Tự do lựa chọn: Một bản tuyên ngôn cá nhân - Chương 1: Quyền lực của thị trường (Phần 3)
MỘT QUAN ĐIỂM BAO QUÁT HƠN
Nguyên tắc “bàn tay vô hình” của Adam Smith thường được cho là liên quan đến việc mua bán trao đổi hàng hóa và dịch vụ bằng tiền. Nhưng hoạt động kinh tế hiển nhiên không phải là lĩnh vực duy nhất của đời sống con người ở đó một cấu trúc phức tạp được hình thành không dựa trên kế hoạch từ trước từ sự hợp tác của một đám đông những cá nhân theo đuổi lợi ích riêng của mình.
Ví dụ, xem xét lĩnh vực ngôn ngữ, một cấu trức phức tạp, liên tục thay đổi và phát triển. Ngôn ngữ có một trật tự rõ ràng nhưng trên thực tế, không có một cơ quan trung ương nào lập kế hoạch tạo ra nó. Không có cơ quan trung ương nào quyết định xem nên chọn từ nào, những quy tắc ngữ pháp nào nên dùng, từ nào là tính từ, từ nào là danh từ. Học viện Ngôn ngữ Pháp đã cố gắng kiểm soát sự thay đổi của tiếng Pháp nhưng đó chỉ là những cố gắng ở giai đoạn sau. Học viện được thành lập rất lâu sau khi tiếng Pháp trở thành một ngôn ngữ có cấu trúc toàn diện. Nhiệm vụ chính của Học viện chỉ là cộp dấu phê chuẩn cho những thay đổi mà nó không thể kiểm soát. Nhưng [ngoài tiếng Pháp], cũng chỉ có một vài ngôn ngữ khác có những cơ quan đảm nhiệm chức năng tương tự.
Vậy ngôn ngữ phát triển như thế nào? Sự phát triển của ngôn ngữ rất giống với sự phát triển của trật tự kinh tế thông qua thị trường – hình thành từ những tương tác tự nguyện giữa các cá nhân, mà trong trường hợp ngôn ngữ, theo đuổi việc trao đổi tư tưởng, thông tin hoặc đơn giản chỉ là tán chuyện với nhau thay vì là trao đổi hàng hóa và dịch vụ. Một từ có thể được gắn với một hoặc nhiều nghĩa khác nhau; hoặc từ mới được bổ sung khi có nhu cầu phát sinh. Ngữ pháp được phát triển, và sau này được hệ thống hóa thành những quy tắc. Để có thể giao tiếp với nhau, hai bên phải đi đến một đồng thuận chung về từ ngữ sử dụng. Càng ngày, càng nhiều người nhận thấy lợi ích của sự đồng thuận này, từ đó, ngôn ngữ chung được lan truyền và được hệ thống hóa thành từ điển. Quá trình ấy xảy ra hết sức tự nhiên, không hề có mệnh lệnh hay bắt buộc; không có một nhà hoạch định nào lên kế hoạch và ra lệnh, dù là hệ thống trường công đương thời đã góp phần quan trọng vào việc chuẩn hóa cách sử dụng.
Một ví dụ khác chính là tri thức khoa học. Cấu trúc các môn học - vật lý, hóa học, khí tượng học, triết học, nhân văn học, xã hội học, kinh tế học - không phải là sản phầm đến từ quyết định chủ ý của một cá nhân nào. Giống như Topsy[1], cấu trúc ấy “cứ phát triển thôi”. Các học giả chấp nhận cấu trúc môn học vì thấy nó tiện lợi. Nhưng cấu trúc môn học không cố định mà thay đổi, biến động khi những nhu cầu khác nhau xuất hiện.
Bên trong mỗi bộ môn, sự phát triển của chủ đề nghiên cứu tương đồng với sự phát triển của thị trường trong hoạt động kinh tế. Những học giả hợp tác với nhau bởi họ tìm thấy lợi ích tương hỗ. Họ công nhận thành quả của người khác khi thấy hữu dụng. Họ trao dổi những phát kiến –qua giao tiếp, qua lưu truyền những bài viết chưa xuất bản, hay qua công bố trên sách báo và tạp chí chuyên ngành. Hợp tác học thuật diễn ra trên phạm vi toàn thế giới, giống như trên thương trường. Sự ghi nhận thành quả nghiên cứu của các đồng nghiệp trong lĩnh vực học thuật có chức năng tương tự như phần thưởng dưới dạng tiền bạc trên thương trường. Khao khát có được sự ghi nhận của đồng nghiệp, của những học giả hàng đầu đã thôi thúc các học giả làm việc một cách hăng say và hiệu quả từ góc độ khám phá khoa học. Phát kiển của toàn bộ các công trình lớn hơn nhiều so với tổng phát kiến của từng nghiên cứu rời rạc, bởi các học giả đứng trên vai của nhau trong các công trình nghiên cứu của mình. Công trình của một người lại trở thành nền tảng cho những phát triển khác. Vật lý hiện đại là sản phẩm kết tinh từ thị trường tự do trong địa hạt tư tưởng tựa như ô tô là sản phẩm kết tinh từ thị trường tự do trong địa hạt hàng hoá. Lại một lần nữa, các quá trình phát triển đều bị ảnh hưởng đáng kể, đặc biệt trong thời gian gần đây, bởi sự can thiệp của chính phủ, như vào những nguồn lực cung cấp và những loại tri thức cần đáp ứng. Dù có thế thì vai trò của chính phủ vẫn là thứ yếu. Thực vậy, một trong những điểm nực cười là rất nhiều học giả ủng hộ mạnh mẽ hoạt động kinh tế theo hướng kế hoạch hóa tập trung dù đã nhận thức rất rõ nguy cơ đối với tiến bộ khoa học nếu như bị áp đặt kế hoạch hoá tập trung trong hoạt động khoa học, nguy cơ của việc áp đặt thứ tự ưu tiên từ bên trên thay vì được tự do phát triển dựa trên những phát hiện, mò mẫm của các nhà khoa học riêng rẽ.
