Tất định luận và tự do lựa chọn - Chương 4: John Stuart Mill và những cứu cánh của cuộc sống (Phần 4)

Tất định luận và tự do lựa chọn - Chương 4: John Stuart Mill và những cứu cánh của cuộc sống (Phần 4)

Lí tưởng của Mill không phải là độc đáo. Đó là một mưu đồ tổng hợp chủ nghĩa duy lí và chủ nghĩa lãng mạn: mục đích của Goethe và Wilhelm Humboldt; một tính cách tự định hướng phong phú, tự phát, đa diện, vô úy, tự do mà vẫn duy lí. Mill nhận xét rằng những người châu Âu chịu ơn nhiều với “tính đa dạng của những nẻo đường”256. Từ những khác biệt và bất đồng toàn diện đã nảy sinh thái độ khoan dung, tính đa dạng và nhân bản. Trong một cơn bùng nổ đột ngột của cảm giác chống cào bằng, ông ca ngợi thời Trung cổ bởi người thời đó có tính cá nhân hơn và chịu trách nhiệm nhiều hơn: người ta đã chết vì lí tưởng, và phụ nữ bình đẳng với đàn ông. Ông dẫn ra Michelet với sự tán đồng: “Thời Trung cổ tội nghiệp, chế độ Giáo hoàng của nó, phong cách hiệp sĩ của nó, tính phong kiến của nó, nó bị diệt vong giả”257. Đây là ngôn ngữ không phải của một người cấp tiến về triết học, mà là của Burke, hay Carlyle, hay Chesterton258. Trong xúc cảm mãnh liệt đối với phong cách và kết cấu của cuộc sống, Mill đã quên mất danh sách những người tuẫn đạo của ông, ông đã quên mất những lời dạy của cha ông, của Bentham, hay Condorcet. Ông chỉ nhớ Coleridge, chỉ nhớ đến những nỗi kinh hoàng của xã hội trung lưu đang cào bằng - giáo đoàn màu xám uốn mình theo thời, thờ phụng cái nguyên lí xấu xa: “nào là quyền xã hội tuyệt đối của mỗi cá nhân, nào là mỗi cá nhân khác phải hành động đúng theo bổn phận về mọi phương diện”259, hay còn tệ hơn nữa là “cho rằng nghĩa vụ của một người là làm cho người khác phải theo tôn giáo” vì “Thượng Đế không những căm ghét hành vi của kẻ ngoại đạo, mà còn không cho chúng ta là vô tội nếu chúng ta để cho kẻ đó được yên ổn260. Đó là những khẩu hiệu lỗi thời của nước Anh thời Victoria, và nếu như đấy là ý niệm về công bằng xã hội thì thà chết đi còn hơn. Trong một thời điểm tương tự sớm hơn, do phẫn nộ gay gắt với những lời bào chữa tự cho là phải về việc bóc lột người nghèo, Mill đã bày tỏ niềm phấn khởi về cách mạng và sự tàn sát, bởi vì công lí còn quý giá hơn mạng sống261. Ông đã 25 tuổi khi viết những lời này. Một phần tư thế kỉ sau đó ông tuyên bố rằng một nền văn minh mà không có được sức mạnh nội tại để kháng cự lại sự dã man, thì tốt hơn là nó nên chịu thua đi 262 Điều này có thể không phải là tiếng nói của Kant, nhưng nó không phải là tiếng nói của chủ nghĩa Công lợi; đúng hơn phải là của Rousseau và Mazzini.

