Tất định luận và tự do lựa chọn - Chương 3: Hai khái niệm về tự do (Phần 9)
Có một niềm tin phải chịu trách nhiệm nhiều hơn bất cứ niềm tin nào khác về việc tàn sát các cá nhân trước bàn thờ của những lí tưởng vĩ đại mang tính lịch sử - công bằng hay tiến bộ hay hạnh phúc của các thế hệ mai sau, hay sứ mạng thiêng liêng hay giải phóng quốc gia hay chủng tộc hay giai cấp, hay thậm chí cả bản thân tự do nữa, những lí tưởng ấy đòi hỏi hi sinh các cá nhân vì tự do của xã hội. Đó là niềm tin rằng ở đâu đó, trong quá khứ hay ở tương lai, trong mạc khải siêu phàm hay trong đầu óc của cá nhân nhà tư tưởng, trong những tuyên cáo của lịch sử hay của khoa học, hay trong trái tim giản dị của một con người tốt trong sạch, có một lời giải đáp tối hậu. Niềm tin cổ xưa ấy dựa trên niềm tin chắc rằng, tất cả các giá trị tích cực mà con người tin vào chúng, rốt cuộc sẽ phải tương thích với nhau, hay thậm chí kéo theo nhau. “Tự nhiên ràng buộc chân lí, hạnh phúc và đức hạnh lại với nhau bởi xiềng xích không thể gỡ ra được” một người tốt nhất trong những người xưa nay đã sống, đã nói thế, và cũng đã phát biểu dưới dạng thức tương tự với tự do, bình đẳng và công bằng.184
Thế nhưng điều đó có đúng không? Chuyện tầm thường ai cũng biết, ấy là cả bình đẳng chính trị lẫn tổ chức có hiệu quả đều chẳng tương thích được với nhiều hơn là một chút tự do cá nhân, và chắc là không tương thích được với khai phóng (laissez-faire); ấy là công bằng và hào phóng, lòng trung thành công cộng và riêng tư, những yêu cầu của bậc thiên tài và đòi hỏi của xã hội, đều có thể xung đột dữ dội với nhau. Từ những điều ấy cũng không khó suy rộng ra rằng không phải tất cả những thứ tốt đẹp đều tương thích với nhau, còn tất cả các lí tưởng của nhân loại thì lại càng ít có khả năng tương thích với nhau hơn nữa. Thế nhưng ở đâu đó người ta sẽ bảo chúng ta rằng, theo một cách nào đó, tất phải có khả năng để cho tất cả những giá trị ấy cùng tồn tại với nhau, bởi nếu không thế thì vũ trụ sẽ không còn là vũ trụ, sẽ không là hài hòa nữa; nếu không thế thì những xung đột của các giá trị có thể là một nhân tố mang tính nội tại, không thể di dời được trong đời sống con người. Thừa nhận rằng việc thực hiện một số lí tưởng của chúng ta về nguyên tắc có thể khiến cho việc thực hiện những lí tưởng khác trở thành bất khả dĩ, có nghĩa là nói rằng khái niệm thực hiện toàn thể các lí tưởng nhân bản là một khái niệm mâu thuẫn hình thức, là một ảo tưởng siêu hình học. Vì đối với mọi nhà siêu hình học duy lí, từ Plato đến các đệ tử mới đây nhất của Hegel hay Marx, thì từ bỏ ý niệm ấy về hài hòa tối hậu, trong đó tất cả những bí ẩn đều được giải đáp, tất cả những mâu thuẫn đều được hòa giải, [việc từ bỏ ấy] là một mảnh thô thiển của chủ nghĩa kinh nghiệm, là thoái lui trước các sự thật tàn nhẫn, là sự phá sản không thể dung thứ của lí trí trước những sự vật như chúng là thế, là thất bại trong việc giải thích và biện minh, là quy giản mọi thứ về một hệ thống mà “lí trí” phẫn nộ bác bỏ.