Những giá trị, văn hóa, các quy ước của một xã hội, tất cả đều phát triển theo cùng một cách thức, thông qua tự do trao đổi, hợp tác tự nguyện, là sự tiến hoá của các cấu trúc phức thông qua quá trình thử sai, chấp nhận và đào thải. Không một ông vua nào có thể ra lệnh: người dân phải thưởng thức loại nhạc nhất định. Ví dụ, loại nhạc mà dân chúng Calcutta thích nghe có thể khác hoàn toàn với loại nhạc người dân Vienna thích nghe. Văn hóa âm nhạc phát triển đa dạng mà không cần một ai “lên kế hoạch”. Thay vào đó, âm nhạc phát triển rộng rãi thông qua quá trình tiến hóa xã hội tương tự như tiến hóa sinh học. Dĩ nhiên, những ông hoàng bà chúa, những người nắm quyền lực tối cao hoặc thậm chí cả các chính quyền do dân bầu đều có thể gây ảnh hưởng tới tiến trình phát triển xã hội bằng cách bảo trợ cho loại nhạc này hay loại nhạc khác, nhạc sĩ này hay nhạc sĩ khác, nhưng hành động này cũng không khác gì mấy so với việc những cá nhân giàu có vẫn thường làm.
Dù là ngôn ngữ, khám phá khoa học, âm nhạc hay hệ thống kinh tế, tất cả các cấu trúc hình thành thông qua trao đổi tự nguyện này đều phát triển theo một cách riêng, và có thể hiện diện dưới những hình thái khác nhau trong những hoàn cảnh khác nhau. Sự tự nguyện trao đổi có thể thúc đẩy tính nhất quán ở khía cạnh này nhưng cũng có thể thúc đẩy tính đa dạng ở khía cạnh khác. Nhận ra quá trình này không phải là điều dễ dàng. Chúng ta có thể dễ dàng nắm được những nguyên tắc hoạt động chung nhưng những kết quả chi tiết lại vô cùng khó đoán.
Những ví dụ này thể hiện tính bao quát không chỉ của hoạt động trao đổi tự nguyện mà còn của khái niệm “tính tư lợi”. Trước đó, ý nghĩa của khái niệm này bị hạn chế bởi sự tù túng của nền kinh tế thị trường. “Tư lợi” thể hiện tính ích kỉ, thiển cận, ngụ ý mối quan tâm duy nhất chỉ nằm ở phần thưởng vật chất trước mắt. Kinh tế học đã bị chì chiết gay gắt bởi cáo buộc đưa ra những luận điểm dựa trên giả định không thực tế về “con người kinh tế”, không khác gì máy móc, chỉ biết phản ứng với các kích thích tiền bạc. Đó là một cái nhìn sai lầm nghiêm trọng. Tính tư lợi không phải là sự ích kỷ thiển cận. Ngược lại, nó bao gồm tất cả những điều con người quan tâm, những điều con người coi trọng, những mục tiêu con người theo đuổi. Nhà khoa học luôn tìm tòi để vượt qua giới hạn trong lĩnh vực học thuật của mình, người truyền giáo luôn tìm cách để thuyết phục những người không theo đạo trở thành các con chiên, những nhà bác ái luôn tìm cách an ủi những người gặp cảnh ngộ bất hạnh. Tất cả đều đang theo đuổi mục đích riêng của mình, theo cách nhìn nhận của riêng họ, theo đánh giá dựa trên những thước đo giá trị của riêng họ.
Vai trò cỦa chính QUYỀN
Chính quyền nằm ở đâu trong bức tranh toàn cảnh này? Ở một góc độ nào đó, chính quyền cũng là một dạng hợp tác tự nguyện. Người dân lựa chọn thông qua các cơ quan chính quyền để đạt được một số mục tiêu nào đó, bởi họ tin rằng đó là phương pháp hiệu quả nhất để đạt được mục tiêu.
Ví dụ rõ ràng nhất có thể tìm thấy ở chính quyền địa phương trong điều kiện mọi người dân đều có quyền tự do lựa chọn nơi cư trú. Bạn có thể quyết định sống ở cộng đồng này hay cộng đồng khác một phần dựa trên những loại dịch vụ chính quyền cung cấp. Nếu trong một cộng đồng, những hoạt động bạn phản đối hoặc những hoạt động bạn không muốn trả phí nhiều hơn những hoạt động bạn ủng hộ và sẵn sàng chi trả, bạn có thể bỏ phiếu bằng “đôi chân” của mình bằng cách chuyển đi nơi khác. Cạnh tranh luôn tồn tại. Sự cạnh tranh ấy, tuy hạn chế nhưng là có thực, chừng nào người dân có lựa chọn thay thế.
Nhưng chính quyền là cái gì đó lớn hơn nhiều. Đây là một cơ quan có quyền lực tuyệt đối trong việc sử dụng vũ lực hoặc sự đe dọa dùng vũ lực. Quyền lực này cho phép một nhóm người có quyền hợp pháp áp đặt giới hạn bằng vũ lực lên những người khác. Qua thời gian, vai trò của chính quyền thay đổi chóng mặt và ngày càng đa dạng. Hầu hết phần còn lại của cuốn sách xem xét câu hỏi: vai trò của chính quyền Mỹ đã thay đổi như thế nào trong những thập kỉ gần đây và những hành động của chính quyền đã gây ra những ảnh hưởng gì.
