Khảo luận thứ hai về chính quyền - Chương 19: Về sự giải thể của chính quyền
§211. Ai muốn nói lên một cách sáng rõ về sự giải thể của chính quyền, trước tiên cần phải phân biệt giữa sự giải thể của xã hội với sự giải thể của chính quyền. Điều làm nên cộng đồng và đưa người ta ra khỏi tình trạng lỏng lẻo của trạng thái tự nhiên, bước vào một xã hội chính trị, là sự thỏa thuận mà mỗi người đã có với phần còn lại, để hợp thành một cơ thể và hành động với tư cách này, và theo đó mà trở thành một cộng đồng quốc gia riêng biệt. Cách thường gặp và hầu như là duy nhất để sự liên hiệp này bị tan rã là sự xâm nhập của vũ lực ngoại bang nhằm chinh phạt cộng đồng quốc gia này. Trong trường hợp đó (không còn khả năng để duy trì và hậu thuẫn cho chính mình với tư cách một cơ thể toàn vẹn và độc lập), thì cái liên hiệp thuộc về cơ thể chứa đựng nó tất yếu là phải chấm dứt tồn tại, và do vậy mỗi người quay về với trạng thái trước đây, với cái quyền tự do để tự xoay xở và đem lại cho bản thân mình sự an toàn mà anh ta nghĩ là thích hợp, trong một xã hội khác nào đó. Hễ mà một xã hội bị tan rã, thì chắc chắn là chính quyền của xã hội đó cũng không thể tồn tại. Vì thế mà thanh gươm của những kẻ đi chinh phạt thường cắt bỏ chính quyền ngay từ gốc và xé nát xã hội ra thành từng mảnh, tách rời khỏi quần chúng thờ ơ hay phân tán khỏi sự bảo vệ và phụ thuộc vào xã hội, là nơi vốn có trách nhiệm phải bảo vệ cho họ trước bạo lực. Thanh gươm đó cũng hướng dẫn, và cũng cho phép, theo cách thức này nhắm vào việc giải tán chính quyền, để không cần nói gì thêm nữa về điều đó. [Ở] đó không cần nhiều lý lẽ để chứng minh rằng nơi nào xã hội bị tan rã thì chính quyền không thể tiếp tục duy trì, rằng tồn tại là không thể được, như là đối với khung sườn của một ngôi nhà vẫn tiếp tục tồn tại khi mà những vật liệu của nó chỉ còn lại thưa thớt hay tiêu tan do gió lốc, hoặc hỗn độn trong mớ xà bần sau một cơn động đất.
§212. Bên cạnh việc lật đổ từ bên ngoài, chính quyền còn có thể bị giải thể từ bên trong. Trước hết là khi cơ quan lập pháp bị hoán đổi. Xã hội dân sự là một trạng thái hòa bình giữa những người sống trong đó, loại trừ được khỏi trạng thái chiến tranh nhờ vai trò của người phân xử, với những gì họ đưa ra trong việc lập pháp của họ, để kết thúc mọi khác biệt phát sinh giữa bất kỳ ai trong số đó. [Đ]iều này nằm trong thẩm quyền lập pháp mà các thành viên của một cộng đồng quốc gia liên hiệp và kết hợp lại với nhau thành một cơ thể sống gắn kết. Đây là cái linh hồn đem lại hình thể, đời sống, và sự thống nhất cho cộng đồng quốc gia, từ đây mà các cá nhân riêng biệt có sự ảnh hưởng, cảm thông và kết giao lẫn nhau, và vì thế, khi cơ quan lập pháp bị phá vỡ hay giải thể, thì sự tan rã và kết liễu sẽ theo sau đó. Vì thực chất, sự liên hiệp của xã hội cốt yếu ở việc có một ý chí, cơ quan lập pháp, một khi được thiết lập bởi đa số, có sự công bố, và có thể nói, có sự tuân theo ý chí đó. Hiến pháp của cơ quan lập pháp là đạo luật đầu tiên và nền tảng của xã hội, nhờ đó mà điều khoản cho sự tiếp tục của liên hiệp của họ được làm nên, dưới sự chỉ huy của các cá nhân và những ràng buộc của luật pháp được làm nên từ những người được trao thẩm quyền, bằng sự chấp thuận và bổ nhiệm của nhân dân - điều mà nếu không có được, thì không một ai hoặc một số người nào trong số họ có thể có thẩm quyền để làm nên những luật đang ràng buộc những người còn lại. Khi một hay nhiều người nắm lấy quyền làm luật mà nhân dân lại không chỉ định họ làm việc đó, họ làm nên những luật không có thẩm quyền, và nhân dân vì thế mà không bị ràng buộc phải tuân thủ. [T]heo điều này thì có nghĩa là họ lại bước ra khỏi vòng khuất phục, và có thể thiết lập cho chính mình một cơ quan lập pháp mới mà họ cho là tốt nhất, trong sự tự do hoàn toàn để phản kháng lại vũ lực của những người không có thẩm quyền khi những người này áp đặt bất cứ điều gì lên họ. Mỗi người đều tự quyết định theo ý chí của mình khi mà những người - bằng sự uỷ nhiệm của xã hội - có quyền tuyên bố về một ý chí công, thì bị loại trừ khỏi nó, còn những người khác thì chiếm lấy chỗ trong khi lại chẳng có thẩm quyền hay sự uỷ nhiệm nào như thế.
§213. Điều này thường xảy ra trong cộng đồng quốc gia nào mà có những người sử dụng sai quyền lực họ có. [K]hó mà xem xét nó cho đúng và “phải ai tai đó” nếu không biết được hình thức của chính quyền nơi này. Ta hãy giả định rằng cơ quan lập pháp được đặt trong sự đồng quy của ba thể nhân riêng biệt. Một thể nhân đơn, theo cha truyền con nối, có quyền hành pháp bất biến và tối cao, cùng với quyền triệu tập và giải tán hai thể nhân kia vào những thời điểm nhất định. Một nghị hội của những nhà quý tộc cha truyền con nối. Một nghị hội của những người đại diện được nhân dân chọn lựa pro tempore⁹⁶. Một hình thức chính quyền được giả định như vậy⁹⁷, hiển nhiên là:
§214. Thứ nhất, khi thể nhân đơn như vậy, tức là một quân vương, đặt ý chí độc đoán của chính mình vào luật pháp, vốn là ý chí của xã hội, được công bố bởi cơ quan lập pháp, thì cơ quan lập pháp đã bị biến đổi. [V]ì trên thực tế, cơ quan lập pháp, mà các quy định và luật pháp của họ được đưa ra thực thi và đòi hỏi phải được tuân thủ, nhưng khi các luật khác [với ý chí xã hội] được dựng lên, các quy định khác [với ý chí đó] được ngụy tạo và có hiệu lực hơn là cái mà cơ quan lập pháp - được thiết định bởi xã hội - đã ban hành, thì rõ ràng là cơ quan lập pháp đã bị thay đổi. Bất kỳ ai đưa ra những luật mới mà không có thẩm quyền pháp lý được cho phép từ sự bổ nhiệm căn bản của xã hội, hoặc là phá vỡ luật pháp cũ, không công nhận và lật đổ quyền lực mà từ đó chúng được làm nên, thì việc đó là đã dựng lên một cơ quan lập pháp mới.
§215. Thứ hai, khi một quân vương cản trở cơ quan lập pháp tập hợp vào thời gian quy định, hay cản trở nó hoạt động tự do và theo đuổi những mục đích mà vì đó nó được thiết lập, thì cơ quan lập pháp đã bị hoán đổi. [K]hông có một lượng người chính xác, không - và không hề - có hội họp của họ trừ khi họ cũng tự do trong thảo luận và có thời gian nghỉ để hoàn thiện, vì lợi ích của xã hội, dưới bất cứ khía cạnh nào mà cơ quan lập pháp có; khi những điều này bị lấy đi hoặc hoán đổi nhằm tước đoạt của xã hội quyền được hưởng sự thực thi quyền lực của mình, thì cơ quan lập pháp thật sự đã bị hoán đổi. Không phải ở những danh xưng mà tạo nên chính quyền, mà là ở việc sử dụng và thực thi những quyền lực được dự trù đi cùng với nó, vì thế mà người nào lấy đi tự do hay cản trở hoạt động của cơ quan lập pháp vào những kỳ được quy định của nó, thì trên thực tế đã tước bỏ cơ quan lập pháp và đặt một kết thúc cho chính quyền.
