hiện những mục đích mà anh ta nhận rõ, hay có thể nhận rõ bất cứ lúc nào; cho nên sẽ là đúng sự thật nếu nói rằng những ý định và mục đích ấy là điều kiện cần, nếu chưa phải là đủ, cho hành vi của anh ta. Một con người không được tự do thì giống như một kẻ bị đánh thuốc mê hay bị thôi miên: dù anh ta có thể tự đưa ra những giải thích gì đi nữa cho hành vi của mình thì hành vi ấy vẫn không bị biến cải bởi bất cứ thay đổi nào trong những động cơ và cách xử sự trên danh nghĩa, công khai của anh ta; chúng ta xem anh ta là bị nắm chặt bởi những sức mạnh mà anh ta không kiểm soát được, anh ta không được tự do, một khi rõ ràng là hành vi của anh ta có thể đoán trước được sẽ vẫn như thế, dù anh ta có đưa ra lời giải thích gì cho nó.
Diễn đạt mọi chuyện theo cách thức như vậy tức là đồng nhất tính duy lí và tự do, hay chí ít cũng là đi con đường dài để đến chỗ đó. Tư duy duy lí là tư duy về nội dung, hay ít nhất cũng là những kết luận của tư duy tuân theo các quy tắc và nguyên lí, chứ không đơn thuần là những mẩu tin tức trong một tiến trình nhân quả hay ngẫu nhiên; hành vi duy lí là thứ hành vi có thể được giải thích (ít nhất cũng về nguyên tắc) bởi người hành động hay người quan sát dưới dạng thức các động cơ, ý định, lựa chọn, lí lẽ, quy tắc và không phải chỉ duy nhất về các định luật tự nhiên - nhân quả hay thống kê, hay “hữu cơ” hay những định luật khác nữa thuộc cùng một loại logic (dù cho những lời giải thích dưóỉ dạng thức những động cơ, những lí lẽ và những thứ tương tự, cũng như những lời giải thích dưới dạng thức các nguyên nhân, các xác suất v.v. vốn khác nhau “về mặt phạm trù” và về nguyên tắc không thể xung đột hay thật ra liên quan lẫn nhau, [dù chuyện này] tất nhiên là một vấn đề cốt yếu; nhưng tôi không muốn nêu ra ở đây). Gọi một người là kẻ cắp thì trong chừng mực ấy (pro tanto) là gán cho anh ta tính duy lí: gọi anh ta là người mắc chứng xung động ăn cắp là phủ nhận tính duy lí của anh ta. Nếu những mức độ tự do của một người trực tiếp phụ thuộc vào (hay đồng nhất với) tầm tri thức của anh ta về những gốc rễ hành vi của anh ta, khi đó một người mắc chứng xung động ăn cắp mà tự biết mình là như thế, thì ở trong phạm vi tầm cỡ ấy anh ta là tự do; anh ta có thể không làm sao ngừng ăn cắp hay thậm chí còn cố làm chuyện này nữa; thế nhưng sự thừa nhận của anh ta về chuyện này - người ta cho là thế - bởi vì bây giờ anh ta ở trong vị thế lựa chọn liệu có nên cố kháng cự sự ép buộc đó (ngay cả nếu như anh ta chắc chắn thất bại) hay là buông xuôi, [sự thừa nhận ấy] hoàn trả lại cho anh ta không chỉ tính duy lí nhiều hơn (vốn có vẻ như không thể tranh cãi), mà còn được tự do hơn.