Ở khúc dạo đầu này, chúng tôi muốn xem xét một câu hỏi hoàn tàn khác. Trong mội xã hội nơi người dân mong muốn được hưởng quyền tự do lựa chọn tối đa dù trên tư cách cá nhân, gia đình, thành viên của những nhóm tình nguyện hay công dân một nước, chính quyền nên được giao phó cho vai trò nào?
Dù câu hỏi này đã được Adam Smith nêu ra từ hai trăm năm về trước, tìm ra câu trả lời không phải là điều dễ dàng:
Bởi vậy, tất cả các hệ thống, dù là được ưa thích hay bị ép buộc, vẫn sẽ hoàn toàn bị đào thải; hệ thống tự do thuần thiết tự nhiên, thứ hệ thống rõ ràng và đơn giản, tất yếu tự hình thành. Miễn là không vi phạm pháp luật, mọi công dân đều được tự do theo đuổi mong muốn theo cách riêng của mình, để đem cả kỹ năng và vốn liếng của mình vào cuộc đua tranh với những người khác và với trật tự của xã hội. Chính quyền cần rút lui hoàn toàn khỏi những nhiệm vụ mà trong quá trình thực thi, họ có thể gặp đầy rẫy những cám dỗ lừa gạt; tránh thực hiện những công việc mà không một trí tuệ nào có thể phù hợp; và rút lui khỏi nhiệm vụ giám sát hoạt động làm ăn của khu vực tư nhân, cũng như định hướng khu vực này thực hiện những công việc được cho là phù hợp nhất với lợi ích của xã hội. Trong hệ thống tự do thuần khiết tự nhiên, chính quyền chỉ đảm nhiệm ba nhiệm vụ, đấy là ba nhiệm vụ vô cùng quan trọng nhưng lại vô cùng đơn giản và dễ hiểu đối với mọi người. Thứ nhất là nhiệm vụ bảo vệ xã hội khỏi bạo lực và sự xâm lăng của những xã hội độc lập khác; thứ hai là nhiệm vụ bảo vệ tốt nhất có thể mọi thành viên khỏi sự bất công và áp bức của những thành viên khác trong xã hội, tức là nhiệm vụ thực thi công lý chuẩn xác; và thứ ba là nhiệm vụ thiết lập và duy tu những công trình công cộng và một số định chế công ích nhất định, những thứ mà một cá nhân hay một nhóm nhỏ các cá nhân không bao giờ mong muốn xây dựng hoặc duy tu bảo dưỡng bởi vì cá nhân hoặc nhóm nhỏ các cá nhân thấy lợi nhuận từ những công trình hoặc định chế đó không đủ để bù đắp chi phí, dù là chúng thường sẽ mang lại lợi ích lớn hơn nhiều cho xã hội.3
Hai nhiệm vụ đầu tiên rất rõ ràng: chính quyền có nghĩa vụ bảo vệ công dân của mình khỏi những hành động cưỡng bức bất kể đến từ bên ngoài hay bởi những công dân trong nước. Nếu không có sự bảo vệ này, quyền tự do lựa chọn của chúng ta sẽ mất đi. Ví dụ, một tên cướp giơ súng và bắt tôi lựa chọn: “đưa tiền ra hay mất mạng”; dù tên cướp đã cho tôi quyền lựa chọn, không ai gọi đó là tự do lựa chọn hay trao đổi như tự nguyện.
Dĩ nhiên, xuyên suốt cuốn sách chúng ta có thể thấy rằng, việc chỉ ra mục tiêu một thiết chế, cụ thể là cơ quan chính phủ, “phải” đảm nhiệm là một chuyện; điều này hoàn toàn khác so với những mục tiêu mà định chế đó phục vụ trên thực tế. Ý định của người thành lập định chế và của người điều hành định chế thường vô cùng khác biệt. Tương tự, kết quả đạt được thường cũng khác biệt so với mục tiêu đề ra trước đó.
Lực lượng quân đội và lực lượng cảnh sát chịu trách nhiệm ngăn chặn sự cưỡng bức từ các thế lực bên trong và bên ngoài. Không phải lúc nào họ cũng thực hiện nhiệm vụ thành công. Đôi khi họ lại sử dụng quyền lực của mình vào những mục đích khác. Vấn đề chính trong việc xây dựng và bảo vệ xã hội tự do nằm ở câu hỏi làm sao đảm bảo rằng: quyền cưỡng chế được giao cho chính quyền chỉ được giới hạn sử dụng cho mục đích bảo vệ tự do công dân và phải được giữ gìn để không trở thành mối đe dọa cho chính sự tự do ấy. Những nhà lập quốc phải vật lộn với vấn đề này bằng cách lập ra Hiến pháp. Tuy nhiên, chúng ta thường không để ý.
Nhiệm vụ thứ hai Adam Smith chỉ ra vượt ra ngoài chức năng hạn hẹp của cảnh sát trong việc bảo vệ người dân khỏi những xung đột thể chất. Nhiệm vụ này bao gồm “việc thực thi công lý chuẩn xác”. Hoạt động trao đổi tự nguyện hết sức phức tạp và diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định nên không tránh khỏi sự nhập nhằng. Không tồn tại một cuốn cẩm nang chứa dựng đầy đủ các tính huống có thể phát sinh, cho phép chúng ta mô tả chính xác trách nhiệm của từng bên liên quan trong từng hoạt động. Do đó, cần phải có một phương thức nào đó để giải quyết tranh chấp. Có những biện pháp giải quyết tranh chấp hoàn toàn tự nguyện không cần đến sự can thiệp của chính quyền. Ví dụ, hầu hết các bất đồng liên quan đến hợp đồng thương mại tại Mỹ đều được phân xử bởi trọng tài thương mại (cơ quan tài phán tư) được lựa chọn trước đó. Để đáp ứng nhu cầu giải quyết tranh chấp, một loạt hệ thống tài phán tư mọc lên. Thế nhưng hệ thống tòa án của chính quyền sẽ luôn là giải pháp cuối cùng.