§216. Thứ ba, khi, bằng quyền lực độc đoán của quân vương, giới cử tri hay cách thức tuyển cử bị hoán đổi mà không có sự chấp thuận của nhân dân và mâu thuẫn với quyền lợi chung của họ, thì khi đó cơ quan lập pháp cũng đã bị hoán đổi, vì nếu khác đi thay vì là những người mà xã hội đã chọn lựa để trao thẩm quyền, hoặc theo cách khác hơn là cách xã hội đã quy định, thì những gì được chọn đó không phải là cơ quan lập pháp được chính nhân dân bổ nhiệm.
§217. Thứ tư, việc chuyển giao nhân dân, đưa họ vào vòng khuất phục đối với quyền lực ngoại quốc, hoặc từ quân vương hoặc từ cơ quan lập pháp, chắc chắn là một thay đổi đối với cơ quan lập pháp, và vì thế cũng là sự tan rã của chính quyền. Vì mục đích mà người dân khi gia nhập vào xã hội là được bảo toàn từ một xã hội vẹn toàn, tự do và độc lập, là được cai quản bằng luật pháp của một xã hội như thế. [Đ]iều này mất đi bất cứ khi nào họ bị giao nộp cho quyền lực của nước khác.
§218. Lý do, trong một hiến chế như thế này, việc giải thể chính quyền trong những trường hợp đó bị quy về cho quân vương, là hiển nhiên, vì ông có sức mạnh vũ lực, ngân khổ, cùng các quan chức nhà nước để sử dụng, và thường tự thuyết phục mình hay được người khác xu nịnh rằng với tư cách là quan cai trị tối cao, ông không có khả năng kiểm soát. [M]ột mình ông ở vào hoàn cảnh tạo nên những tiến bộ lớn hướng đến những thay đổi như vậy, dưới sự ngụy tạo của thẩm quyền hợp pháp, vốn có trong tay ông, để làm khiếp sợ hay đàn áp những người chống đối như là đối với những kẻ bè phái, kích động và thù địch với chính quyền, trong khi không một bộ phận nào của cơ quan lập pháp hay nhân dân lại tự mình có được khả năng nhắm vào việc hoán đổi cơ quan lập pháp mà lại không có sự nổi loạn nào rõ ràng và nhận thấy được, thường là ở mức đủ để có sự lưu ý đến, là điều mà - khi nó chiếm ưu thế - tạo ra những ảnh hưởng rất ít khác biệt so với sự chinh phạt ngoại bang. Bên cạnh đó, quân vương trong một hình thức chính quyền như vậy có quyền giải thể những thành phần khác của cơ quan lập pháp, và vì thế mà hoàn trả họ về lại là những cá nhân tư riêng, họ không bao giờ có thể đối lập với ông, hoặc không bao giờ không có sự đồng tình của ông mà hoán đổi được cơ quan lập pháp bằng luật pháp; sự chấp thuận của ông nhất thiết phải có để đem lại cho bất kỳ sắc lệnh nào của họ sự phê chuẩn. Thế nhưng ở mức độ mà các thành phần khác của cơ quan lập pháp, bằng cách thức nào đó, góp phần nhắm đến chính quyền để hoặc là thúc đẩy các mưu đồ, hoặc là không cản trở những mưu đồ như thế (tùy thuộc ở họ), thì họ đã sai trái và dự phần vào sự sai trái đó, điều chắc chắn sẽ là tội ác lớn nhất mà người ta có thể phạm phải, giữa người này đối với người khác.
§219. Có thêm một cách nữa khiến một chính quyền như vậy có thể bị tan rã, đó là khi người có quyền hành pháp tối cao sao nhãng và bỏ mặc nhiệm vụ này, đến mức các luật đã có không còn có thể được thực thi. Điều này để mở khả năng cho sự biến đổi đến mức hoàn toàn vô chính phủ, và vì thế làm tan rã chính quyền hết sức hiệu quả. Vì luật không phải được làm ra chỉ để cho chính nó, mà là - với tính thực thi của nó, là để có những ràng buộc trong xã hội, để giữ cho cơ thể chính trị này ở vào vị trí và chức năng đúng đắn của nó. Khi nó ngưng lại hoàn toàn, chính quyền hiển nhiên cũng ngưng lại, và nhân dân trở thành một đám đông hỗn độn, không có trật tự và liên kết. Nơi đâu không còn sự điều hành của công lý nhằm bảo đảm các quyền của con người, mà cũng không còn quyền lực bên trong cộng đồng để định hướng cho vũ lực hay cung ứng nó cho những điều thiết yếu của công chúng, nơi đó chắc chắn chính quyền không còn tồn tại. Nơi nào luật pháp không thể thực thi được, nơi đó hoàn toàn chỉ như là không có luật pháp; và một chính quyền mà không có luật pháp - tôi nghĩ đó là một sự thần bí trong chính trị - là không thể tưởng tượng được đối với năng lực của con người và mâu thuẫn với xã hội loài người.
§220. Trong những trường hợp này và những trường hợp giống như vậy, khi chính quyền bị tan rã, nhân dân hoàn toàn tự do để lo liệu cho chính mình, bằng cách xây dựng một cơ quan lập pháp mới khác với cơ quan cũ, thông qua việc thay đổi con người trong đó hay hình thức của nó, hoặc thay đổi cả hai, khi họ nhận thấy đây mới là cái tốt nhất đem lại an toàn và lợi ích cho họ. Vì xã hội không bao giờ có thể, từ sự sai trái của người khác mà để mất đi cái quyền thiên bẩm và nguyên thủy mà nó có để bảo toàn cho chính mình, là điều chỉ có thể được thực hiện bằng một cơ quan lập pháp ổn định, một sự thực thi ngay thẳng và công bằng các luật mà cơ quan lập pháp đó làm ra. Nhưng tình trạng của con người không quá đáng thương đến mức họ không có khả năng sử dụng phương cách này, cho đến khi đã quá trễ để có thể tìm kiếm bất kỳ phương cách nào khác.
[Tuy nhiên], nói với nhân dân rằng họ có thể tự lo liệu cho mình, bằng việc dựng lên một cơ quan lập pháp mới khi mà với sự đàn áp, thủ đoạn, hay giao nộp nhân dân cho một quyền lực ngoại quốc, cơ quan lập pháp cũ của họ đã không còn nữa; thì cũng chỉ là nói với họ rằng họ có thể trông chờ sự cứu giúp khi đã quá muộn và khi tai ương đã được khắc phục. Điều đó trong thực tế không có gì hơn là trước tiên thì nỗ lực để biến họ thành nô lệ, sau đó chăm lo cho quyền tự do của họ, và khi họ đã mang xiềng xích trên mình thì nói với họ rằng họ có thể hành động như những người tự do. Điều này, nếu đúng như thế, là sự nhạo báng thay vì là cứu giúp. [C]on người không bao giờ được bảo đảm trước sự chuyên chế nếu không có cách thức gì để tránh được, cho đến khi họ nằm trong vòng chi phối của nó đến độ hoàn hảo; và, vì thế, nó không chỉ là cái mà họ có quyền tống khứ, mà còn là cái họ có quyền ngăn chặn.
§221. Vì thế, [ngoài việc cơ quan lập pháp bị hoán đổi,] có một con đường thứ hai để chính quyền bị tan rã; đó là khi cơ quan lập pháp hay quân vương, hoặc cả hai, hành động trái với sự uỷ thác được giao cho họ. Trước tiên [là trường hợp] cơ quan lập pháp hành động chống lại sự uỷ thác đã đặt vào họ khi họ cố gắng xâm đoạt sở hữu của thần dân và làm thành của mình, hoặc một bộ phận nào đó của cộng đồng trở thành những ông chủ hay những người quyết định một cách độc đoán lên cuộc sống, quyền tự do hay vận mệnh của nhân dân.
