Tất định luận và tự do lựa chọn - Chương 4: John Stuart Mill và những cứu cánh của cuộc sống (Phần 2)

Tất định luận và tự do lựa chọn - Chương 4: John Stuart Mill và những cứu cánh của cuộc sống (Phần 2)

Tôi sẽ không đưa ra đây tóm lược đầy đủ luận cứ của Mill, nhưng sẽ cố thâu tóm lại những ý tưởng quan trọng nhất mà Mill đã gắn cho chúng tầm quan trọng nhất - những niềm tin đã bị các đối thủ của ông công kích lúc sinh thời, và thậm chí còn kịch liệt hơn nữa vào thời nay. Những kiến nghị ấy không hề hiển nhiên tự thân chút nào; thời gian đã không biến chúng thành những lời sáo rỗng; ngay cả hiện nay chúng cũng không phải là những giả định không còn phải tranh cãi của một nhân sinh quan văn minh. Hãy để tôi cố thử xem xét chúng thật vắn tắt.

Người ta muốn cắt giảm quyền tự do của những người khác, hoặc là (a) vì người ta muốn áp đặt quyền lực của mình lên những người khác; hoặc là (b) vì người ta muốn tuân theo tập tục - người ta không muốn suy nghĩ khác biệt vói những người khác; hoặc là, điểm cuối cùng, (c) vì người ta tin rằng đối với câu hỏi con người phải sống như thế nào, thì chỉ có thể có một lời đáp chân lí và chỉ một mà thôi (cũng như với bất kì câu hỏi đích thực nào): lời đáp ấy là có thể khám phá được bằng phương tiện lí lẽ, hay bằng trực giác, hay mạc khải trực tiếp, hay bằng hình thức một cuộc đời, hay bằng “sự thống nhất lí thuyết và thực hành”216, quyền uy của nó được đồng nhất với những con đường dẫn đến tri thức tối hậu; mọi độ lệch với nó đều là sai lầm khiến cho sự cứu rỗi của con người lâm nguy; điều này biện minh cho luật pháp chống lại, thậm chí triệt hạ tận gốc, những ai rời khỏi chân lí, bất kể tính khí và ý định của họ là gì.

Mill bác bỏ hai động cơ đầu tiên như là phi lí tính vì chúng không có khẳng định nào tranh cãi một cách trí tuệ, và do đó không có khả năng đáp lại bằng luận cứ duy lí. Chỉ có động cơ cuối cùng là được ông xem xét nghiêm chỉnh, ấy là điều khẳng định rằng những cứu cánh mang tính chân lí của cuộc sống là có thể khám phá được và những ai đối lập lại các chân lí ấy là đang lan truyền lời dối trá độc hại, nên phải bị đàn áp. Ông đáp lại điều này rằng người ta không phải là bất khả sai lầm; rằng quan điểm bị cho là độc hại cuôi cùng lại có thể hóa ra là chân lí; rằng những kẻ đã giết chết Socrates và đức Kitô đã tin tưởng chân thành các vị này là những kẻ cung cấp những lời dối trá độc ác, còn chính những kẻ đó là những người được kính nể như bất cứ ai ở trong thời nay; rằng Marcus Aurelius, “con người cao quý nhất, dễ thương nhất trong các triết gia và nhà cầm quyền”217, được biết đến như một người khai sáng nhất trong thời đại của mình và một trong những người cao quý nhất, mặc dù vậy, đã phê chuẩn việc truy hại Kitô giáo như là một hiểm họa về đạo đức và xã hội, và rằng không có luận cứ nào được sử dụng bởi bất cứ kẻ truy bức nào khác mà lại không phải là luận cứ áp dụng được ngang bằng cho ông. Chúng ta không thể cho rằng sự truy hại không bao giờ giết chết chân lí. “Chỉ là một sự đa cảm vô căn cứ”, Mill quan sát, “nếu cho rằng chân lí với tư cách chân lí thuần túy lại có sức mạnh nội tại nào chống nổi với ngục tù và cột hành quyết để phủ định được sai lầm có địa vị ưu thế”218. Sự truy hại trong lịch sử là quá hữu hiệu. 