Thế nhưng, nếu chúng ta không được vũ trang với đảm bảo tiên nghiệm cho đề xuất rằng, một hài hòa toàn thể của các giá trị đích thực phải được tìm thấy ở đâu đó - có thể trong một vương quốc lí tưởng nào đó, mà chúng ta không cảm nhận được nhiều lắm các đặc trưng của nó trong tình trạng hạn chế của chúng ta - thì chúng ta phải quay trở về với những cội nguồn thông thường của quan sát kinh nghiệm và tri thức thông thường của con người. Và chắc chắn những thứ ấy không cho chúng ta đảm bảo nào để giả định rằng (hay thậm chí hiểu được điều nói tới có nghĩa gì) tất cả những thứ tốt đẹp, hay tất cả những thứ tồi tệ về chuyện đó, là có thể hòa giải được với nhau. Thế giới mà chúng ta đụng độ trong kinh nghiệm thông thường là một thế giới trong đó chúng ta phải đối diện với những chọn lựa giữa các mục đích mang tính tối hậu tương đương, và đều khẳng định tính tuyệt đối tương đương, và việc thực hiện một số trong các mục đích ấy tất yếu sẽ kéo theo việc hi sinh những mục đích khác. Thực vậy, chuyện là thế bởi vì đây là tình thế của các giá trị ấy, khi con người đặt một giá trị vô bờ bến cho việc tự do lựa chọn; nếu giả sử người ta có được đảm bảo rằng ở một trạng thái hoàn hảo nào đó khả dĩ thực hiện được bởi con người trên trái đất này, không có mục đích nào mà họ theo đuổi lại xảy ra xung đột, thì tính tất yếu và nỗi đau đớn của việc lựa chọn sẽ biến mất. Bất cứ phương pháp nào đưa được trạng thái ấy lại gần hơn cũng đều được biện minh hoàn toàn, bất kể bao nhiêu tự do bị hi sinh cho việc tiến gần đến trạng thái ấy.
Tôi không nghi ngờ chút nào rằng, chính thái độ chắc chắn giáo điều nào đó như thế đã phải chịu trách nhiệm về niềm tin sâu sắc, bình thản, không lay chuyển được trong đầu óc của những bạo chúa và những kẻ truy bức tàn nhẫn nhất trong lịch sử - niềm tin rằng những gì chúng đã làm là được biện minh đầy đủ bởi mục đích của chúng. Tôi không nói rằng lí tưởng tự hoàn thiện mình - bất kể đối với các cá nhân hay các quốc gia, hay các giáo hội hay các giai cấp - đều phải bị lên án trong tự thân nó, hay ngôn ngữ đã được sử dụng để bảo vệ nó trong mọi trường hợp đều là kết quả của việc sử dụng ngôn từ lẫn lộn hay dối trá, hay của thái độ tai ác đạo đức hay trí tuệ. Thật vậy, tôi đã cố gắng chỉ ra rằng đó chính là khái niệm tự do trong ý nghĩa “khẳng định” của nó, tức là trong tâm điểm của các yêu sách đòi tự hướng dẫn cho quốc gia hay xã hội, những yêu sách làm sống động các phong trào quần chúng hùng hậu nhất về mặt đạo đức hiện nay, rằng không thừa nhận điều này là không hiểu được các sự kiện và các ý tưởng mang tính sống còn của thời đại ngày nay. Thế nhưng đồng thời tôi cũng cảm thấy rằng niềm tin vào một công thức đơn nhất có thể được tìm ra về nguyên tắc mà nhờ nó tất cả các mục đích đa dạng của con người có thể được thực hiện một cách hài hòa - niềm tin ấy đã được chứng tỏ là trá ngụy. Nếu những mục đích của con người là nhiều thứ, như tôi tin là thế, và không phải tất cả những mục đích ấy đều tương thích được với nhau, thì khả năng có xung đột - và bi kịch - không bao giờ có thể bị loại trừ khỏi đời sống con người, dù là đời sống cá nhân hay xã hội. Tính tất yếu của việc lựa chọn giữa các khẳng định tuyệt đối là đặc trưng không thể tránh khỏi của điều kiện nhân bản. Điều này đem lại giá trị cho tự do như Acton185 đã cảm nhận thấy - như một mục đích tự thân chứ không phải một nhu cầu nhất thời bộc lộ từ những cuộc sống của chúng ta đầy lẫn lộn các khái niệm, vừa phi lí tính vừa mất trật tự, mà một ngày nào đó có thể được chữa khỏi bởi một phương thuốc trị bách bệnh.