Ngoài ra, chính quyền còn có trách nhiệm hỗ trợ thúc đẩy các hoạt động trao đổi tự nguyện bằng cách phổ biến những quy tắc chung - những quy tắc tham gia trò chơi kinh tế và xã hội áp dụng cho mọi công dân. Điều này được thể hiện rõ ràng ở việc cắt nghĩa cụm từ: ‘tài sản tư’. Ví dụ, tôi sở hữu một ngôi nhà. Nếu phi cơ riêng của bạn bay cao 10 feet (3 mét) phía trên nóc nhà tôi thì bạn có đang “xâm phạm” tài sản riêng của tôi không? Một nghìn feet (300 mét) thì sao? Ba mươi nghìn feet (9000 mét) thì sao? Không có ranh giới “tự nhiên” chỉ ra quyền sở hữu tư của tôi kết thúc ở đâu và của bạn bắt đầu từ đâu. Thay vào đó, xã hội thừa nhận quyền tư hữu chủ yếu thông qua sự phát triển của hệ thống Thông luật, dù rằng pháp luật (do chính quyền ban hành) ngày càng đóng vai trò quan trọng.
Trong ba nhiệm vụ Adam Smith nhắc tới, nhiệm vụ thứ ba nảy sinh nhiều vấn đề rắc rối nhất. Bản thân ông cũng cho rằng phạm vi áp dụng nhiệm vụ này khá hạn hẹp. Tuy nhiên, nó đã và đang được viện dẫn để biện minh cho rất nhiều hoạt động của chính quyền. Thông thường, chúng ta nhận thấy nhiệm vụ thứ ba chính quyền đảm nhận là một nhiệm vụ hợp lý nhằm bảo vệ và phát triển xã hội tự do. Thế nhưng, nhiệm vụ này cũng có thể được cắt nghĩa theo hướng khác nhằm bào chữa cho sự mở rộng không giới hạn quyền lực của chính quyền.
Tại sao lại nói chính quyền đảm nhận nhiệm vụ thứ ba là hợp lý? Câu trả lời nằm ở chi phí sản xuất một số sản phẩm và dịch vụ qua trao đổi tự nguyện. Lấy một ví dụ đơn giản của Adam Smith khi miêu tả nhiệm vụ thứ ba: các bên tư nhân hoàn toàn có khả năng xây dựng đường phố, đường cao tốc dựa trên trao đổi tự nguyện. Chi phí xây dựng sẽ được thu hồi bằng cách thu lệ phí cầu đường. Tuy nhiên chi phí cho công việc thu lệ phí cầu đường thường cao hơn rất nhiều so với chi phí xây dựng và duy trì đường cao tốc. Do đó, đây chính là một “công trình công cộng” mà “một cá nhân … không bao giờ mong muốn xây dựng hoặc duy tu bảo dưỡng” dù là nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với “cộng đồng”.
Lấy một ví dụ khác liên quan tới ảnh hưởng của “bên thứ ba”, những người không trực tiếp tham gia vào một trao đổi tự nguyện – đó chính là ví dụ “thiệt hại khói đen” kinh điển. Dù không cố ý, lò sưởi nhà bạn nhả khói đen làm bẩn cổ áo của bên thứ ba là những người đi ngang qua. Có thể những người này sẵn sàng để bạn đền bù thiệt hại với một giá nhất định. Thế nhưng, bạn không thể tìm ra tất cả những người bạn đã làm bẩn cổ áo để đền bù hoặc họ cũng không thể tìm ra ai đã làm bẩn cổ áo để yêu cầu đền bù.
Hành động của bạn cũng có thể ảnh hưởng tích cực đến bên thứ ba. Bạn trang trí cảnh quan căn nhà của mình vô cùng đẹp đẽ, tất cả những người đi qua đều thích thú ngắm nhìn. Mặc dù họ có thể sẵn sàng trả thứ gì đó cho niềm vui này, nhưng trên thực tế, bạn không thể bắt họ trả tiền chỉ vì ngắm hoa nhà bạn.
Nói theo thuật ngữ khoa học, đây là “thất bại của thị trường” gây ra bởi “hiệu ứng ngoại biên” hay còn gọi là hiệu ứng “lân cận”. Hiệu ứng này dùng để chỉ những ảnh hưởng quá khó để xác định đền bù hoặc trả phí cho bên ảnh hưởng. Từ đó, những người này trở thành bên thứ ba bất đắc dĩ tham gia một trao đổi.