“Chỉ nói riêng các tư tưởng tôn giáo thôi, thì ít nhất cũng tới hai chục lần cuộc cải cách bùng nổ ra và bị triệt hạ vào thời trước khi có Luther. Arnold of Brescia bị triệt hạ. Fra Dolcino bị triệt hạ. Savonarola bị triệt hạ. Albigeois bị triệt hạ. Vaudois bị triệt hạ. Lollards bị triệt hạ. Hussites bị triệt hạ… Ở Tây Ban Nha, ở Italia, ở vùng Flanders, ở đế chế Áo, tôn giáo Tin Lành bị nhổ tận gốc; và có vẻ như là ở Anh cũng đã như thế, nếu giả sử như Nữ hoàng Mary còn sống hay Nữ hoàng Elizabeth bị chết… Không một người hiểu biết nào có thể hoài nghi về việc Kitô giáo rất có thể đã bị diệt trừ ở đế quốc La Mã”219.

Và phải làm sao nếu người ta phản đối lại điều này rằng, chỉ vì chúng ta đã sai lầm trong quá khứ mà phải kiềm chế không dám tấn công cái ác, khi thấy nó trong hiện tại vì sợ lại sai lầm nữa, như vậy chỉ là hèn nhát mà thôi; hay, nói điều này theo cách khác, rằng ngay cả khi chúng ta không phải là bất khả sai lầm đi nữa, nếu chúng ta ít nhiều vẫn còn đang sống, thì chúng ta phải đưa ra quyết định và hành động, và chúng ta phải làm thật tốt nhất như có thể, theo khả năng của mình, luôn luôn có mạo hiểm bị sai lầm; vì sống luôn có mạo hiểm, và chúng ta có lựa chọn nào khác chăng? Mill đáp lại rằng “Có một sự khác biệt cực kì to lớn trong việc coi một ý kiến là đúng, bởi vì trong mọi cơ hội thử thách nó vẫn không bị bác bỏ, và việc cho nó là chân lí nhằm mục đích để cho nó không bị bài bác”220. Anh quả thực có thể ngăn cấm “kẻ xấu” làm bại hoại xã hội với những quan điểm “sai lầm và có hại”221, nhưng chỉ là khi anh trao cho người ta quyền tự do phủ nhận những gì anh tự gọi là xấu, hay có hại, hay đồi bại, hay sai lầm, như nó là thế; nếu không thì sự tin chắc của anh chỉ đơn thuần dựa trên giáo điều và không có tính duy lí, và không thể được phân tích hay biến đổi trong ánh sáng của những sự kiện và ý tưởng mới mẻ. Không có tính bất khả sai lầm thì làm sao mà chân lí có thể nổi lên được, nếu không có thảo luận? Không có con đường tiên nghiệm nào dẫn đến điều này; một trải nghiệm mới, một luận cứ mới, về nguyên tắc luôn luôn có thể thay đổi quan điểm của chúng ta, dù nó được duy trì mạnh mẽ thế nào đi nữa. Đóng cửa lại tức là cố ý tự che mắt mình trước sự thật, tự kết tội bản thân mình phạm vào sai lầm không thể sửa chữa.