Tôi không muốn nói rằng tự do cá nhân, ngay cả ở các xã hội tự do nhất, là tiêu chí duy nhất, hay thậm chí vượt trội, cho hoạt động xã hội. Chúng ta ép buộc con cái được giáo dục và chúng ta cấm đoán các cuộc hành hình công khai. Những chuyện ấy chắc chắn là kiềm chế tự do. Chúng ta biện minh cho chúng trên cơ sở là ngu dốt, hay dạy dỗ man rợ, hay những thú vui và những kích động độc ác, đều là xấu xa hơn cho chúng ta, so với một lượng kiềm chế cần thiết để dập tắt chúng. Phán xét ấy về phần mình lại phụ thuộc vào việc chúng ta xác định thiện và ác thế nào, tức là phụ thuộc vào các giá trị đạo đức, tôn giáo, trí tuệ, kinh tế và mĩ học; những giá trị này về phần mình gắn với ý niệm của chúng ta về con người và những đòi hỏi cơ bản của bản chất con người. Nói cách khác, lời giải đáp của chúng ta cho những vấn đề như thế dựa trên cách nhìn của chúng ta về chuyện cuộc sống thỏa mãn của con người bao gồm những gì, như tương phản với những bản chất “bị gò bó và còi cọc”, “bị kìm kẹp và giam hãm” mà Mill đã viết, dù chúng ta bị dẫn dắt bởi cách nhìn ấy một cách có ý thức hay không.186 Việc phản đối chống lại luật pháp thiết lập chế độ kiểm duyệt [ngôn luận] hay đạo đức cá nhân, như là những xâm phạm không thể khoan dung vào tự do cá nhân, tiền giả định một niềm tin là những hoạt động bị các luật pháp như thế cấm đoán, chính là những nhu cầu cơ bản của những con người như là những con người, trong một xã hội tốt đẹp (hay thực ra là xã hội bất kì). Bảo vệ cho những luật pháp như thế là chủ trương cho rằng, những nhu cầu ấy không mang tính bản chất, hay những nhu cầu ấy không thể được thỏa mãn mà lại không hi sinh mất những giá trị khác cao hơn – nhằm thỏa mãn những nhu cầu sâu sắc hơn - so với tự do cá nhân, những giá trị khác cao hơn ấy được xác định bởi chuẩn mực nào đó không phải đơn thuần chủ quan, một chuẩn mực được cho là có một vị thế khách quan nào đó - theo kinh nghiệm hay tiên nghiệm.