Nhưng Mill ít khi tiếp tục trong giọng điệu ấy. Lời giải của ông không phải là cách mạng. Nếu như phải làm cho đời sống con người
dưới những cánh tay nào? Dưới cánh tay của những tên chưởng lí, phá sản lừa đảo, làm bạc có thể khoan dung được, thì thông tin phải được tập trung và quyền lực phải phân tán. Nếu mỗi người đều biết được nhiều như có thể và không có quá nhiều quyền lực, thì khi đó chúng ta vẫn có thể tránh được một Nhà nước “làm cho người của mình bị còi cọc đi”263, một Nhà nước mà ở đó “sự cai trị tuyệt đối của người đứng đầu ban điều hành đối với một giáo đoàn của những cá nhân bị cô lập, tất cả đều bình đẳng, nhưng là những tên nô lệ”264; “với những con người nhỏ bé thì chẳng có thể làm được việc gì lớn lao”265. Có một mối nguy hiểm kinh khủng trong các tín điều và các hình thức của cuộc sống “gò bó”, “làm cho còi cọc”, “làm cho nhỏ bé” con người266. Ý thức nhạy bén thời đại hiện nay về tác động làm mất tính người của văn hóa đại chúng, về sự hủy hoại những mục đích chân chính, cả trên bình diện cá nhân lẫn xã hội, bằng cách đối xử với con người như những tạo vật phi lí tính có thể bị lừa dối và nhào nặn, bằng phương tiện truyền thông đại chúng của quảng cáo và thông tin liên lạc - và làm tha hóa “xa lạ” hẳn với những mục đích cơ bản của con người bằng cách bỏ mặc họ phơi bày ra cho cuộc chơi của những sức mạnh tự nhiên tương tác với sự ngu dốt, xấu xa, ngờ nghệch, truyền thuyết, và trên hết cả là sự tự lừa dối mình và sự đui mù được biến thành tập quán - tất cả những thứ ấy đã được Mill, cũng như Ruskin hay William Morris267, cảm nhận thật sâu sắc và đầy đau đớn. Trong chuyện này Mill khác họ chỉ ở nhận thức sáng tỏ hơn về thế lưỡng nan được tạo nên bởi những nhu cầu đồng thời về tự thể hiện cá nhân và về tính cộng đồng nhân bản. Tiểu luận về tự do được sáng tác chính là cho chủ đề này. “E rằng”, Mill u buồn nói thêm rằng “những lời dạy” của tiểu luận “vẫn sẽ còn giữ được giá trị của nó trong một thời gian dài”268

Bertrand Russell - người con đỡ đầu của Mill - có lần đã nhận xét rằng những niềm tin chắc của các triết gia hiếm khi nào lại chứa đựng ở trong các luận cứ mang tính hình thức của họ; những niềm tin cơ bản, những quan điểm bao quát về cuộc sống giống như những pháo đài phải được bảo vệ chống lại kẻ thù269. Các triết gia triển khai sức mạnh trí tuệ của họ trong những luận cứ chống lại những phản bác có thực hay khả dĩ đối với học thuyết của họ, và mặc dù những lí lẽ họ tìm được, và logic họ sử dụng, có thể là phức tạp, tài tình và khủng khiếp, nhưng chúng chỉ là các vũ khí phòng thủ; bản thân cái pháo đài bên trong - cái nhìn về cuộc đời mà vì nó cuộc chiến tranh được tiến hành - thông thường hóa ra sẽ thật tương đối đơn giản và không quá rối rắm. Cuộc bảo vệ lập trường của Mill trong tiểu luận bàn về tự do không phải là có phẩm chất cao lắm, như vẫn thường được chỉ ra: khá nhiều các luận cứ của ông có thể hóa ra lại chống lại chính ông; chắc chẳng có luận cứ nào là xác chứng, hay thuộc loại có thể thuyết phục được một đối thủ kiên quyết hay không có thiện cảm. Từ cái ngày của James Stephen, mà cuộc công kích hùng mạnh của ông ta vào lập trường của Mill bắt đầu vào năm qua đời của Mill, cho đến những người bảo thủ và các nhà xã hội chủ nghĩa và những người độc đoán và các nhà toàn trị thời nay, những người phê phán Mill nhìn chung là vượt quá con số những người bảo vệ ông. Mặc dù vậy, cái pháo đài bên trong - luận đề trung tâm - đã đứng vững trước thử thách. Có thể phải thêm chi tiết hay nâng cao phẩm chất, nhưng nó vẫn sang tỏ nhất, chân thành nhât, sự bày tỏ đầy thuyết phục và gây xúc động về quan điểm của những ai khao khát một xã hội mở ngỏ và khoan dung. Lí do cho điều này không chỉ đơn thuần là tính trung thực của trí óc Mill, hay sức quyến rũ về đạo đức và trí tuệ ở văn chương của ông, mà là ở việc ông nói lên điều gì đó chân lí và quan trọng về một số đặc trưng và khát vọng cơ bản nhất của con người.