Mill có một bộ óc thật mạnh mẽ và đầy tinh tế và những luận cứ của ông không bao giờ có thể bỏ qua được. Thế nhưng trong trường hợp này rõ ràng kết luận của ông chỉ đi theo những tiền đề mà ông chưa trình bày rành mạch. Ông là một người theo thường nghiệm luận; tức là ông tin rằng không có chân lí nào được - hay có thể được - thiết lập, ngoại trừ dựa trên bằng chứng quan sát. Những quan sát mới về nguyên tắc có thể đánh đổ một kết luận vốn dựa trên những quan sát trước đó. Ông tin quy tắc này là đúng cho các định luật vật lí, thậm chí cho cả các định luật logic và toán học; vậy [mở rộng ra] được nhiều hơn đến đâu trong lĩnh vực “ý thức hệ” vốn là nơi không có độ xác định khoa học thịnh hành - trong đạo đức học, chính trị học, tôn giáo, lịch sử, toàn bộ lĩnh vực sự nghiệp con người mà ở đó chỉ có xác suất ngự trị; ở đây trừ phi quyền tự do đầy đủ được cho phép có ý kiến và luận cứ, thì chẳng khi nào lại có cái gỉ được thiết lập một cách duy lí cả. Thế nhưng những người không đồng ý với ông và tin vào những chân lí trực giác, về nguyên tắc không bị điều chỉnh bởi trải nghiệm, [họ] có thể không quan tâm đến luận cứ này. Mill có thể loại bỏ họ như những kẻ làm ngu dân, giáo điều, phi lí tính. Thế nhưng vẫn cần có điều gì đó hơn là việc xua đuổi đây khinh miệt, nếu như những quan điểm của họ, có lẽ ngày nay đang mạnh mẽ hơn cả thê ki của chính Min nữa, đang cần phải được phản bác một cách duy lí. Lại một lần nữa, có thể đúng là không có quyền tự do đầy đủ để thảo luận thì chân lí không nổi lên được. Nhưng đây có thể mới chỉ là điều kiện cần, mà chưa là đủ, để khám phá được chân lí; chân lí có thể bất chấp mọi nỗ lực của chúng ta, vẫn cứ nằm ở đáy giếng, trong lúc đó nguyên nhân tồi tệ nhất có thể chiến thắng và gây thiệt hại to lớn cho loài người. Liệu có rõ ràng hay không rằng chúng ta phải cho phép những ý kiến biện hộ cho, ví dụ như lòng căm hận chủng tộc được hoàn toàn tự do, bởi Milton đã nói rằng “dù cho mọi cơn gió các học thuyết được thả cho thổi trên trái đất… trong một cuộc đụng độ tự do và công khai, liệu có bao giờ có ai đã thấy Chân lí đưa đến cái tồi tệ hơn chăng?”222. Những phán xét này thật dũng cảm và lạc quan, thế nhưng bằng chứng thường nghiệm cho những phán xét ấy hiện nay đang tốt đẹp ra sao? Phải chăng những kẻ mị dân và bọn dối trá, lũ vô lại và bọn cuồng tín mù quáng ở trong những xã hội tự do, đều bị chặn lại kịp thời và cuối cùng đều bị bác bỏ? Cái giá phải trả cho ân huệ lớn của tự do thảo luận cao đến chừng nào thì là đúng? Một cái giá rất cao, chắc chắn rồi; nhưng vô giới hạn chăng? Và nếu không phải vậy, thì ai sẽ nói cho biết sự hi sinh nào là quá lớn hay là không? Mill tiếp tục nói rằng một ý kiến bị tin là sai vẫn có thể đúng một phần; vì không có chân lí tuyệt đối, chỉ có những con đường khác nhau hướng tới nó; dập đi một lời có vẻ trá ngụy có thể cũng dập đi cả những gì là đúng trong đó, gây mất mát cho nhân loại. Luận cứ này, lại một lần nữa, không nói với những người tin rằng chân lí tuyệt đối là có thể khám phá được một lần cho mãi mãi, dù là bằng luận cứ siêu hình hay thần học, hay bằng một thấu hiểu trực tiếp nào đó, hay bằng việc sống theo một kiểu cách nhất định, hay như những người hướng dẫn chính Mill đã tin là bằng các phương pháp khoa học hay thường nghiệm.