§222. Lý do mà con người gia nhập vào xã hội là sự bảo toàn đối với sở hữu của họ, và mục đích tại sao họ chọn và trao thẩm quyền cho một cơ quan lập pháp là để nơi này làm ra các luật, định nên các quy tắc, với tư cách những cái bảo vệ và phòng vệ cho sở hữu của mọi thành viên của xã hội. Do không bao giờ được giả định rằng ý chí của xã hội là cái mà cơ quan lập pháp có quyền hủy hoại, khi nó chính là cái mà mỗi người định bảo vệ bằng việc gia nhập vào xã hội, và là cái mà vì nó người dân đã chấp nhận phục tùng trước các nhà lập pháp mà chính họ tạo dựng; nên bất cứ khi nào các nhà lập pháp cố gắng lấy đi hoặc triệt phá sở hữu của người dân, hoặc khiến họ suy yếu và bước vào trạng thái nô lệ trong một quyền lực chuyên chế, thì khi đó chính các nhà lập pháp này tự đặt mình vào trạng thái chiến tranh với nhân dân. [N]hân dân vì thế mà được miễn trừ để không phải tuân thủ thêm gì nữa, và được phép đến với sự lánh nạn chung mà Thượng đế đã dành cho tất cả mọi người, bằng việc chống lại vũ lực và bạo lực. Vì vậy, hễ cơ quan lập pháp mà vượt quá quy tắc nền tảng này của xã hội và, hoặc bởi tham vọng, nỗi khiếp sợ, sự điên rồ, hoặc bởi tham nhũng, mà cố gắng nắm giữ cho chính mình hay đặt vào tay người khác một quyền lực tuyệt đối, đặt nó lên cuộc sống, quyền tự do và điền sản của nhân dân; thì bằng vi phạm này trước sự uỷ thác, họ đã đánh mất quyền lực mà nhân dân đặt vào tay họ, do những mục đích hoàn toàn trái ngược của họ, và quyền lực đó chuyển giao về cho nhân dân, là những người có quyền khôi phục quyền tự do nguyên thủy của mình và, bằng việc thiết lập một cơ quan lập pháp mới (khi họ nghĩ như thế là thích hợp), đem lại cho chính mình sự an toàn và an ninh - mục đích mà vì đó họ đã gia nhập vào xã hội.
[Đ]iều ở đây tôi nói chung về cơ quan lập pháp, cũng đúng với nhà hành pháp tối cao, người có một sự uỷ thác kép đặt vào ông, ở phần ông có nơi cơ quan lập pháp và ở vai trò người hành xử tối cao của luật pháp. [S]ẽ là hành động chống lại cả hai vai trò này khi ông ta khởi sự đưa ý chí độc đoán của riêng mình trở thành luật pháp của xã hội. Ông cũng hành động trái với sự uỷ thác đặt vào ông khi hoặc là sử dụng vũ lực, ngân khố và quan chức của xã hội để mua chuộc các đại biểu [thuộc cơ quan lập pháp] và có được họ cho những mục đích của mình, hoặc là công khai dàn dựng trước đối với cử tri, quy định sự chọn lựa của họ. [B]ằng sự gạ gẫm, đe dọa, hứa hẹn, hoặc bằng những cách khác, ông giành được số cử tri này cho mưu đồ của mình và sử dụng họ vào đó, những người đã hứa trước là sẽ bỏ phiếu cho cái gì, và sẽ ban hành ra cái gì. Vì thế, việc ông quy định đối với các ứng viên lập pháp và cử tri, quy định kiểu mẫu khác cho các thể thức bầu cử, còn là gì khác ngoài việc cắt bỏ chính quyền từ gốc rễ và đầu độc ngay nguồn suối của sự an ninh công?
[Đ]ối với nhân dân, khi dành cho mình sự chọn lựa những người đại diện, với tư cách là lá chắn cho sở hữu của họ, họ sẽ thực hiện điều đó không vì mục đích nào khác ngoài cái họ luôn được lựa chọn một cách tự do, và vì thế mà hành động và cho ý kiến một cách tự do và chọn lọc, với tư cách là sự thiết yếu của cộng đồng quốc gia và lợi ích công - có sự xem xét và bàn thảo thấu đáo - được xét đoán để quy định. Điều này, đối với những người đã trao lá phiếu của họ trước khi nghe những cuộc bàn thảo và cân nhắc lý lẽ từ mọi phía, là không có khả năng để thực hiện. Việc chuẩn bị cho một nghị hội như thế này và cố gắng để đưa những xúi bẩy công khai từ ý chí của riêng mình đến những người đại diện của nhân dân và các nhà làm luật của xã hội, đó chắc chắn là một sự xâm phạm to lớn đối với sự uỷ thác [của nhân dân], và là sự tuyên bố đầy đủ về một mưu đồ lật đổ chính quyền, như một khả năng có thể gặp phải.
Nếu người ta thêm vào những điều đó các phần thưởng và hình phạt - được sử dụng một cách rõ rệt cho cùng mục đích, và tất cả nghệ thuật xuyên tạc luật pháp được dùng đến để nhổ bỏ và tiêu diệt tất cả những gì đứng ngáng đường đối với một mưu đồ như vậy, những gì không tuân theo và chấp thuận sự phản bội đối với các quyền tự do của đất nước họ - nó sẽ cho qua những nghi ngờ về điều đang thực hiện. Quyền lực nào nhân dân phải có trong xã hội, ai là người đi đến mức sử dụng quyền lực trái với sự uỷ thác đã gắn kết từ lúc ban đầu được thiết chế, vốn là những điều dễ dàng để xác định, và người ta không thể không thấy rằng người nào một khi đã nỗ lực để làm điều gì như được nói đến ở đây, thì không thể tiếp tục được uỷ thác.
§223. Có thể nhân dân sẽ bị coi là những người dốt nát và luôn bất mãn, và điều vừa nêu sẽ đặt nền tảng của chính quyền vào một quan niệm không vững chắc và tâm trạng bất định của người dân, là phô bày nền tảng đó ra trước một sự phá hủy chắc chắn có, và không một chính quyền nào có thể tồn tại lâu dài nếu nhân dân có thể dựng lên một cơ quan lập pháp mới bất cứ khi nào họ nắm bắt được vi phạm của cơ quan lập pháp cũ. Với điều này, câu trả lời của tôi hoàn toàn ngược lại. Nhân dân không hề dễ dàng để tống khứ những hình thái cũ, như một số người thường nói. Họ hầu như không có được cái ưu thế để tu chính những sai trái đã được nhận biết trong hệ thống mà họ đã quen thuộc. Và nếu có bất kỳ khiếm khuyết căn nguyên hay phát sinh nào, theo thời gian mà dẫn đến hay từ sự suy đồi mà ra, thì đó không phải là chuyện dễ dàng để thay đổi, ngay cả khi cả thế giới đều thấy được cơ hội cho sự thay đổi đó. Ác cảm thì có trong nhân dân đối với thiết chế cũ nhưng họ lại chậm chạp để thoát khỏi nó, đó là điều có ở nhiều cuộc cách mạng đã được thấy ở vương quốc này, trong những thời đại trước và cả ở thời đại này; nó vẫn kiềm giữ chúng ta trước hay sau khoảng thời gian tĩnh của những nỗ lực không có kết quả, vẫn mang chúng ta quay trở lại với cơ quan lập pháp của quốc vương và của những thượng nghị viên, hạ nghị viên cũ; và bất kỳ khiêu khích nào đã làm để lấy vương miện ra khỏi đầu một số quân vương của chúng ta, cũng chưa bao giờ đưa nhân dân đi xa đến nơi có một phòng tuyến khác.
§224. Nhưng giả thuyết này sẽ bị coi là làm dậy men cho sự nổi loạn thường xuyên. Tôi trả lời rằng: Thứ nhất, nó không có gì hơn so với bất kỳ giả thuyết nào khác, vì khi nhân dân bị khiến cho cùng khổ và nhận thấy họ đang phải phô bày mình ra cho sự ngược đãi của quyền lực độc đoán, phải ngợi ca những người cai quản họ đến mức tối đa có thể được, như đối với những người con của thần Jupiter⁹⁸. [D]ành cho họ sự thần thánh hay thiêng liêng được truyền xuống hay được ban cho thẩm quyền từ trời cao, trao ra cho họ những người hay những gì mà quý vị quý mến, thì cũng cùng [sự cùng khổ và ngược đãi như thế] diễn ra mà thôi. Nói chung, nhân dân bị ngược đãi và bị hành xử trái ngược với quyền của họ, sẽ sẵn sàng, vào bất kỳ dịp nào có thể, giải thoát cho mình khỏi gánh nặng đã đặt lên họ. Họ sẽ ước mong và tìm kiếm một cơ hội như thế, là cái mà trong tiến trình thay đổi, sự yếu kém và rủi ro của các sự vụ nơi con người hiếm khi trì hoãn lâu được để đem lại cho chính nó. Ông ta chắc hẳn là chỉ sống ngắn ngủi trong cái thế giới này, không nhìn thấy những tấm gương về điều đó trong cuộc đời của ông; và ông ta chắc hẳn là đã đọc rất ít, không thể tạo ra tấm gương về điều đó trong tất cả các loại chính quyền có trên thế giới.