Mill không chỉ đơn thuần phát biểu một chuỗi các đề nghị (mỗi một đề nghị xét tự thân nó, đáng ngờ về tính khả tín) gắn bó với nhau bởi những mối liên kết như ông có thể cung cấp. Ông cảm nhận được điều gì đó thật sâu sắc và cốt yếu về tác động hủy hoại của những nỗ lực thành công nhất của con người trong việc tự cải tiến ở xã hội hiện đại; về những hậu quả không chủ tâm của nền dân chủ hiện đại, cũng như tính trá ngụy và những nguy cơ thực hành của các lí thuyết mà một số hậu quả tồi tệ nhất trong những hậu quả ấy đã được các lí thuyết ấy bảo vệ (và vẫn còn đang được bảo vệ). Điều này giải thích vì sao, bất chấp sự yếu ớt của luận cứ, những mục đích không chắc chắn, những ví dụ lỗi thời, sờ mó cô gia sư đang sắp thôi việc như Disraeli đã nhận xét thật hiểm ác, bất chấp việc thiếu hoàn toàn sự dũng cảm của ý niệm mà chỉ những thiên tài độc đáo mới có được, tiểu luận của ông đã giáo dục cả một thế hệ của ông và [đến nay] vẫn còn gây tranh cãi. Những đề nghị trọng tâm của Mill không phải là những chân lí muôn thuở, chúng không hiển nhiên tự thân chút nào. Chúng là những lời phát biểu về một lập trường đã bị kháng cự lại và bị bác bỏ bởi những hậu duệ hiện đại của những người đương thời lỗi lạc nhất của ông, Marx, Carlyle, Dostoevsky, Newman270, Comte, và những đề nghị trọng tâm ấy vẫn còn bị tấn công, bởi chúng vẫn còn mang tính đương đại. Bàn về tự do đề cập những chuyện có thật và gây lo lắng vào thời đó; những nguyên lí cũng như những kết luận của nó là sống động một phần vì chúng nảy sinh từ các cuộc khủng hoảng đạo đức gay gắt trong cuộc sống con người, và sau nữa là [nảy sinh] từ một cuộc sống phục vụ cho những sự nghiệp cụ thể cũng như đưa ra những quyết định thực sự - và do đó đôi khi thật nguy hiểm. Mill nhìn vào những vấn đề gây bối rối trực tiếp cho ông, chứ không phải thông qua những cảnh tượng được cung cấp bởi một học thuyết chính thống nào. Cuộc nổi loạn của ông chống lại sự giáo dục của cha ông, lời thú nhận dũng cảm của ông về những giá trị của Coleridge và của các nhà văn lãng mạn, đó là hành vi giải phóng hạ gục những cảnh tượng ấy. Cũng từ những chân lí-một nửa ấy, ông đã tự giải phóng cho mình và trở thành một nhà tư tưởng trong tư cách của riêng mình. Vì lí do này, trong khi Spencer và Comte, Taine và Buckle, thậm chí cả Carlyle và Ruskin nữa - những nhân vật được biết đến rộng rãi trong thế hệ của họ - đã lùi xuống nhanh chóng và biến thành (hay bị nuốt mất bởi) những cái bóng của quá khứ, thì bản thân Mill vẫn còn rất thực tại.

Một trong những triệu chứng của loại phẩm chất xác tín xoay tròn ba chiều này, ấy là chúng ta cảm thấy chắc chắn rằng chúng ta có thể nói ông ấy hẳn sẽ đứng vào đâu trong những chuyện hiện nay của chúng ta. Liệu ai có thể nghi ngờ ông giữ lập trường nào trong vụ Dreyfus, hay trong cuộc chiến tranh Boer271, hay chủ nghĩa Phát xít, hay chủ nghĩa Cộng sản? Hay về chuyện Munich, hay kênh Suez, hay Budapest, hay chủ nghĩa phân biệt màu da, hay chủ nghĩa thực dân, hay bản báo cáo của Wolfenden272? Liệu chúng ta có thể cũng chắc chắn như vậy đối với những nhà thuyết giảng đạo đức khác nổi tiếng thời Victoria? Carlyle hay Ruskin hay Dickens? Hay thậm chí là Kingsley hay Wilberforce273 hay Newman chăng? Chắc chắn rằng bằng chứng nào đó của tính ổn định lâu dài trong những vấn đề mà Mill đã xử lí, cũng như mức độ thấu hiểu của ông về những vấn đề ấy, [bằng chứng cũng như mức độ thấu hiểu ấy] là độc nhất.

Nguồn: Tất định luận và tự do lựa chọn (Liberty, Nhà xuất bản Oxford University Press, 2002) của Isaiah Berlin, do dịch giả Nguyễn Văn Trọng dịch một cách đầy đủ và mạch lạc

Dịch giả:
Nguyễn Văn Trọng