Phạm vi tự do cho một người, hay một dân chúng, lựa chọn cuộc sống như anh ta, hay như họ, mong muốn, phải được cân nhắc đối chiếu với nhiều giá trị khác mà bình đẳng, hay công bằng, hay hạnh phúc, hay an toàn, hay trật tự công cộng, có lẽ là những ví dụ hiển nhiên nhất. Vì lí do ấy, phạm vi tự do không thể là vô hạn. Chúng ta được R.H. Tawney nhắc nhở rất đúng rằng tự do cửa kẻ mạnh, dù sức mạnh ấy là vật thể hay kinh tế, phải được kiềm chế. Châm ngôn này khẳng định thái độ tôn trọng, không phải như hệ lụy của một quy tắc tiên nghiệm nào đó, mà theo đó tôn trọng tự do của một người sẽ kéo theo một cách logic tôn trọng tự do của những người khác giống như anh ta; nhưng đơn giản là vì tôn trọng các nguyên tắc công bằng, hay nỗi xấu hổ về tình trạng bất bình đẳng lớn trong cách đối xử, cũng mang tính cơ bản nơi con ngưòi, giống như lòng khao khát tự do. Việc chúng ta không thể có được mọi thứ là một chân lí tất yếu chứ không phải ngẫu nhiên. Lời biện hộ của Burke cho sự cần thiết kiên định: cần phải bù đắp, cần phải hòa giải, cần phải cân bằng; lời biện hộ của Mill cho các “thử nghiệm cách sống” mới mẻ187 với khả năng thường xuyên phạm sai lầm - tri thức không chỉ đơn thuần trong thực tiễn, mà còn về nguyên tắc là không thể nào đạt được tính rạch ròi và lời giải đáp xác định - có thể làm tức điên những người tìm kiếm lời giải tối hậu và duy nhất, những hệ thống bao trùm tất cả, đảm bảo sẽ trường tồn. Tuy nhiên, đây là một kết luận không thể tránh khỏi bởi những người cùng với Kant đã học được chân lí là: “Từ cây gỗ cong queo của loài người, chẳng bao giờ có vật gì thẳng thớm được làm ra cả.”188
Không cần thiết phải nhấn mạnh đến thực tế là chủ nghĩa nhất nguyên, và niềm tin vào một tiêu chí đơn nhất, đã luôn luôn chứng tỏ là một cội nguồn sâu sắc thỏa mãn được cả trí tuệ lẫn cảm xúc. Dù chuẩn mực phán xet có dẫn xuất ra từ quan điểm tình trạng hoàn hảo ở tương lai nào đó như trong đầu óc các nhà philosophes thế kỉ 18 và những người kĩ trị nối nghiệp họ ngày nay, hay chuẩn mực phán xét ấy có cội rễ trong quá khứ - đất và những người đã chết189 - như chủ trương bởi những người theo lịch sử luận190 ở Đức hay các nhà kĩ trị ở Pháp, hay các nhà tân bảo thủ ở các nước nói tiếng Anh, thì cũng đều buộc phải, tuy khá cứng nhắc, tính đến tình trạng phát triển không lường trước hay không thể lường trước được của loài người, là thứ không ăn khớp được với nhất nguyên và là thứ sau đó được dùng để biện minh cho những thói man rợ tiên nghiệm kiểu Procrustes191 - việc giải phẫu sinh lí học đối với các xã hội loài người trên thực tế cho vừa khớp vào khuôn mẫu cố định nào đó được quy định theo hiểu biết khả dĩ sai lầm của chúng ta về một quá khứ rộng lớn trong trí tưởng tượng. Việc giữ lại các phạm trù tuyệt đối hay các lí tưởng của chúng ta bằng cái giá của các mạng sống con người là xúc phạm như nhau đến các nguyên lí của cả khoa học và lịch sử; đó chính là một thái độ có mức độ như nhau ở cả phe hữu lẫn phe tả ngày nay, thái độ ấy không thể hòa giải được với các nguyên tắc mà những người tôn trọng sự thật chấp nhận.