§225. Thứ hai, tôi trả lời rằng những cuộc cách mạng như vậy xảy ra không phải từ những lỗi nhỏ trong sự quản lý yếu kém đối với công vụ. Những sai lầm to lớn trong việc cai trị, nhiều luật sai trái và phiền phức, và tất cả những lỗi lầm trong tình trạng khiếm khuyết của con người sẽ được nhân dân chịu đựng mà không có nổi dậy hay ta thán. Nhưng nếu là một chuỗi dài lạm dụng [quyền lực và sự uỷ thác], những quanh co và thủ đoạn, tất cả đều nhắm đến cùng con đường là thực hiện một mưu đồ có thể nhận thấy được đối với nhân dân, và nhân dân không thể không cảm nhận về cái mà họ đang ở bên dưới, nhìn thấy nơi họ đang đi đến, thì không có gì phải ngạc nhiên rằng tự họ rồi sẽ thức tỉnh và nỗ lực để đặt quyền cai trị vào những bàn tay có thể bảo đảm cho họ những mục đích mà vì đó vào lúc ban đầu chính quyền đã được dựng lên. [K]hông có hành động này của nhân dân, các tên tuổi cổ đại và những hình thái bên ngoài đã không thể tốt hơn, đến mức chúng còn nhiều tồi tệ hơn là trạng thái tự nhiên hay một tình trạng vô chính phủ thuần túy. [C]ác phiền phức thì thật sự rất lớn và rất gần, còn phương cách để thoát khỏi chúng thì xa vời hơn và khó khăn hơn.
§226. Thứ ba, tôi trả lời rằng chủ thuyết này, về một quyền lực nơi nhân dân, nhằm đem lại cho họ một sự an toàn mới, từ một cơ quan lập pháp mới - khi các nhà lập pháp cũ đã hành động đi ngược lại sự uỷ thác họ đã trao, bằng việc xâm đoạt đến sở hữu của họ - là sự phòng vệ tốt nhất chống lại sự nổi loạn, và là công cụ khả dĩ nhất cản trở điều này. Vì nổi loạn là một hành động chống đối không phải đối với các cá nhân, mà đối với các thẩm quyền, vốn chỉ có ở các thiết chế và luật pháp của chính quyền, nơi mà hễ ai dùng vũ lực để phá vỡ mọi thứ, dùng vũ lực để biện minh cho sự xâm phạm của mình, thì mới thật sự và thích đáng là những kẻ nổi loạn. [D]o là khi con người, với việc gia nhập vào xã hội và chính quyền dân sự, đã loại bỏ vũ lực và đưa ra các luật nhằm bảo toàn cho sở hữu, cho hòa bình và sự thống nhất giữa họ với nhau, nên những ai một lần nữa lại đề cao vũ lực đối lập với luật pháp, thì đã là rebellare⁹⁹, tức là một lần nữa khơi gợi trạng thái chiến tranh và đích thị là những kẻ nổi loạn, điều mà những người nắm quyền lực (bằng sự ngụy tạo họ có đối với thẩm quyền, sự cám dỗ của vũ lực họ có trong tay và những tâng bốc của kẻ khác về họ) mới có khả năng nhất để làm, nên cách thích đáng nhất để ngăn chặn tai họa, là cho họ - những người sống trong sự cám dỗ lớn nhất có thể rơi vào đó - thấy sự nguy hiểm và sự bất chính của nó.
§227. Trong cả hai trường hợp đã được lưu ý trên đây, khi hoặc là cơ quan lập pháp bị biến đổi, hoặc là các nhà lập pháp hành động trái với mục đích mà vì đó họ đã được chế định, mà với hành động đó họ là những người phạm tội, và là tội nổi loạn. Vì nếu bất kỳ ai dùng vũ lực để tước bỏ cơ quan lập pháp đã được xã hội thiết định, cùng với luật pháp do nơi này làm ra, vốn để theo đuổi sự uỷ thác họ có được, thì người đó đã lấy đi vai trò phân xử mà mọi người đã chấp thuận, để đưa ra những quyết định hòa bình cho tất cả các tranh cãi của họ, và là một rào chắn ngăn trạng thái chiến tranh giữa họ với nhau. Những ai xóa bỏ hay làm biến đổi cơ quan lập pháp, tước đi quyền lực ra quyết định này - vốn không một ai có thể có ngoài sự chỉ định và chấp thuận của nhân dân, thì vì thế mà đang triệt tiêu thẩm quyền mà nhân dân đã tạo nên; và không một ai khác có thể dựng lên và mở đầu một quyền lực mà nhân dân đã không trao thẩm quyền cho nó, [vì nếu như vậy] họ thật sự đã mở màn cho trạng thái chiến tranh, vốn là trạng thái của vũ lực không thẩm quyền. [V]ì như thế, bằng việc xóa bỏ cơ quan lập pháp được nhân dân thiết lập (mà các quyết định của nơi này được nhân dân mặc nhiên thừa nhận và thống nhất, như là những gì thuộc về ý chí của chính mình), họ tháo thắt nút và một lần nữa phô bày nhân dân ra trước trạng thái chiến tranh. Và nếu những người dùng vũ lực để tước bỏ cơ quan lập pháp là những kẻ nổi loạn, thì chính các nhà lập pháp, như đã cho thấy, cũng không thể được xem ít hơn thế nếu những người đó, vốn được dựng lên cho sự bảo hộ và bảo toàn của nhân dân, cùng với các quyền tự do và sở hữu của họ, mà lại dùng vũ lực để xâm lấn và cố gắng lấy đi những điều này, và vì thế tự đặt họ vào trạng thái chiến tranh với những người đã đưa họ lên thành người bảo hộ và giám hộ cho nền hòa bình của nhân dân, thì họ thích đáng - với sự nguy ngập lớn nhất - là những kẻ nổi loạn rebellantes¹⁰⁰.
§228. Nhưng nếu những người nói nó đặt nền tảng cho sự nổi loạn có ý cho rằng chủ thuyết này có thể gây ra những cuộc nội chiến hay “nồi da xáo thịt” khi nói với nhân dân là họ không bị ràng buộc phải tuân phục khi có những nỗ lực phi pháp nhắm vào các quyền tự do và sở hữu của họ, và có thể chống lại những bạo lực phi pháp của các quan cai trị khi những người này xâm đoạt sở hữu của họ trái với sự uỷ thác đã được đặt vào; và rằng, vì vậy, chủ thuyết này không được cho phép trở thành một sự phá hoại đến mức như thế đối với hòa bình của thế giới này; thì họ cũng có thể nói, trên cùng một nền vấn đề, rằng những người lương thiện không thể chống lại những kẻ cướp cạn hay cướp biển, vì điều này có thể gây ra hỗn loạn hoặc một cuộc đổ máu.
[N]ếu có một nguy hại nào tỏ ra giống như những trường hợp này, thì trách nhiệm không đặt ra đối với người phải bảo vệ cho quyền của chính mình, mà đối với người đi xâm đoạt quyền của láng giềng. Nếu những người lương thiện không gây hại gì mà phải lặng lẽ rút khỏi những gì anh ta có, vì mục đích hòa bình, để cho kẻ bạo lực đặt bàn tay vào đó, thì tôi mong muốn rằng cần phải xem xét, xem loại hòa bình nào sẽ có trên thế gian này, khi nó chỉ cốt ở bạo lực và cướp đoạt, và là loại hòa bình được duy trì chỉ vì lợi ích của những tên cướp bóc và những kẻ áp bức. Ai sẽ không nghĩ nó là một nền hòa bình đáng khâm phục giữa người mạnh và kẻ yếu, khi con cừu ngoan ngoãn đưa cổ họng của mình cho con sói hung tợn xé toạc? Hang ổ hung tợn của Polyphemus¹⁰¹ cho chúng ta một tấm gương hoàn hảo về một nền hòa bình và một chính quyền như vậy, khi mà ở đâu đâu Ulysses¹⁰² và bạn bè của anh cũng không có gì để làm ngoài việc im lặng chịu đựng cảnh chính mình bị cắn xé. Và không nghi ngờ gì, Ulysses, một con người thận trọng, đã ca tụng sự tuân phục thụ động và cổ vũ cho sự một quy phục ngoan ngoãn, bằng việc trình bày với các bạn anh về tầm quan trọng của hòa bình đối với loài người, chỉ ra những phiền phức có thể xảy đến nếu họ phản kháng đối với Polyphemus, nay đã đặt quyền lực lên trên họ.