Hầu hết, tất cả những thứ chúng ta làm, dù nhỏ bé hay xa xôi đến đâu, đều gây ra hiệu ứng bên thứ ba. Do đó, nhiệm vụ thứ ba Adam Smith nêu ra, thoạt đầu, gần như biện minh cho mọi biện pháp của chính quyền. Nhưng đó chỉ là ngụy biện. Các biện pháp của chính quyền cũng tạo ra hiệu ứng bên thứ ba. “Thất bại của chính quyền” cũng giống như “thất bại của thị trường”; cả hai đều bắt nguồn từ “hiệu ứng lân cận” hay “hiệu ứng ngoại biên”. Nếu hiệu ứng này đóng vai trò quan trọng trong giao dịch thị trường, nó cũng sẽ đóng vai trò quan trọng trong hoạt động thực thi chính sách của chính quyền, tức những hoạt động thực thi nhằm khắc phục “thất bại thị trường”. Trong hoạt động tư nhân, khó khăn lớn nhất trong việc giải quyết hiệu ứng lân cận là do chúng ta không thể xác định chi phí cũng như lợi ích ngoại biên. Khi chúng ta xác định được ai hưởng lợi, ai chịu thiệt hại, cũng như mức độ hưởng lợi và thiệt hại, giao dịch không tự nguyện có thể được thay đổi bằng giao dịch tự nguyện; hoặc chí ít có thể yêu cầu bồi thường cho cá nhân chịu ảnh hưởng. Nếu bạn không cẩn thận đâm xe vào người khác, bạn hoàn toàn có thể thực hiện bồi thường thiệt hại dù đây là trao đổi không tự nguyện. Nếu có thể xác định cổ áo của ai bị dây bẩn, bạn có thể bồi thường những người bị ảnh hưởng, hoặc họ có thể trả bạn để bạn để nhả ít khói hơn.
Không chỉ có khu vực tư, khu vực công (mà cụ thể là chính quyền) cũng gặp khó khăn trong việc xác định thiệt hơn trong hiệu ứng lân cận. Thậm chí, can thiệp của chính quyền có thể làm cho tình hình tồi tệ hơn, gây ra thiệt hại cho những bên không liên quan hoặc đem lại lợi ích cho những kẻ ngoài cuộc may mắn. Để có ngân sách hoạt động, nhà nước phải thu thuế; điều này ảnh hưởng đến hoạt động làm ăn của người đóng thuế - tức tạo ra hiệu ứng bên thứ ba. Thêm vào đó, sự gia tăng quyền lực của chính quyền, dù với mục đích gì, cũng sẽ gia tăng nguy cơ chính quyền trở thành phương tiện gia tăng lợi ích cho một vài cá nhân, thay vì phục vụ đại đa số đông dân chúng. Mọi biện pháp của chính quyền, thực chất, đều đang vác trên thân mình một ống khói ở lưng.
Các cơ chế hợp tác tự nguyện mang đến lợi ích cho bên thứ ba ở mức độ lớn hơn rất nhiều so với thoạt nhìn ban đầu. Ví dụ, khi típ nhân viên phục vụ nhà hàng, một tập tục xã hội, bạn đã giúp những khách hàng tương lai (mà bạn không hề quen biết) được hưởng dịch vụ tốt hơn; đồng thời, bạn cũng được phục vụ chu đáo nhờ những khách hàng trả típ trước đó mà bạn cũng không hề hay biết. Tuy nhiên, ảnh hưởng bên thứ ba từ các hành động của khối tư nhân cũng là lý do quan trọng cho việc biện minh cho sự can thiệp của chính quyền. Bài học rút ra từ việc hiểu sai nhiệm vụ thứ ba của Smith không phải là liệu sự can thiệp của chính quyền có cơ sở biện minh hay không, mà là ở chỗ nó đẩy trách nhiệm chứng minh cho những người phản đối sự can thiệp. Chúng ta cần mở rộng quy trình đánh giá kĩ lưỡng những lợi ích và thiệt hại trong từng can thiệp của chính quyền; đồng thời, yêu cầu biện pháp can thiệp phải đạt được lợi ích rõ ràng so với thiệt hại mà nó gây ra trước khi chấp nhận bất kỳ triển khai nào trên thực tế. Việc đánh giá chi phí-lợi ích này cần phải tính đến cả những khó khăn trong xác định những thiệt hại tiềm ẩn của chính sách can thiệp cũng như những nhân tố khác. Kinh nghiệm cho thấy, một khi một chính sách được thực thi, hiếm khi nó bị dừng lại. Mặc dù không đạt được các mục tiêu như mong đợi, chính sách này vẫn có xu hướng mở rộng, được cấp ngân sách lớn hơn chứ hiếm khi bị thu hẹp và bãi bỏ.
Dù không được đề cập trực tiếp nhưng chúng ta vẫn thấy thấp thoáng nhiệm vụ thứ tư của chính quyền xuất hiện trong tác phẩm của Adam Smith, đấy là trách nhiệm bảo vệ những thành viên của cộng đồng “không thể tự chịu trách nhiệm”. Giống như nhiệm vụ thứ ba Adam Smith đã nêu ra, nhiệm vụ này cũng dễ bị hiểu sai. Nhưng đấy là điều khó có thể tránh khỏi.
Tự do là một mục tiêu chỉ dành cho những cá nhân có thể tự chịu trách nhiệm. Chúng tôi không tin sự tự do có thể dành cho người mất trí và trẻ em. Chúng ta phải vạch rõ ranh giới giữa những cá nhân có thể tự chịu trách nhiệm và những cá nhân không thể tự chịu trách nhiệm; bởi nếu không, mục tiêu tự do sẽ trở nên mơ hồ và khó lòng đạt được. Chúng ta không thể thằng thừng loại bỏ áp dụng chủ nghĩa gia trưởng đối với những cá nhân không thể tự chịu trách nhiệm.