Thế nhưng điều này có phải luôn như vậy không? Phải chăng sự nhận ra được tính khí hay đặc trưng nhân quả về phần của tôi là đồng nhất với - hay phải chăng điều này nhất thiết cung cấp được cho tôi - quyền lực vận dụng hay biến cải nó? Tất nhiên ở đây có một ý nghĩa rõ ràng, nhưng sáo mòn, theo đó mọi tri thức đều gia tăng tự do về phương diện nào đó: nếu tôi biết rằng tôi có khả năng bị lên cơn động kinh, hay cảm nhận được ý thức giai cấp, hay tác động hấp dẫn của một loại âm nhạc nào đó, thì tôi có thể - trong một ý nghĩa nào đó của từ “có thể” - hoạch định cuộc đời tôi cho phù hợp; trong khi đó nếu tôi không biết điều này thì tôi không thể làm như vậy; tôi thu được sự gia tăng nào đó về quyền lực và ở trong tầm cỡ đó là gia tăng tự do. Tuy nhiên, tri thức ấy cũng có thể giảm đi quyền lực của tôi về phương diện nào đó khác: nếu tôi dự liệu trước về cơn động kinh hay sự ập tới của một xúc cảm đau đớn, hay thậm chí [xúc cảm] dễ chịu nào đó, tôi có thể bị cấm đoán một thực hành quyền lực tự do nào đó khác, hay bị ngăn ngừa một trải nghiệm nào đó khác - tôi có thể không sao tiếp tục sáng tác thơ, hay hiểu được văn bản tiếng Hi Lạp mà tôi đang đọc, hay suy nghĩ về triết học, hay đứng dậy khỏi cái ghế của tôi: nói cách khác, tôi có thể phải trả giá cho sự gia tăng quyền lực và tự do ở một khu vực bằng sự mất mát chúng ở khu vực khác (Tôi sẽ quay trở lại điểm này ở phần sau, trong một ngữ cảnh hơi khác một chút)282. Cũng không nhất thiết tôi được hoàn trả lại khả năng kiểm soát cơn động kinh hay ý thức giai cấp hay thói nghiện nghe âm nhạc Ấn Độ bằng cách thừa nhận mức độ tác động của chúng. Nếu như tri thức có nghĩa như những gì mà các tác giả kinh điển hàm ý - tri thức về các sự kiện (không phải tri thức “làm cái gì”, vốn có thể là một cách thức ngụy trang để phát biểu không phải điều gì đó về hiện trạng, mà là một cam kết đối với những cứu cánh hay giá trị nhất định, hay biểu lộ, chứ không phải mô tả, một quyết định hành động theo một cung cách nhất định); nói cách khác, nếu tôi tự cho là có được một loại tri thức về bản thân tôi khiến tôi có thể có tri thức về những người khác, thì ngay cả khi những tài liệu gốc của tôi có thể sẽ tốt hơn hay độ xác định của tôi sẽ lớn hơn, tôi vẫn thấy hình như tri thức về bản thân như thế có thể bổ sung hay không bổ sung vào tổng số tự do toàn thể của tôi. Vấn đề mang tính thường nghiệm: và lời giải đáp phụ thuộc vào hoàn cảnh đặc thù. Từ sự kiện nói rằng mọi thu nhận được về tri thức đều giải phóng tôi về phương diện nào đó, không suy ra rằng vì lí do ấy thì nhất thiết nó sẽ bổ sung vào tổng số tự do mà tôi được hưởng: bằng cách một tay bị lấy đi nhiều hơn là tay nhận được thêm, thì có thể nó sẽ bị giảm đi. Nhưng còn một phê phán căn bản hơn đối với quan điểm này cần được xem xét. Nói rằng một người là tự do chỉ khi nào anh ta hiểu được bản thân mình (ngay cả khi đó chưa phải là điều kiện đủ của tự do) tức là tiền giả định rằng chúng ta có một bản ngã để được hiểu - rằng có một cấu trúc được mô tả đúng đắn như một bản chất con người, vốn hiện hữu như nó hiện hữu, tuân theo những định luật mà nó tuân theo, và là một đối tượng cho nghiên cứu tự nhiên. Bản thân chuyện này đã bị tra vấn, đặc biệt là bởi một số triết gia hiện sinh. Những triết gia này xác nhận rằng vấn đề chủ yếu là chuyện