§229. Vậy có phải mục đích của chính quyền là lợi ích của loài người - và là lợi ích cao nhất cho loài người, khi mà nhân dân luôn phải phô bày mình ra trước ý chí vô độ của sự cai trị chuyên chế; hoặc khi mà vào lúc nào đó các nhà cai trị rất có thể sẽ bị chống đối vì đã gia tăng một cách gắt gao việc sử dụng quyền lực của họ, và dùng nó để hủy diệt chứ không phải là bảo toàn sở hữu của nhân dân họ?
§230. Mà cũng không ai có thể nói rằng mối nguy hại có thể xuất hiện từ chủ thuyết này, khi nó thường xuyên làm thỏa mãn một cái đầu bận rộn hay một tâm hồn luôn xáo động, mong muốn về sự hoán chuyển của chính quyền. Sự thật thì những người như thế có thể gây náo loạn, bất cứ khi nào họ muốn, nhưng nó sẽ chỉ là cho sự tiêu tan và diệt vong của chính họ. Vì cho đến khi mối nguy hại phát triển đến mức phổ biến và những mưu đồ xấu xa của các nhà cai trị trở nên rất rõ rệt, hoặc những cố gắng của họ dễ dàng nhận biết đối với một bộ phận lớn nhân dân, thì nhân dân vẫn là những người sẵn sàng để chịu đựng hơn là sẵn sàng để dùng quyền của chính mình bằng việc phản kháng, chứ không phải là hay gây ra náo loạn. Những ví dụ về sự bất chính hay sự đàn áp cụ thể, ở nơi này nơi khác, của một người không may, không lay chuyển được họ. Nhưng nếu nhân dân có sự xác tín, một cách rộng khắp, trên nền của những bằng chứng hiển nhiên, rằng những mưu đồ đó đang được thực hiện, chống lại các quyền tự do của họ, tiến trình và khuynh hướng chung của mọi việc sẽ không thể không khiến họ có những nghi ngờ mạnh mẽ về ý định xấu xa của những người cai quản họ, thì ai là người có trách nhiệm? Còn ai có thể giúp nếu họ, những người có thể tránh nó, lại đưa chính mình vào sự nghi ngờ này? Nhân dân có bị quy trách nhiệm không, nếu họ có ý thức của những sinh vật có lý trí và có thể nghĩ về mọi điều không thể khác đi hơn là những gì họ đã nhận thấy và chịu đựng? Và có phải không hoàn toàn là lỗi của họ, những người đặt các thứ vào một tình thế mà họ đã không nghĩ về chúng như chúng là vậy?
[T]ôi thừa nhận rằng sự tự phụ, tham vọng và những náo loạn mang tính tư riêng của một số người đôi khi gây ra những hỗn loạn lớn trong nhiều cộng đồng quốc gia, và bè cánh là vấn đề chí mạng đối với nhiều đất nước và vương quốc. Nhưng mối nguy hại đó có thường xuyên hơn hay không khi khởi đầu từ trong tính ương bướng của nhân dân, mong muốn loại bỏ thẩm quyền hợp pháp của những người cai trị của họ; hay là từ trong các nhà cai trị xắc láo, nhằm cố gắng để có được một quyền lực độc đoán và thực thi nó trên nhân dân của họ; có hay không việc áp bức hay sự bất tuân phục là điểm đầu tiên để dẫn đến hỗn loạn, tôi để lại cho lịch sử công minh phán xét. Nhưng có điều này tôi chắc chắn, là bất cứ ai, dù là nhà cai trị hay thần dân, mà sử dụng vũ lực để nhằm xâm lấn vào các quyền hoặc của quân vương, hoặc của nhân dân, và đặt nền tảng cho việc lật đổ thể chế và cấu trúc của một chính quyền chính trực, người đó mắc một lỗi của cái tội ác lớn nhất mà tôi cho rằng một người có thể phạm phải. [Đ]ó là lời đáp cho tất cả những mối nguy hại về khả năng đổ máu, cướp bóc và tàn phá mà việc phá vỡ chính quyền thành từng mảng sẽ gây ra cho một đất nước; và người nào làm điều đó xứng đáng bị xem là kẻ thù chung và giống sâu bọ của loài người - xứng đáng bị đối xử đúng như thế.
§231. Thần dân hay người ngoại quốc nào dùng vũ lực nhắm đến sở hữu của người dân, có thể bị phản kháng bằng vũ lực, đó là điều được sự đồng ý bằng cả hai tay của mọi người; nhưng các quan cai trị thực hiện cùng một việc và có thể bị phản kháng như thế, thì sau lại phủ nhận điều này, như thể là họ có những đặc quyền và lợi thế lớn nhất mà luật pháp đem lại, để có một quyền lực phá vỡ chính những luật này, và theo đó chỉ riêng một mình họ được đặt vào vị trí tốt hơn so với những anh em đồng hữu của họ, trong khi mà sự vi phạm của họ vì thế mà lớn hơn, cả ở sự vô ơn trước cái phần lớn hơn họ đã có được từ luật pháp, lẫn ở việc phá vỡ sự uỷ thác đã được đặt vào tay họ từ những người anh em đồng hữu.
§232. Bất kỳ ai sử dụng vũ lực mà không có quyền để làm thế, như mọi người khác trong xã hội, đều là đã thực hiện nó mà không có luật pháp, đều là tự đặt mình vào trạng thái chiến tranh với những người là đối tượng vũ lực của anh ta. [V]à trong trạng thái đó, tất cả những ràng buộc đã có đều bị hủy bỏ, mọi quyền khác cũng chấm dứt, và mỗi người có quyền để tự bảo vệ mình chống lại kẻ gây hấn.