Đối với trẻ em, chúng ta giao trách nhiệm chăm sóc cho cha mẹ. Gia đình, chứ không phải là cá nhân đã, đang và sẽ vẫn là nền tảng cơ bản của xã hội mặc dù nền tảng đó đã suy yếu đi nhiều – một trong những hậu quả của sự phát triển chế độ chính quyền gia trưởng. Tuy thế, việc giao phó trách nhiệm chăm sóc con cái cho cha mẹ là vấn đề tính toán hơn thiệt hơn là vấn đề nguyên tắc. Chúng ta tin rằng, hơn ai hết, cha mẹ là những người quan tâm, chăm sóc, bảo vệ và đảm bảo sự phát triển của con em mình, để các em trở thành những cá nhân có thể tự chịu trách nhiệm. Tuy nhiên, chúng ta cần cảnh giác với quyền hạn của cha mẹ, họ không thể làm bất kỳ điều gì họ muốn đối với con trẻ như đánh đập, sát hại hoặc bán con làm nô lệ. Trẻ em, ngay từ khi phôi thai, đã là những cá nhân độc lập. Chúng có quyền của riêng mình chứ không chỉ là những món đồ chơi trong tay cha mẹ.
Ba nhiệm vụ của chính quyền mà Adam Smith nêu ra cũng như nhiệm vụ thứ tư của chính quyền mà chúng ta chỉ ra là những nhiệm vụ “vô cùng quan trọng”; tuy nhiên, chúng lại “vô cùng phức tạp và khó hiểu dựa trên lý lẽ thông thường (common understandings)”. Mặc dù chúng ta không thể xác định liệu một chính sách can thiệp của chính quyền đề xuất là đáng muốn hay không đáng muốn một cách máy móc theo các phân loại nhiệm vụ nêu trên, nhưng hệ thống phân loại nhiệm vụ này có thể cho ta những nguyên tắc để tạo ra một bảng cân đối ưu nhược điểm của từng can thiệp. Dù diễn giải theo một cách dễ dãi nhất, hệ thống nhiệm vụ này vẫn có thể loại bỏ rất nhiều các can thiệp hiện nay của chính quyền – tất cả “những hệ thống dù là được ưa thích hay bị ép buộc” mà Adam Smith chống lại, đã lần lượt bị thủ tiêu trong quá khứ nhưng giờ đây lại tái xuất dưới các hình dạng thuế quan, áp đặt mức giá và mức tiền công theo quyết định của chính quyền, hạn chế tham gia rất nhiều nghề nghiệp và vô số những biến thể vượt ra ngoài “những hệ thống tự do thuần khiết tự nhiên”. (Rất nhiều những sự can thiệp nêu trên sẽ được thảo luận ở những chương sau).
GIỚI HẠN QUYỀN LỰC CHÍNH QUYỀN TRONG THỰC TIỄN
Trong thế giới ngày nay, các chính phủ lớn nảy nở ở khắp mọi nơi. Chúng ta tự hỏi liệu có tồn tại những ví dụ đương đại về những xã hội chủ yếu dựa vào trao đổi tự nguyện thông qua thị trường để tổ chức các hoạt động kinh tế của mình, ở đó quyền lực của chính quyền được giới hạn vào việc thực hiện bốn nhiệm vụ cơ bản nêu trên hay không?
Ví dụ điển hình nhất có lẽ là Hồng Kông – một chấm đất nhỏ bên cạnh Trung Quốc Đại lục với diện tích chưa đầy 400 dặm vuông và dân số gần 4,5 triệu người. Mật độ dân số ở đây cao đến không tưởng - gấp 14 lần mật độ dân số Nhật Bản và 185 lần mật độ dân số Hoa Kỳ. Thế nhưng, đây là một trong những quốc gia có những mức sống cao nhất Châu Á – chỉ đứng sau Nhật Bản và (có lẽ) Singapore.
Hồng Kông không có thuế quan và các loại giới hạn khác trong giao thương quốc tế (ngoại trừ một vài giới hạn “tự nguyện” tuân thủ do Mỹ và một số nước lớn khác đặt ra). Nước này cũng không có định hướng kinh tế từ chính quyền, không quy định mức lương tối thiểu, không có các biện áp ổn định giá cả. Người dân được tự do mua bán, tự do đầu tư theo cách họ muốn, thuê những người họ muốn thuê và làm việc cho những người họ muốn làm cùng.
Chính quyền đóng vai trò quan trọng, giới hạn trong bốn nhiệm vụ được giải thích theo nghĩa hẹp. Đó là, chính quyền ấy thực thi pháp luật và duy trì trật tự; cung cấp cách thức hình thành quy tắc ứng xử, giải quyết tranh chấp, điều phối giao thông liên lạc, và giám sát việc in ấn tiền tệ. Chính quyền ấy cũng đã cung cấp nhà thuê giá rẻ cho người dân tị nạn đến từ Trung Quốc. Mặc dù chi tiêu công tăng lên cùng với sự phát triển của nền kinh tế, mức chi tiêu này vẫn nằm trong mức thấp nhất trên thế giới và chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong thu nhập quốc dân. Kết quả là, thuế thấp cho phép duy trì động lực phát triển. Những doanh nhân có thể tận hưởng lợi ích thành công nhưng cũng phải chấp nhận chi phí thất bại.
Thật mỉa mai khi Hồng Kông, một vùng thuộc địa của Vương quốc Anh lại trở thành một mô hình hiện đại của thị trường tự do và chính quyền giới hạn quyền lực. Thay vì áp đặt y nguyên chính sách phúc lợi xã hội của mẫu quốc, các nhà chức trách Anh quốc cho phép Hồng Kông linh hoạt áp dụng các chính này và nhờ đó, tạo nên một Hồng Kông phồn thịnh.