Luận cứ của ông là khả tín chỉ khi dựa trên giả định mà ông đã biết hay không biết, thật quá hiển nhiên là Mill đã giả định rằng tri thức của con người về nguyên tắc không bao giờ là trọn vẹn, và luôn có thể sai lầm; rằng không có một chân lí đơn nhất, rõ ràng một cách phổ quát; rằng mỗi người, mỗi dân tộc, mỗi nền văn minh có thể đi theo con đường riêng hướng tới mục tiêu riêng, không nhất thiết là hòa hợp với những mục tiêu của những đối tượng khác; rằng con người bị biến cải, và những chân lí mà họ tin vào cũng biến cải, do những trải nghiệm mới và những hành động của chính họ - điều mà ông gọi là “những thí nghiệm về cách sống”223 cho nên hệ quả là sự tin chắc, chung cho những người đi theo Aristotle và khá nhiều các nhà kinh viện Kitô giáo cũng như những nhà duy vật vô thần, tin chắc rằng có một bản chất nền tảng của con người, cùng giống như nhau, vào mọi thời gian và ở mọi nơi, ở trong mọi người - một thực chất tính tại, không thay đổi ở bên dưới những biểu hiện bề ngoài luôn biến đổi, với những nhu cầu bền lâu được sai khiến bởi một mục tiêu đơn nhất có thể khám phá được, hoặc là bởỉ một khuôn mẫu của những mục tiêu, cùng một thứ cho cả loài người - [sự tin chắc ấy] là sai lầm; và cái ý niệm gắn liền với sự tin chắc ấy cũng sai lầm như thế, ấy là ý niệm về một học thuyết chân lí đơn nhất cứu rỗi tất cả mọi người ở bất cứ nơi nào, chứa đựng trong định luật tự nhiên, hay trong mạc khải về một cuốn sách thiêng, hay trong sự thấu hiểu của một con người thiên tài, hay trong sự minh triết tự nhiên của những người bình thường, hay trong những tính toán của một giới tinh hoa các nhà khoa học Công lợi chủ nghĩa được dựng lên cai trị loài người.

Mill - khá dũng cảm trong tư cách một người tự cho là theo chủ nghĩa Công lợi - quan sát thấy rằng, các khoa học nhân văn (tức là khoa học xã hội) là quá lộn xộn và bất xác định, nên không thể được gọi một cách đúng đắn là khoa học. Trong những khoa học này không có các khái quát hợp thức, không có các định luật, và do đó không có các tiên đoán hay các quy tắc hành động được diễn dịch một cách đúng đắn từ các định luật này. Ông đã tôn vinh kí ức của cha ông, mà toàn bộ triết học của người đều dựa trên giả định đôi lập lại; ông kính trọng Auguste Comte và trợ cấp cho Herbert Spencer, cả hai người này đều đã tuyên bố đặt nền tảng cho chính cái khoa học về xã hội như thế. Nhưng giả thiết của chính ông được phát biểu chưa hoàn toàn rõ ràng lại mâu thuẫn với ý kiến ấy. Mill tin tưởng rằng con người mang tính tự phát, rằng con người có tự do lựa chọn, rằng con người tự nhào nặn nên tinh cách của mình, rằng do kết quả của tác động qua lại của con người với tự nhiên và với những người khác mà một thứ gì đó mới mẻ liên tục xuất hiện, và rằng cái mới mẻ ấy đúng là thứ đặc trưng nhất và nhân bản nhất của con người. Bởi toàn bộ quan điểm của Mill về bản chất con người hóa ra không dựa trên ý niệm về sự lặp đi lặp lại của một khuôn mẫu đồng nhất, mà dựa trên tri giác của ông về đời sống con người như một đối tượng mãi mãi bất toàn, tự biến cải và làm mới mình, lời nói của ông hiện nay vẫn đầy sống động và thích hợp cho các vấn đề của chính chúng ta; trong khi đó các công trình của James Mill, của Buckle, của Comte và của Spencer, còn lại như xác con tàu cũ khổng lồ, phần nào đã bị lãng quên ở con sông tư duy thế kỉ 19. Ông không đòi hỏi hay tiên đoán những điều kiện lí tưởng cho một lời giải chung cuộc các vấn đề nhân bản hay là cho việc đạt được một thỏa thuận phổ quát về mọi vấn đề cốt yếu. Ông cho rằng tính chung cuộc là bất khả dĩ, và hàm ý rằng điều đó cũng là không đáng mong muốn. Ông không chứng minh điều này. Chặt chẽ trong luận cứ không phải là tài năng của ông. Nhưng chính niềm tin ấy làm xói mòn những nền tảng mà Helvétius, Bentham và James Mill đã xây dựng các học thuyết của họ trên đó - một hệ thống mà ông chưa bao giờ bác bỏ một cách hình thức - điều này khiến cho trường hợp của ông vừa khả tín lại vừa nhân bản.