[Đ]iều hết sức rành rành là chính Barclay¹⁰³, người xác tín vĩ đại cho quyền lực và sự thần thánh của các vị vua, cũng buộc phải thừa nhận rằng trong một số trường hợp, tính hợp pháp đứng về phía nhân dân khi chống lại nhà vua của họ; và, cũng trong cùng một chương, mọi chỗ mà ông ngụy tạo đều cho thấy rằng thánh luật giam hãm nhân dân khi mà mọi thứ đều bị cho là có thái độ nổi loạn. Nhờ đó mà hiển nhiên, từ chính chủ thuyết của Barclay, do một số trường hợp người dân có thể phản kháng, nên mọi phản kháng như vậy đối với các quân vương đều không phải là nổi loạn. Ngôn từ của ông là đây: Quod siquis dicat, Ergone populus tyrannicæ crudelitati et furori jugulum semper præbebit? Ergone multitudo civitates suas fame, ferro, et flammâ vastari, seque, conjuges, et liberos fortunæ ludibrio et tyranni libidini exponi, inque omnia vitæ pericula omnesque meias et molestias à rege de luci patientur? Num illis quod omni animantium generi est à naturâ tributum, denegari debet, ut sc. vim vi repellant, seseq; ab injuria tueantur? Huic brevitur responsum sit, Populo universo negari defensionem, quæ juris naturalis est, neque ultionem quæ præter naturam est adversus regem concedi debere. Quapropter si rex non in singulares tantum personas aliquot privatum odium exerceat, sed corpus etiam reipublicæ, cujus ipse caput est - i. e. totum populum, vel insignem aliquam ejus partem immani et intolerandâ sævitia seu tyrannide divexet; populo quidem hoc casu resistendi ac tuendi se ab injuriâ potestas competit; sed tuendi se tantum, non enim in principem invadendi: et restituendæ injuriæ illatæ, non recedendi à debitâ reverentiâ propter acceptam injuriam. Præsentem denique impetum propulsandi non vim præteritam ulciscendi jus habet. Horum enim alterum à naturâ est, ut vitam scilicet corpusque tueamur. Alterum vero contra naturam, ut inferior de superiori supplicium sumat. Quod itaque populus malum, antequam factum sit, impedire potest, ne fiat; id postquam factum est, in regem authorem sceleris vindicare non potest: populus igitur hoc ampliùs quam privatus quispiam habet: quod huic, vel ipsis adversariis judicibus, excepto Buchanano, nullum nisi in patientia remedium superest. Cùm ille si intolerabilis tyrannus est (modicum enim ferre omnino debet) resistere cum reverentia possit. (Barclay, Contra Monarchom. l. iii. c. 8)
Trong Anh ngữ là thế này¹⁰⁴:
§233. Nhưng nếu có ai hỏi: vậy nhân dân có phải luôn đặt mình vào thế để mở cho sự tàn ác và hung bạo của chế độ chuyên chế? Họ nhìn các thành thị của họ bị cướp bóc và cháy ra tro, nhìn vợ và con họ phô bày trước sự dâm dục và cuồng dại của bạo chúa, bản thân họ và gia đình trở nên điều tàn do ông vua của họ tàn phá, với tất cả những cùng cực của sự thiếu thốn và áp bức mà vẫn phải ngồi yên sao? Chỉ một mình con người là phải bị tước bỏ đặc quyền chung của việc chống lại vũ lực bằng vũ lực, điều mà tự nhiên cho phép tất cả các sinh vật khác hoàn toàn tự do, vì sự bảo toàn của chúng trước mối đe dọa thương tổn? Tôi trả lời rằng tự vệ là một phần của luật tự nhiên mà cộng đồng cũng không thể phủ nhận, cho dù điều đó chống lại chính nhà vua; nhưng còn sự trả thù của họ đối với ông thì dứt khoát không một cách thức nào được cho phép, nó không phải là điều thích hợp đối với luật tự nhiên. Vì thế, nếu quốc vương mà cho thấy một sự căm ghét, không chỉ đối với những cá nhân cụ thể, mà chính ông thù địch với cơ quan quyền lực của cộng đồng quốc gia, nơi mà ông cũng là người đứng đầu, và bằng một sự ngược đãi bất khoan dung, cai trị một cách thật sự hung tàn đối với toàn thể nhân dân hoặc một bộ phận đáng kể trong đó; thì trong trường hợp này nhân dân có quyền phản kháng và bảo vệ cho chính mình trước những phương hại do sự cai trị đó gây ra. [N]hưng điều đó phải đi cùng với cảnh báo này, rằng họ chỉ tự bảo vệ mình mà không tấn công vào quân vương của họ. Họ có thể sửa chữa cho những thiệt hại đã phải nhận lấy, nhưng không được có bất kỳ khiêu khích nào vượt qua những giới hạn của sự sùng kính và tôn trọng mà ông được hưởng. Họ có thể đánh bại một nỗ lực hiện tại, nhưng không được trả thù những bạo lực quá khứ, vì điều tự nhiên là họ có quyền bảo vệ cuộc sống và an toàn của họ nhưng người có địa vị thấp mà đi trừng trị người có địa vị cao hơn, là phản tự nhiên. Mối hại được dự mưu đối với họ, nhân dân có thể ngăn chặn trước khi nó được thực hiện, nhưng khi nó đã được thực hiện rồi, họ không được trả thù đối với nhà vua, dù ông là tác giả của hành động độc ác. Vì thế, đây là một đặc quyền của nhân dân nói chung, vượt lên cái mà một cá thể tư riêng có được, là điều mà những người cụ thể được sự cho phép từ chính kẻ thù của họ (chỉ Buchanan¹⁰⁵ bị loại trừ), để không có một phương cách giải quyết nào khác ngoài sự kiên nhẫn; nhưng cơ quan quyền lực của nhân dân có thể phản kháng lại nền cai trị chuyên chế bất khoan dung bằng sự tôn kính, vì ngoài sự ôn hòa ra, họ chỉ còn cách là phải chịu đựng nó.
§234. Như thế thì đã xa đến mức là nhà biện hộ vĩ đại cho quyền lực quân chủ cho phép phản kháng.
§235. Sự thật là ông đã sáp nhập hai giới hạn vào với nhau, không nhằm mục đích nào cả.
Thứ nhất, ông nói rằng phải bằng sự tôn kính.
Thứ hai, phải không có sự báo thù hay trừng trị, và lý do ông đưa ra là vì người có địa vị thấp không thể trừng trị người có địa vị cao hơn. Về điểm thứ nhất, bằng cách nào để phản kháng đối với vũ lực mà không có chuyện đánh đấm lại, hay cách thức ra sao để đánh đấm mà có sự tôn kính, thì sẽ phải cần đến loại kỹ năng nào đó để mới nhận thức được. Ai mà chống lại một cuộc tấn công chỉ bằng một cái khiên, để nhận lấy những cú đánh, hoặc bằng dáng điệu kính cẩn mà không có gươm trên tay, để xoa dịu sự cả quyết và vũ lực của kẻ tấn công, thì sẽ nhanh chóng kết thúc sự phản kháng của mình và sẽ nhận ra rằng kiểu phòng vệ như vậy chỉ phục vụ cho việc đưa chính mình đến sự đối xử còn tồi tệ hơn. Điều này cũng nực cười như cách phản kháng mà Juvenal¹⁰⁶ xem là chiến đấu: Ubi tu pulsas, ego vapulo tantum¹⁰⁷, và người thắng lợi trong cuộc chiến sẽ không tránh khỏi giống như ông mô tả ở đây:
Libertas pauperis hæc est:
Pulsatus rogat, & pugnis concisus, adorat,
Ut liceat paucis cum dentibus inde reverti¹⁰⁸
Đây sẽ luôn chỉ là sự phản kháng tưởng tượng, ở nơi mà người ta không thể đánh trả. Vì thế, người có thể phản kháng phải được cho phép để đánh đấm. Và rồi hãy để cho tác giả của chúng ta, hay bất kỳ ai khác [nghĩ như tác giả], nhận một cú đánh vào đầu hay một vết cắt vào mặt, với thật nhiều sự sùng kính và tôn trọng mà anh ta nghĩ là thích hợp. Ai có khả năng điều hòa giữa những cú đánh và sự tôn kính thì, trong chừng mực mà tôi biết, xứng đáng được trả công bằng một ngọn dùi cui tôn trọng và lịch sự, bất cứ khi nào anh ta gặp phải nó.
Về điểm thứ hai của tác giả, người có địa vị thấp không thể trừng trị người có địa vị cao hơn, thì nói chung đó là sự thật khi đây là người có địa vị cao hơn đối với tác giả. Nhưng việc phản kháng chống lại vũ lực bằng vũ lực, là một trạng thái chiến tranh đạt đến trình độ phe phái, xóa bỏ mọi quan hệ trước đây về sự sùng kính, tôn trọng và phẩm vị; để rồi những lợi thế còn lại là ở việc người chống lại kẻ xâm lấn bất chính sẽ có quyền có phẩm vị cao hơn, khi anh ta thắng thế, để trừng phạt kẻ phạm tội, cả ở việc xâm phạm đến hòa bình lẫn tất cả những điều xấu theo sau nó. Do vậy, ở một nơi khác, Barclay đã tỏ ra mạch lạc hơn chính mình, phủ nhận tính hợp pháp của việc phản kháng lại nhà vua trong bất kỳ trường hợp nào. Nhưng ở đó ông ta cũng ấn định hai trường hợp mà một ông vua có thể tự truất ngôi mình. Câu chữ của ông như sau:
Quid ergo, nulline casus incidere possunt quibus populo sese erigere atque in regem impotentius dominantem arma capere & invadere jure suo suâque authoritate liceat? Nulli certe quamdiu rex manet. Semper enim ex divinis id obstat, Regem honorificato; & qui potestati resistit, Dei ordinationi resistit: non aliàs igitur in eum populo potestas est quam si id committat propter quod ipso jure rex esse desinat. Tunc enim se ipse principatu exuit atque in privatis constituit liber: hoc modo populus & superior efficitur, reverso ad eum sc. jure illo quod ante regem inauguratum in interregno habuit. At sunt paucorum generum commissa ejusmodi quæ hunc effectum pariunt. At ego cum plurima animo perlustrem, duo tantam invenio, duos, inquam, casus quibus rex ipso facto ex rege non regem se facit & omni honore & dignitate regali atque in subditos potestate destituit; quorum etiam meminit Winzerus. Horum unus est, Si regnum disperdat, quemadmodum de Nerone fertur, quod is nempe senatum populumque Romanum, atque adeo urbem ipsam ferro flammaque vastare, ac novas sibi sedes quærere, decrevisset. Et de Caligula, quod palam denunciarit se neque civem neque principem senatui amplius fore, inque animo habuerit interempto utriusque ordinis electissimo quoque Alexandriam commigrare, ac ut populum uno ictu interimeret, unam ei cervicem optavit. Talia cum rex aliquis meditatur & molitur serio, omnem regnandi curam & animum ilico abjicit, ac proinde imperium in subditos amittit, ut dominus servi pro derelicto habiti dominium.