Tôi thấy chủ nghĩa đa nguyên cùng với biện pháp tự do “phủ định” mà nó kéo theo, có vẻ là một lí tưởng đúng đắn hơn và nhân bản hơn so với các mục tiêu của những người tìm kiếm lí tưởng tự làm chủ [theo nghĩa] “khẳng định” bởi các giai cấp, hay các nhân dân, hay toàn thể loài người, trong những cấu trúc vĩ đại có kỉ luật và mang tính toàn trị. Nó là đúng đắn hơn, vì ít ra nó thừa nhận sự thật rằng các mục tiêu của con người là có nhiều, nhưng không phải tất cả các mục tiêu ấy là khả ước, và chúng mãi mãi kình chống nhau. Giả định rằng tất cả các giá trị đều có thể sắp xếp trên cùng một thang bậc, sao cho việc xác định cái cao nhất chỉ đơn thuần là công việc của thanh tra, là điều tôi thấy có vẻ như xuyên tạc hiểu biết của chúng ta rằng những con người là những tác nhân tự do, có vẻ như miêu tả quyết định đạo đức như một thao tác mà về nguyên tắc có thể hoàn tất bằng cái thước tính logarit. Nói rằng ở trong một tổng hợp vẫn còn khả thi nào đó mang tính tối hậu, hòa giải tất cả mọi thứ với nhau: nghĩa vụ là lợi ích, hay tự do cá nhân là dân chủ thuần túy hoặc là nhà nước toàn trị, tức là phủ một tấm màn siêu hình học lên thói đạo đức giả, hoặc tự lừa dối, hoặc có chủ tâm. Chủ nghĩa đa nguyên là nhân bản hơn bởi vì nó không cướp đi những con người (như những nhà xây dựng hệ thống vẫn làm) nhân danh một lí tưởng xa xôi hay không rõ ràng nào đó, là cái lí tưởng mà người ta không thấy là tối cần thiết cho cuộc sống của họ như cuộc sống của những con người tự biến đổi mình theo cách thức không thể đoán trước được.192 Rốt cuộc thì người ta lựa chọn giữa các giá trị tối hậu; họ chọn như là họ vẫn chọn, bởi vì cuộc sống và suy nghĩ của họ được xác định bởi những phạm trù và khái niệm cơ bản về đạo đức, mà dù sao cũng vẫn co dãn rất nhiều theo thời gian và không gian, dù cho những phạm trù và khái niệm ấy có cội nguồn tối hậu thế nào đi nữa, chúng cũng vẫn là một bộ phận của tồn tại, của tư duy, của cảm nhận thuộc bản ngã của họ, bộ phận của cái khiến cho họ là con người.
Có thể lí tưởng của tự do chọn lựa các mục đích mà không phải khẳng định giá trị vĩnh cửu của chúng, cũng như chủ nghĩa đa nguyên và các giá trị liên quan với lí tưởng ấy, chỉ là trái chín muộn của nền văn minh tư bản chủ nghĩa đang lụi tàn: một lí tưởng mà các thời xa xưa và các xã hội thô lậu đã không thừa nhận, một lí tưởng mà hậu thế sẽ nhìn ngắm với thái độ hiếu kì, thậm chí có thiện cảm, nhưng không hiểu rõ lắm. Có thể là như thế; nhưng không có những kết luận hoài nghi theo sau. Các nguyên lí không bị kém thiêng liêng đi vì sự dài lâu của chúng không được đảm bảo. Thật vậy, chính cái khao khát muốn đảm bảo rằng các giá trị của chúng ta là vĩnh cửu và an toàn ở trong một thiên đường khách quan nào đó, có lẽ chỉ là lòng thèm muốn được chắc chắn của tuổi thơ ấu hay là các giá trị tuyệt đối của thời quá khứ thô lậu của chúng ta. Một tác giả đáng ngưỡng mộ của thời nay đã nói: “Hiểu được giá trị tương đối ở những niềm tin của một ai đó và vẫn không chùn bước bênh vực cho chúng, đó là điều phân biệt một người văn minh với một kẻ man rợ.”193 Đòi hỏi nhiều hơn điều ấy có lẽ là một nhu cầu sâu sắc không thể chữa khỏi; thế nhưng cho phép cái nhu cầu như thế quyết định việc thực hành của ai đó, là một triệu chứng của sự ấu trĩ đạo đức và chính trị, vừa nguy hiểm hơn và cũng vừa sâu sắc không kém.
Nguồn: Tất định luận và tự do lựa chọn (Liberty, Nhà xuất bản Oxford University Press, 2002) của Isaiah Berlin, do dịch giả Nguyễn Văn Trọng dịch một cách đầy đủ và mạch lạc