Những luận cứ còn lại của ông lại còn yếu hơn nữa. Ông nói rằng chân lí nếu không được phản bác thì có khả năng bị suy thoái thành giáo điều hay định kiến; người ta có thể sẽ không cảm nhận được nó như một chân lí sống động; đối lập là cần thiết để giữ cho chân lí được sống động. “Đến khi không còn kẻ địch trên chiến trường thì cả sư phụ lẫn đệ tử đều ngủ quên trên cương vị của mình”, bị chiến thắng bởi “giấc ngủ quên thật say của một ý kiến đã quyết”224. Mill đã tin vào điều này thật sâu sắc đến nỗi ông tuyên bố rằng nếu không có những người bất đồng ý kiến thực sự, thì chúng ta phải có nghĩa vụ tạo ra những luận cứ chống lại chính mình, đặng giữ cho chúng ta ở trạng thái sung sức về trí tuệ. Điều này giống hệt luận cứ của Hegel xem chiến tranh là cốt làm cho xã hội con người khỏi bị trì trệ. Nếu giả sử chân lí về sự nghiệp của con người về nguyên tắc có thể được chứng minh giống như là trong số học chẳng hạn, thì việc tạo ra những đề nghị trá ngụy để rồi đánh đổ chúng, nhằm duy trì sự hiểu biết của chúng ta, [việc ấy] chắc chẳng cần thiết. Có vẻ như điều mà Mill thực ra muốn đề nghị, ấy là sự đa dạng các ý kiến vì chính bản thân chúng. Ông phát biểu về sự cần thiết của “cơ hội công bằng cho mọi phía của chân lí”225 - một câu nói khó mà được sử dụng, nếu người ta tin vào những chân lí đơn giản và toàn vẹn giống như những người theo chủ nghĩa Công lợi sơ kì đã tin; và ông đã sử dụng những luận cứ tồi tệ để che đậy cho thái độ hoài nghi ấy, có lẽ để che đậy cả với chính bản thân ông nữa. “Trong tình trạng không hoàn hảo của trí tuệ con người”, ông nói, “thì sự đa dạng ý kiến là phục vụ cho lợi ích của chân lí”226. Và ông hỏi liệu chúng ta có “sẵn lòng chấp nhận logic của những kẻ truy hại tôn giáo rằng chúng ta có thể truy hại những người khác vì chúng ta có lẽ phải, còn họ không được truy hại chúng ta vì họ trái lẽ”227. Những người Thiên Chúa giáo, những người Tin Lành, những người Do Thái, những người Hồi giáo, tất cả đều đã biện minh cho việc truy hại bởi luận cứ này vào thời của họ; và trong những tiền đề của họ có thể chẳng có gì là sai với điều này.