Mặc dù Hồng Kông là một ví dụ đương đại tuyệt vời, nhưng chắc chắn đó không phải là ví dụ tiêu biểu nhất về sự giới hạn quyền lực của chính quyền và thị trường tự do trong thực tiễn. Chúng ta phải quay về thế kỉ thứ mười chín để thấy Nhật Bản trong ba mươi năm đầu sau cuộc canh tân của Minh Trị Thiên Hoàng. Trường hợp này sẽ được đề cập chi tiết trong Chương 2.
Hai ví dụ khác là Anh Quốc và Hoa Kỳ. Cuốn “Nguồn gốc của cải các quốc gia” của Adam Smith là một trong những cú đánh tiên phong nhằm kết thúc những giới hạn mà chính quyền đã áp đặt lên hoạt động công nghiệp và thương nghiệp. Bảy mươi năm sau, năm 1846, chiến thắng cuối cùng đã đến với sự bãi bỏ “bộ Luật Ngũ cốc” (Corn Laws) – bộ luật đặt ra thuế quan và những giới hạn khác trong việc nhập khẩu lúa mì và các loại ngũ cốc khác gọi chung là “ngũ cốc”. Sự bãi bỏ này đã dẫn đến việc tự do thương mại toàn diện kéo dài đến ba phần tư thế kỷ cho đến khi Chiến tranh Thế giới thứ nhất nổ ra; chiến thắng này cũng đã hoàn tất thời kỳ chuyển đổi bắt đầu hàng thế kỷ trước đó để đưa đến thành quả chính quyền bị hạn chế quyền lực cao độ, giúp cho mỗi công dân Anh quốc, theo như trích dẫn lời Adam Smith trước đó “đều được tự do theo đuổi mong muốn theo cách riêng của mình, để đem cả kỹ năng và vốn liếng của mình vào cuộc đua tranh với những người khác và với trật tự của xã hội.”
Kinh tế phát triển vô cung nhanh chóng. Chất lượng cuộc sống của những công dân bình thường đã được nâng cao đáng kể - tất cả khiến cho bộ mặt của những khu phố ổ chuột và nghèo đói trở nên dễ thấy vô cùng dưới ngòi bút của Dickens và những tiểu thuyết gia đương thời khác. Dân số tăng lên cùng với chất lượng cuộc sống. Nước Anh lớn mạnh, mở rộng quyền lực và ảnh hưởng tới khắp nơi trên thế giới. Tất cả những điều này xảy ra khi chi tiêu công chỉ chiếm một phần nhỏ trong thu nhập quốc dân – từ xấp xỉ một phần tư thu nhập quốc dân vào đầu thế kỉ thứ mười chín đến khoảng một phần mười thu nhập quốc dân vào lễ kỉ niệm 60 năm đăng quang của Nữ hoàng Victoria năm 1897, thời điểm nước Anh đang ở đỉnh cao của ánh hào quang và quyền lực.
Nước Mỹ cũng là một ví dụ nổi bật khác. Trong tập “Report on Manufactures” [Báo cáo hoạt động sản xuất], Alexander Hamilton đã biện minh rằng thuế quan là cần thiết. Ông nỗ lực bác bỏ luật điểm của Adam Smith về tự do thương mại trong vô vọng. Tuy nhiên, các biện pháp thuế quan là rất khiêm tốn nếu xét theo tiêu chuẩn hiện nay, và ở thời điểm đó cũng có rất ít quốc gia thực hiện các chính sách hạn chế đối với tự do thương mại nội địa và nước ngoài. Cho mãi đến sau Chiến tranh Thế giới thứ nhất, việc di cư vẫn hoàn toàn được mở cửa tự do (cho dù vẫn có những hạn chế di cư áp dụng đối với những người dân đến từ phương Đông). Như trong câu khắc trên tượng Nữ thần Tự do:
“Hãy trao hết những gian nan,
Những gì tội nghiệp đang mang của người.
Tự do khao khát trong đời
Người thôi khốn khổ nơi trời biển đây.
Gửi đi hết những thứ này
Người không mái ấm, đến đây náu mình
Ngọn đèn toả sáng lung linh
Cửa trời rực ánh bình minh chiếu vàng![2]
Hàng triệu người đã di cư đến nước Mỹ và dần thích ứng. Họ thành công rực rỡ bởi họ được phép làm theo cách của mình.
Người ta thường lan truyền những lời đồn thổi, mô tả nước Mỹ thế kỉ mười chín như là kỉ nguyên của những kẻ cướp đội lốt quý tộc, của chủ nghĩa cá nhân không kiềm chế. Những nhà tư bản độc quyền vô tâm bóc lột người nghèo, cổ súy di cư nhưng lại lừa gạt không thương tiếc. Phố Wall được khắc họa như một con phố nắm quyền chỉ huy bóc lột tới xương tủy cả những người nông dân rắn rỏi nhất miền Trung Tây, những người đã sống sót vượt qua cơn khủng hoảng và nghèo đói bủa vây lấy họ.
Thực tế lại vô cùng khác biệt. Dòng người di cư tiếp tục lũ lượt đến. Có thể những người đầu tiên di cư đã bị lừa nhưng không thể khẳng định rằng hàng triệu người ùn ùn kéo đến nước Mỹ từ thập kỉ này qua thập kỉ khác để bị bóc lột. Họ đến đây mang chung niềm hy vọng của những người di cư trước đó. Những con phố ở New York không được dát vàng nhưng bằng cách làm việc chăm chỉ, tiết kiệm và dám nghĩ dám làm, tất cả sẽ mang lại những phần thưởng mà có nằm mơ cũng không thể đạt được ở Thế giới Cũ. Những người mới đến trải khắp từ Đông sang Tây. Bất cứ nơi nào họ đến, những thành phố mọc lên, chưa bao giờ đất đai canh tác lại được mở rộng đến thế. Đất nước càng ngày càng thịnh vượng, năng suất và chính những người di cư đã chia sẻ sự thịnh vượng đó.