§236. Alter casus est, Si rex in alicujus clientelam se contulit, ac regnum quod liberum à majoribus & populo traditum accepit, alienæ ditioni mancipavit. Nam tunc quamvis forte non eâ mente id agit populo plane ut incommodet: tamen quia quod præcipuum est regiæ dignitatis meisit, ut summus scilicet in regno secundum Deum sit, & solo Deo inferior, atque populum etiam totum ignorantem vel invitum, cujus libertatem sartam & tectam conservare debuit in alterius gentis ditionem & potestatem dedidit, hâc velut quadam regni ab alienatione efficit, ut nec quod ipse in regno imperium habuit retineat, nec in eum cui collatum voluit, juris quicquam transferat; atque ita eo facto liberum jam & suæ potestatis populum relinquit, cujus rei exemplum unum annales Scotici meppeditant. (Barclay, Contra Monarchom. l. iii. c. 16)
Theo Anh ngữ là:
§237. Vậy thì, phải chăng không thể có trường hợp nào xảy ra khi mà nhân dân có thể có quyền - và bằng thẩm quyền của chính họ - tự cứu giúp mình, cầm lấy vũ khí và kịch chiến chống lại nhà vua đang áp bức một cách độc đoán đối với họ? Không có gì cả khi mà ngài vẫn là một quốc vương. Đức vua vạn tuế và ai chống lại quyền lực này là chống lại chỉ dụ của Thượng đế, là lời sấm thiêng mà sẽ không bao giờ cho phép chuyện đó. Vì thế người dân không bao giờ có được quyền lực đặt lên trên ngài, trừ khi ngài có thể tự khiến mình chấm dứt vai trò của một nhà vua, vì khi ngài từ bỏ vương miện và tước phẩm của mình và quay sang tình trạng của một người bình thường, còn nhân dân thì trở thành tự do và có phẩm vị cao - cái quyền lực mà họ có trong giai đoạn chuyển tiếp, trước khi tôn ngài lên làm vua, lại được chuyển giao cho họ. Nhưng có vài thất bại đặt thành vấn đề đối với tình trạng này. Sau khi xem xét từ mọi phía, tôi nhận thấy chỉ hai điều. Hai trường hợp đó, tôi muốn nói, là vì một nhà vua, ipso facto¹⁰⁹, không còn là vua nữa và mất hết mọi quyền lực và vương quyền đối với nhân dân của ông; đây là điều mà Winzerus cũng đã lưu ý đến.
Thứ nhất là, nếu ông theo đuổi việc lật đổ chính quyền, tức là nếu ông có ý định và mưu đồ phá hủy vương quốc và cộng đồng quốc gia - như trường hợp của Nero¹¹⁰ đã được ghi lại, với việc quyết định lập tức giải tán viện nguyên lão và [hội nghị] nhân dân của Rome¹¹¹, hủy diệt thành phố này bằng gươm và lửa, rồi dời đến một nơi khác; và trường hợp của Caligula¹¹², khi ông này tuyên bố công khai rằng mình sẽ không là đầu lĩnh của [hội nghị] nhân dân hay viện nguyên lão, rằng mình đã tính đến chuyện chém những người xứng đáng nhất của cả hai phẩm hàm này, và rồi rút về Alexandria; và ông ta mong ước rằng nhân dân chỉ có một cái cổ để ông có thể dứt điểm tất cả cùng lúc bằng một đòn. Những mưu đồ như thế này, khi một ông vua ẩn giấu trong ý nghĩ của mình và thúc đẩy nó một cách nghiêm túc, thì lập tức ông ta từ bỏ mọi quan tâm và suy tư cho cộng đồng quốc gia, do vậy mà đã đánh mất quyền lực cai quản đối với thần dân của ông, giống như một chủ nô thực hiện sự thống trị của mình lên những nô lệ mà ông đã từ bỏ.
§238. Trường hợp nữa là khi một ông vua tự đánh mất sự độc lập của mình cho người khác, trao thần dân của vương quốc mà cha ông của ông đã để lại và nhân dân đã đặt vào tay ông cho sự thống trị của người khác. Vì dù có lẽ đó không phải là ý định xuất phát từ thành kiến của ông đối với nhân dân, nhưng với việc này ông đã đánh mất phần chính yếu của phẩm giá vương triều, tức cái kế tiếp và trực tiếp đặt Thượng đế tối cao nơi vương quốc của ông; và cũng vì ông đã phản bội và ép buộc nhân dân - những người mà tự do của họ ông phải bảo toàn chu đáo - chấp nhận quyền lực và sự thống trị của một quốc gia khác. Bằng việc này - có thể nói là sự chuyển nhượng vương quốc - chính ông đánh mất quyền lực ông đã có trước đó mà không có việc chuyển bất kỳ quyền tối thiểu nào cho những người ông đã ban tặng nó, và vì vậy hành động như thế đã đặt nhân dân vào vị thế tự do, để mặc cho họ với những sắp xếp của riêng mình. Một ví dụ của điều này có thể tìm thấy trong Biên niên sử của Scotland.
§239. Trong những trường hợp trên, Barclay - người chiến sỹ vĩ đại của nền quân chủ chuyên chế, đã buộc phải cho phép việc một ông vua có thể bị phản kháng và chấm dứt vương vị. Điều này có nghĩa là, nói ngắn gọn, không có nhiều trường hợp: ở những gì mà nhà vua không có thẩm quyền, ở đó ông không là nhà vua và có thể bị phản kháng, vì ở đâu mà thẩm quyền chấm dứt, vương vị cũng chấm dứt và trở thành một người như bao người không có thẩm quyền khác. Và hai trường hợp mà Barclay minh họa khác rất ít so với những gì được lưu ý ở trên, là việc phá hủy chính quyền; điều duy nhất ông bỏ qua là nguyên tắc mà chủ thuyết của ông xuất phát, đó là việc xâm phạm đến sự uỷ thác ở việc không bảo toàn hình thức chính quyền đã được đồng ý, và ở việc không nhắm đến mục đích của chính chính quyền, là ở lợi ích công và sự bảo toàn sở hữu. Khi một ông vua tự phế truất và tự đặt mình vào trạng thái chiến tranh với nhân dân, thì điều gì cản trở họ cáo kiện con người không còn là vua đó, như họ sẽ làm với bất kỳ ai khác; Barclay và những người theo quan niệm của ông sẽ nói hay với chúng ta.
[Đ]iều xa hơn mà tôi mong muốn được lưu ý đến, ngoài những gì Barclay lưu ý, là việc ông nói: Mối hại được dự mưu đối với họ, nhân dân có thể ngăn chặn trước khi nó được thực hiện; vậy thì theo đó, ông cho phép có phản kháng khi sự chuyên chế chỉ còn đang dự mưu. Những mưu đồ như vậy (ông nói) khi một ông vua ẩn giấu trong ý nghĩ của mình và thúc đẩy nó một cách nghiêm túc, thì lập tức ông ta từ bỏ mọi quan tâm và suy tư cho cộng đồng quốc gia, để - theo như ông - sự sao nhãng đối với lợi ích công được hiểu như một bằng chứng về mưu đồ như vậy, hay ít nhất cũng là nguyên nhân đầy đủ cho sự phản kháng. Và cái nguyên do của tất cả, ông đưa ra trong những lời này: Vì ông đã phản bội và ép buộc nhân dân - những người mà tự do của họ ông phải bảo toàn chu đáo. Điều Barclay nói thêm, về việc chấp nhận quyền lực và sự thống trị của một quốc gia khác không biểu thị gì cả, tội lỗi và sự tước bỏ [quyền lực của nhà vua] nằm ở việc mất đi quyền tự do của nhân dân, là điều mà ông có trách nhiệm bảo toàn, và không nằm ở sự khác biệt nào đó giữa các cá nhân với quyền thống trị của người mà họ phải khuất phục. Quyền của nhân dân bị xâm lấn là như nhau, tự do của họ bị mất đi dù họ bị biến thành nô lệ cho người đồng tộc hay cho ngoại tộc; và dựa trên sự phương hại này, để chống lại, duy nhất họ có là quyền phòng vệ.