Mill bác bỏ chính những tiền đề này, và tôi thấy hình như ông bác bỏ không phải như kết quả của một chuỗi lập luận, mà vì ông tin rằng - ngay cả khi ông không bao giờ thừa nhận điều này thật rõ ràng, như tôi được biết - không hề có những chân lí chung cuộc không thể bị hiệu chỉnh bởi trải nghiệm, ít nhất cũng trong phạm vi nay được gọi là ý thức hệ - tức là về giá trị phán xét và về nhân sinh quan cũng như thái độ đối với cuộc sống. Dù sao thì trong khuôn khổ ấy của ý tưởng và giá trị, bất chấp mọi nhấn mạnh lên giá trị của “những thí nghiệm về cách sống” và những gì chúng có thể phát hiện được, Mill sẵn sàng đặt cược rất lớn cho chân lí về những tin chắc của ông vào những gì ông cho là những lợi ích sâu sắc nhất và bền lâu nhất của con người. Mặc dù những lí lẽ của ông được rút ra từ trải nghiệm chứ không phải từ một tri thức tiên nghiệm, bản thân những kiến nghị rất giống với những kiến nghị được bảo vệ trên cơ sở siêu hình bởi những người ủng hộ truyền thống cho học thuyết về quyền tự nhiên của con người. Mill tin tưởng vào tự do, tức là, sự giới hạn vững chắc đối với quyền ép buộc, vì ông chắc rằng con người không thể phát triển và hưng thịnh cũng như trở thành đầy đủ nhân bản, nếu không được để cho tự do thoát khỏi sự can thiệp bởi những người khác trong phạm vi một không gian tối thiểu của đời sống con người, mà ông xem như - hay mong ước tạo thành - [không gian] bất khả xâm phạm. Đó là quan điểm của ông về con người là gì, và như thế là về những nhu cầu cơ bản về đạo đức và trí tuệ của con người, và ông đã diễn đạt những kết luận của mình trong những châm ngôn nổi tiếng, theo đó thì “cá nhân không phải giải trình trước xã hội về những hành vi trong mức độ chúng không liên quan đến quyền lợi của một ai ngoài bản thân anh ta”228, và “quyền lực có thể được thực thi chính đáng đối với bất cứ thành viên nào của một cộng đồng văn minh chống lại ý chí của anh ta, chỉ khi nó nhằm mục tiêu ngăn chặn tổn hại cho những người khác. Điều tốt lành cho chính anh ta, dù là thể chất hay tinh thần, không phải là một bảo đảm đầy đủ. Anh ta không thể bị cưỡng ép một cách hợp pháp phải làm hay phải nhẫn nhịn điều gì… với lí do theo ý kiến của những người khác thì làm như thế là khôn ngoan hay thậm chí là đúng đắn”229. Đây là lời rao giảng đức tin của Mill, và cũng là cơ sở tối hậu cho chủ nghĩa tự do chính trị, và do đó cũng là mục tiêu thích hợp cho sự công kích - cả trên bình diện tâm lí và đạo đức (cũng như xã hội) - của những đối thủ của nó trong lúc Mill còn sống cũng như sau khi ông chết. Carlyle phản ứng với sự giận dữ đặc trưng trong một bức thư cho người anh/em Alexander: “Cứ tựa như là tội lỗi khi kiểm soát, hay ép buộc theo một phương pháp tốt hơn, con người dù sao cũng là đồ con lợn… ôi Thượng Đế, xin người hãy nhìn xuống từ thiên đường! (Ach Gott im Himmel!)”230

Sự phê phán hòa nhã hơn và duy lí hơn đã không thất bại trong việc chỉ ra rằng, những ranh giới giữa các khu vực riêng tư và công cộng thật khó mà vạch ra được; rằng bất cứ điều gì con người làm, về nguyên tắc đều ngăn trở những người khác; rằng không một ai là hòn đảo cả; rằng những phương diện xã hội và cá nhân của con người trên thực hành thường không thể gỡ ra khỏi nhau. Mill được bảo rằng, khi người ta theo những hình thức thờ phụng mà những người khác khăng khăng xem chúng không đơn thuần như “đáng ghê tởm” tự thân, mà còn là sự tấn công vào họ hay vào Thượng Đế của họ, thì họ có thể là phi lí tính và tin mù quáng, nhưng không nhất thiết là đang dối trá; và khi ông hỏi một cách khoa trương tại sao những người Hồi giáo lại không cấm ăn thịt lợn với bất kì ai, vì họ thực sự ghét chuyện này, lời đáp dựa trên những tiền đề Công lợi chủ nghĩa là không hiển nhiên tự thân chút nào. Có thể phản bác lại rằng không có lí do tiên nghiệm nào để giả định rằng trong một thế giới hoàn toàn xã hội hóa, mà ở đó cuộc sống riêng tư và tự do cá nhân bị quy giảm tới điểm không còn gì hết, thì phần đông người ta hẳn sẽ không hạnh phúc hơn - nếu đó là mục tiêu so với ở trong trật tự cá nhân luận của Mill; và rằng chuyện có là như vậy hay không là vấn đề kiểm tra thực nghiệm. Mill luôn luôn phản đối chống lại sự kiện là những quy tắc xã hội và pháp luật rất thường hay được xác định bởi “những cái yêu ghét của xã hội”231, và ông đã chỉ ra thật đúng rằng những quy tắc ấy thường là phi lí tính và dựa trên sự ngu dốt. Nhưng nếu gây tổn hại cho những người khác là điều ông quan tâm nhất (như ông rao giảng), thì sự kiện thực tế nói lên rằng sự kháng cự của họ trước niềm tin này hay niềm tin kia là theo bản năng, hay theo trực giác, hay là không dựa trên cơ sở lí tính, [sự kiện đó] cũng không làm cho họ ít đau đớn hơn và trong mức độ ấy [điều này] đang gây tổn hại cho họ. Tại sao những người có lí tính lại được quyền thỏa mãn những cứu cánh của họ nhiều hơn là những người phi lí tính? Tại sao lại không phải là những người phi lí tính, nếu như hạnh phúc lớn nhất của số người đông nhất (và số người đông nhất hiếm khi nào là có lí tính) là mục đích hành động duy nhất được biện minh? Chỉ có một nhà tâm lí học thật giỏi mới có thể nói cho chúng ta biết điều gì khiến cho một xã hội nhất định được hạnh phúc nhất. Nếu như hạnh phúc là tiêu chí duy nhất, thì sự hi sinh con người, hay thiêu đốt các mụ phù thủy vào những thời buổi mà những thực hành như thế gây cảm xúc rất mạnh cho công chúng, chắc chắn đã đóng góp cho hanh phúc của số đông vào thời của họ. Nếu không có tiêu chí đạo đức nào khác, thì câu hỏi liệu có tạo nên một cân bằng cao hơn cho hạnh phúc bằng sự tàn sát những bà già vô tội (cùng với sự ngu dốt và định kiến đã khiến cho chuyện này có thể được chấp nhận), hay là bằng sự gia tăng tri thức và tính duy lí để chấm dứt những hành động đáng căm ghét như thế, nhưng lại đánh cắp mất của ngưòi ta những ảo giác an ủi, [câu hỏi ấy] tất sẽ được trả lời bằng tính toán thực tế đơn thuần.