Nếu như nông dân bị bóc lột, tại sao số lượng nông dân lại tăng? Giá nông sản có giảm xuống. Nhưng đó là dấu hiệu của thành công chứ không phải là dấu hiệu của thất bại. Nó phản ánh sự phát triển của máy móc, sự mở rộng đất đai canh tác, những cải tiến trong liên lạc. Tất cả những điều đó đã giúp sản lượng nông sản tăng trưởng vượt bậc. Minh chứng rõ ràng nhất là giá đất nông trang dần dần tăng lên. Hầu như không có dấu hiệu nào cho thấy canh tác là một ngành công nghiệp đình trệ!
Cái giá của sự vô tâm được thể hiện trong một bài phát biểu của William H. Vanderbilt, ông trùm xe lửa, trong một cuộc trả lời phỏng vấn: “Công chúng thật đáng nguyền rủa!”. Câu nói này đã bị hiểu sai bởi những hoạt động từ thiện của nước Mỹ ở thế kỉ mười chín. Vô số những trường trung học và đại học tư mọc lên, các hoạt động truyền giáo nước ngoài bùng nổ, những bệnh viện tư hoạt động không lợi nhuận, những làng trẻ mồ côi và vô số những tổ chức khác mọc lên như nấm. Hầu hết mọi tổ chức từ thiện hay dịch vụ cộng đồng, từ tổ chức Xã hội Ngăn chặn sự Tàn bạo đối với Động vật đến YMCA và YWCA, từ Hiệp hội Quyền lợi của người Da đỏ đến Đội quân Cứu tế, tất cả đều bắt đầu từ giai đoạn ấy. Sự hợp tác tự nguyện trong các tổ chức hoạt động phi lợi nhuận cũng hiệu quả không kém gì so với những tổ chức hoạt đông vì lợi nhuận.
Hoạt động từ thiện gắn liền với sự bùng nổ của các hoạt động văn hóa. Những bảo tàng nghệ thuật, nhà hát oopera, dàn nhạc giao hưởng, bảo tàng, thư viện công cộng mọc lên ở khắp các thành phố lớn và ở các thị trấn lân cận.
Các khoản chi tiêu ngân sách của chính phủ là một trong những thước đo thể hiện vai trò của chính quyền. Loại bỏ các chi tiêu cho các cuộc chiến tranh, chi tiêu ngân sách của chính quyền từ năm 1800 đến 1929 không vượt quá 12 phần trăm trong tổng thu nhập quốc dân. Hai phần ba trong số đó được chi tiêu bởi các cơ quan chính quyền địa phương và tiểu bang, hầu hết là chi cho trường học và đường xá. Cuối năm 1928, chi tiêu của chính quyền liên bang chỉ chiếm 3% tổng thu nhập quốc dân.
Sự thành công của Hoa Kỳ thường được quy cho nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đất đai rộng lớn. Chắc chắn những điều này cũng góp phần vào thành công thế nhưng nếu như những yếu tố này đóng vai trò thiết yếu, điều gì giải thích cho sự thành công của Vương quốc Anh và Nhật Bản ở thế kỉ mười chín và Hồng Kông ở thế kỉ hai mươi?
Mọi người thường cho rằng một chính phủ đơn lẻ, với những chính sách giới hạn sự can thiệp của chính quyền chỉ có thể khả thi ở nước Mỹ thế kỉ mười chín, khi dân cư thưa thớt. Còn ở trong một xã hội công nghiệp đô thị hóa hiện đại, chính quyền sẽ đóng một vai trò rộng lớn hơn và chi phối nhiều hơn. Thế nhưng một giờ ở Hồng Kông sẽ bác bỏ quan điểm ấy.
Xã hội của chúng ta là do chúng ta xây dựng. Chúng ta có quyền định hình các thể chế của chúng ta. Những đặc điểm thể chất và tính cách con người có thể giới hạn lựa chọn của chúng ta, nhưng sẽ không gì có thể ngăn cản được chúng ta nếu chúng ta muốn xây dựng một xã hội chủ yếu áp dụng nguyên lý trao đổi tự nguyện cho cả hoạt động kinh tế và những hoạt động khác. Đó sẽ là một xã hội bảo vệ và thúc đẩy tự do của con người, một xã hội giữ cho chính phủ ở đúng vị trí của nó, là đầy tớ của nhân dân chứ không phải là ông chủ của nhân dân.
[1] Topsy là một nhân vật trong truyện "Uncle Tom's cabin, or Life among the lowly" của Harriet Beecher Stowe. Đó là một nữ nô lệ hoang dã, tự lớn lên và tự học được cách yêu thương, tôn trọng người khác, mà không cần ai khác giáo hoá, định hướng (ND).
[2] Theo bản dịch của Lê Minh Sơn. Nguyên văn:
Give me your tired, your poor,
Your huddled masses yearning to breathe free,
The wretched refuse of your teeming shore.
Send these, the homeless, tempest-tost to me,
I lift my lamp beside the golden door!
Nguyên tác: Free to choose: A personal statement, Milton & Rose Friedman
Bản dịch: Tự do lựa chọn: một bản tuyên ngôn cá nhân, nhóm dịch giả gồm Đinh Tuấn Minh, Chu Diệu Hiền, Nguyễn Minh Huệ, Nguyễn Thùy Liên