lựa chọn của con người, cốt yếu hơn nhiều so với điều mà thông thường người ta vẫn tưởng là thế một cách tự mãn. Vì lựa chọn đòi hỏi trách nhiệm, và một số người ở đa số các thời đại cũng như đa số con người ở một số thời đại, đều mong muốn được thoát khỏi gánh nặng ấy, cho nên có một khuynh hướng tìm kiếm lí do xin lỗi và lí do ngoại phạm. Vì lí do này người ta có khuynh hướng quy quá nhiều cho sự vận hành không thể tránh khỏi của những định luật tự nhiên và xã hội - ví dụ như cho sự vận hành của tâm trí vô thức, hay của những phản xạ tâm lí không thể biến cải, hay của những định luật của tiến hóa xã hội. Những nhà phê phán thuộc trường phái này (chịu ơn nhiều cả Hegel và Marx cũng như Kierkegaard) nói rằng một số trở ngại nổi bật nhất cho tự do - chẳng hạn như những áp lực xã hội mà J.S. Mill vạch ra thật nhiều - là những sức mạnh khách quan mà sự tồn tại và những tác động của chúng lại độc lập với các mong muốn và hoạt động của con người, hoặc chỉ có thể biến cải cải được bằng những biện pháp không mở ngỏ cho các cá nhân cô lập - băng các cuộc cách mạng hay các cuộc cải cách cấp tiến, là những thứ không thể được sắp đặt bởi ý chí cá nhân. Những gì được xác nhận lại là điều ngược lại: ấy là tôi không nhất thiết phải bị bắt nạt bởi những người khác hay bị áp lực phải uốn mình thích nghi theo bởi các thầy giáo hay bạn bè hay cha mẹ; không khi nào nhất thiết phải bị tác động theo cách thức nào đó mà tôi không sao tránh được bởi những gì mà các giáo sĩ hay các đồng nghiệp hay những người chỉ trích hay các nhóm hay giai cấp xã hội cho là thế hay làm như thế. Nếu tôi bị tác động như thế, đó là vì tôi lựa chọn điều này. Khi tôi bị nhạo báng là thằng gù, một tên Do Thái, một tên da đen, hay bị căng thẳng thần kinh bởi cảm giác tôi bị nghi ngờ là kẻ phản bội, tôi bị sỉ nhục chỉ trong trường hợp tôi lựa chọn chấp nhận ý kiến - sự đánh giá - về thằng gù hay chủng tộc hay sự phản bội của những người mà những quan điểm và thái độ của họ thống trị tôi. Thế nhưng tôi luôn có thể lựa chọn bỏ qua hay kháng cự lại điều này - phẩy tay với những quan điểm và tập quán và cách nhìn như thế; và khi đó tôi được tự do.
Đây chính là học thuyết, dù được xây dựng dựa trên những tiền đề khác nhau, của những người tạo nên chân dung nhà hiền triết Khắc kỉ. Nếu tôi lựa chọn chịu đầu hàng cảm nhận của công chúng hay những giá trị của nhóm người này hay nhóm người kia, thì trách nhiệm là của tôi chứ không phải của những sức mạnh bên ngoài - những sức mạnh con người hay [sức mạnh] khách quan mà tôi quy hành vi của tôi cho ảnh hưởng của chúng - ảnh hưởng bị cho là bất khả kháng, chỉ có điều quá háo hức quy cho nó nhằm trốn chạy khỏi sự chê trách hay tự-chê trách. Theo những người phê phán này thì hành vi của tôi, tính cách của tôi, nhân cách của tôi không phải là một thực chất huyền bí hay được ám chỉ thuộc về một khuôn mẫu của những kiến nghị giả thuyết tổng quát (mang tính nhân quả), mà là một khuôn mẫu của những lựa chọn hay của những thất bại trong lựa chọn, mà bản thân những thất bại ấy được miêu tả như một kiểu lựa chọn cứ để cho các sự kiện tự nó diễn ra, không khẳng định bản thân tôi như một tác nhân tích cực. Nếu tôi có tính tự phê phán và đối diện với những sự kiện, tôi có thể thấy được rằng tôi thoái thác những trách nhiệm của mình quá dễ dàng.