Mill đã không hề chú ý đến những xem xét như thế: những xem xét chống lại gay gắt hơn hết đối với tất cả những gì ông cảm nhận và tin vào. Ở trung tâm tư duy và cảm xúc của Mill không phải là chủ nghĩa Công lợi của ông, cũng không phải mối quan tâm về khai sáng, cũng không phải về chuyện phân chia khu vực riêng tư khỏi khu vực công cộng - vì bản thân ông đôi khi cũng thừa nhận rằng Nhà nước có thể xâm phạm vào khu vực riêng tư nhằm xúc tiến giáo dục, vệ sinh, hay an ninh xã hội, hay công bằng - nhưng là niềm tin đầy cảm xúc của ông cho rằng con người được tạo nên như con người bởi khả năng lựa chọn của nó - lựa chọn ác và thiện như nhau. Tính khả dĩ sai lầm, quyền được sai lầm, như là một hệ luận của khả năng tự cải tiến; sự nghi kị đối với tính cân đối và tính chung cuộc xem chúng như kẻ thù của tự do - ấy là những nguyên lí mà Mill không bao giờ từ bỏ. Ông ý thức một cách sâu sắc về tính đa diện của chân lí và tính phức tạp bất khả quy giản của đời sống, vốn loại trừ chính khả năng của bất cứ lời giải đơn giản nào, hay ý tưởng về một câu trả lời chung cuộc cho bất cứ vấn đề cụ thể nào. Hết sức táo bạo và không nhìn lại tính khắt khe nghiêm ngặt về trí tuệ mà ông được nuôi dạy trong đó, ông thuyết giảng sự cần thiết phải hiểu được và thu được sự rọi sáng từ những học thuyết vốn là bất tương thích với nhau - như những học thuyết của Coleridge và Bentham chẳng hạn; ông đã giải thích trong tự truyện của mình và trong những tiểu luận của mình về hai cây viết này, sự cần thiết thấu hiểu và học hỏi ở cả hai người. 

Nguồn: Tất định luận và tự do lựa chọn (Liberty, Nhà xuất bản Oxford University Press, 2002) của Isaiah Berlin, do dịch giả Nguyễn Văn Trọng dịch một cách đầy đủ và mạch lạc

Dịch giả:
Nguyễn Văn Trọng