Điều này áp dụng cho cả trong những vương quốc của lí thuyết và cả vương quốc của công việc thực hành. Vậy nếu tôi là một nhà sử học, quan điểm của tôi về các sự kiện trọng đại trong lịch sử có thể bị tác động thật sâu sắc bởi khao khát của tôi muốn vinh danh hay gièm pha uy tín của các cá nhân hay các giai cấp - một hành động vẫn được tranh cãi xem có phải là một sự đánh giá tự do từ phía tôi hay không. Một khi nhận biết điều này, tôi có thể chọn lọc và phán xét theo ý tôi: “những sự kiện” không bao giờ tự nói lên - chỉ có tôi, người lựa chọn, người đánh giá, vị quan tòa, là có thể làm điều này, và làm tùy theo ý thích của tôi, phù hợp với những nguyên tắc, quy phạm, lí tưởng, định kiến, cảm xúc mà tôi có thể tự do xem xét, khảo sát, chấp nhận, bác bỏ. Nếu tôi giảm đến mức tối thiểu cái giá con người phải trả cho một chính sách chính trị hay kinh tế đã cho, ở trong quá khứ hay hiện tại hay tương lai, thì nhờ vào khảo sát tôi ắt thường thấy được rằng tôi làm vậy bởi tôi không tán thành hay bực tức với những người chỉ trích hay những người đối lập với những người tiến hành chính sách ấy. Nếu tôi tìm kiếm việc giải thích gạt bỏ đi, dù giải thích cho những người khác hay cho bản thân tôi, một hành vi không xứng đáng từ phía tôi, dựa trên cơ sở là một thứ gì đó - tình thế chính trị hay quân sự, hay cảm xúc của tôi hay trạng thái nội tâm của tôi - “quá mức chịu đựng cho tôi”, khi đó tôi đang lừa dối bản thân mình, hay những người khác, hay cả hai. Hành động là sự lựa chọn; lựa chọn là sự cam kết tự do đối với một cách thức thế này hay thế kia trong hành xử, trong cuộc sống và v.v.; những khả năng [lựa chọn] không bao giờ là ít hơn hai: làm hay không làm, tồn tại hay không tồn tại. Cho nên, quy việc hành xử cho các định luật không thể biến cải được của tự nhiên tức là miêu tả sai lệch hiện thực: điều này không đúng với trải nghiệm, là thứ trá ngụy có thể kiểm chứng được; và cứ phạm tội xuyên tạc như thế - như phần đông các triết gia và những người bình thường đã làm và vẫn còn đang làm - ấy là lẩn tránh trách nhiệm lựa chọn hay thất bại trong việc lựa chọn, ấy là lựa chọn phủ nhận rằng phó thác cho sự trôi dạt của dòng chảy của ý kiến được chấp nhận và ứng xử theo kiểu bán-cơ giới chính là một kiểu lựa chọn – một hành động tự do đầu hàng; chính là như vậy bởi vì bao giờ cũng có khả năng, mặc dù đôi khi thật đau đớn, tự hỏi mình xem thực ra cái mình đang tin vào, mong muốn, đánh giá cao, đó là cái gì vậy, còn cái mình đang làm, đang sống vì nó, đó là cái gì vậy; sau khi đã trả lời theo khả năng của mình, thì cứ tiếp tục hành động theo một cung cách đã có hay là thay đổi hành vi.
Nguồn: Tất định luận và tự do lựa chọn (Liberty, Nhà xuất bản Oxford University Press, 2002) của Isaiah Berlin, do dịch giả Nguyễn Văn Trọng dịch một cách đầy đủ và mạch lạc