[C]ác trường hợp thấy được ở tất cả các nước, cho thấy rằng sự thay đổi của đất nước không phải là ở cá nhân những người cai quản nó, mà là ở sự thay đổi của chính quyền nào gây ra sự vi phạm. Bilson, một giám mục thuộc Giáo hội chúng ta, người có lòng nhiệt thành vĩ đại dành cho quyền lực và đặc quyền hành động của bậc quân vương, nếu tôi không lầm, trong khảo luận *Sự tuân phục đức tin Thiên chúa (Christian Subjection)*¹¹³, đã thừa nhận rằng các quân vương có thể đánh mất quyền lực và tước vị của họ để tuân phục nhân dân của mình. [V]à nếu cần người có uy tín trong trường hợp mà lý lẽ rất rõ ràng, tôi có thể gửi độc giả của tôi đến Bracton¹¹⁴, Fortescue¹¹⁵, đến tác giả của Mirrour¹¹⁶ và những người khác nữa, là những tác gia không thể bị nghi ngờ là dốt nát đối với chính quyền của chúng ta hay đối với kẻ thù của chính quyền. Nhưng tôi nghĩ một mình Hooker đã đủ để thỏa mãn những người này, vốn dựa vào ông cho chính sách thiên giáo hội của họ, với một định mệnh lạ lùng, đã đi đến phủ nhận những nguyên tắc mà trên đó ông xây dựng nó. Dù ở điểm này họ có bị biến thành công cụ của những kẻ làm công xảo trá, để giật sập giàn khung của chính mình, thì họ vẫn là nơi tốt nhất để nhìn vào. Điều này thì tôi dám chắc, là chính sách dân sự của họ là rất mới, rất nguy hiểm và rất phá hoại đối với cả người cai trị lẫn nhân dân, đến mức là các thời đại trước không bao giờ có thể mang ra đề cập; vì thế có thể hy vọng, sắp tới, những người được chuộc khỏi những áp đặt của những người Ai Cập dưới tay các đốc công đó, sẽ ghê tởm cái ký ức về những kẻ xu nịnh hèn hạ như thế, mà đường như ở lượt phụng sự của họ, đã biến mọi chính quyền thành nền chuyên chế tuyệt đối, còn mọi người sinh ra - điều mà tâm trí tầm thường của họ thích hợp - là để làm nô lệ [cho nền chuyên chế đó].
§240. Ở đây, giống như câu hỏi chung được đặt ra: Ai sẽ là người phán xét rằng quân vương hay cơ quan lập pháp có hành động trái với sự uỷ thác đặt vào họ hay không?. Có lẽ những kẻ ác ý và bè phái sẽ lan truyền điều này trong nhân dân khi mà quân vương chỉ sử dụng đặc quyền hành động mà ông có được. Đối với nó, tôi hồi đáp: nhân dân sẽ là người phán xét, vì còn ai sẽ là người phán xét rằng người được uỷ thác hay thay mặt cho anh ta có hành động tốt và có theo sự uỷ thác được đặt vào ông hay không, ngoài người uỷ nhiệm cho ông, và sau khi đã uỷ nhiệm vẫn phải có một quyền lực để thải hồi, khi ông ta thất bại với vai trò được uỷ quyền của mình? Nếu điều này hợp lý trong các trường hợp tư riêng của những con người cụ thể, thì sao nó lại phải khác đi trong trường hợp có tầm quan trọng lớn nhất, ở nơi mà phúc lợi của hàng triệu con người có liên quan đến, và cũng là nơi mà cái xấu, nếu không bị ngăn chặn, có quy mô lớn hơn, và việc sửa chữa nó lại rất khó khăn, tốn kém và nguy hiểm?
§241. Nhưng xa hơn nữa, câu hỏi này (Ai sẽ là người phán xét?) không thể có nghĩa là không có người phán xử nào hết, vì nơi mà không có bộ máy tư pháp thế tục để quyết định những tranh cãi giữa mọi người, thì Thượng đế nơi trời cao sẽ là người phán xử đó. Tự một mình ngài đã là người phán xét về lẽ phải, điều đó đúng, nhưng mỗi người vẫn là người phán xét cho chính mình trong những trường hợp khác. [V]ì thế, trong trường hợp này, người khác có đặt chính mình vào trạng thái chiến tranh với ông hay không, và anh ta có phải cáo kiện đến đấng Phán xét tối cao, như Jephthah đã làm, hay không?
§242. Nếu tranh cãi nảy sinh giữa quân vương với một số người dân, ở một vấn đề mà luật pháp lặng im hay không rõ rệt, và sự việc có một hệ quả lớn, tôi thiển nghĩ người trọng tài thích hợp, trong trường hợp này, phải là cơ quan quyền lực của nhân dân. Vì trong những trường hợp mà quân vương có sự uỷ thác đặt vào ông và được miễn trừ trước những quy định bình thường chung của luật pháp, ở đó, nếu nhiều người nhận thấy mình bị hại và cho rằng quân vương hành động trái ngược hay vượt quá sự uỷ thác đó, thì người thích đáng để phán xét là cơ quan quyền lực của nhân dân (những người đã trao sự uỷ thác đó vào ông trước tiên), về phạm vi bao xa mà nó được đề cập. Nhưng nếu quân vương hay bất cứ ai khác trong bộ máy hành chính, khước từ cách giải quyết đó, việc cáo kiện không còn đường nào khác ngoài việc đưa đến trời cao. Vũ lực, hoặc giữa các cá nhân - những người không biết đến phẩm vị cao nào cả, hoặc giữa những người không cho phép cáo kiện đến một người phán xử nào cả, thì đích thực là một trạng thái chiến tranh, khi mà bất cứ cáo kiện nào cũng chỉ có thể đưa đến trời cao; và trong trạng thái đó, phía bị phương hại phải tự phán xét cho mình khi anh ta nghĩ là thích hợp để dùng đến sự cáo kiện đó và đặt chính mình vào.
§243. Đi đến kết luận, quyền lực mà mỗi cá nhân trao cho xã hội, khi anh ta gia nhập vào đó, không bao giờ quay ngược về lại cá nhân chừng nào xã hội đó vẫn còn tồn tại, mà sẽ luôn được lưu giữ tại cộng đồng, vì không có điều này thì không thể có một cộng đồng nào, một cộng đồng quốc gia nào, là điều trái với thỏa thuận gốc; cũng như thế, khi xã hội đặt quyền lập pháp vào bất kỳ nghị hội chung nào, duy trì ở họ và ở những người kế tục, với đường hướng và thẩm quyền để quy định những người kế tục như thế, thì quyền lập pháp không bao giờ có thể quay ngược về cho nhân dân khi mà chính quyền đó vẫn tồn tại; vì sau khi quy định một cơ quan lập pháp với quyền lực duy trì mãi mãi, họ đã chuyển nhượng quyền lực chính trị của mình cho cơ quan lập pháp và không thể lấy lại. Nhưng nếu họ đặt giới hạn cho nhiệm kỳ của cơ quan lập pháp này, khiến cho quyền lực tối cao ở một cá nhân hay một hội đồng nào đó chỉ là tạm thời; hoặc khác nữa, khi, với sự thất bại của những người có thẩm quyền này, quyền lực tối cao đó bị tước đi, bằng sự tước bỏ hay vào lúc xác định của thời gian đã quy định, quyền lực đó quay về với xã hội, và nhân dân có quyền hành động với tư cách quyền lực tối cao và tự mình tiếp tục công việc lập pháp, hoặc dựng lên một hình thức chính quyền mới, hoặc vẫn theo hình thức cũ đó nhưng được đặt vào tay những con người mới, theo những gì họ cho là tốt đẹp.
⁹⁶ Pro tempore: (một cách) tạm thời.
⁹⁷ Locke đang nói đến chính thể quân chủ lập hiến với cấu trúc căn bản gồm: nhà vua, viện quý tộc và viện thứ dân, thể hiện những quyền lợi căn bản và địa vị xã hội khác nhau khi đó trong cơ cấu của chính quyền.
⁹⁸ Jupiter: thần tối cao trong thần thoại La Mã, vai trò tương tự như thần Zeus trong thần thoại Hy Lạp.
⁹⁹ Rebellare: nổi loạn.
¹⁰⁰ Rebellantes: (những kẻ nổi loạn) đang nổi loạn.
¹⁰¹ Polyphemus: người khổng lồ một mắt trong thần thoại Hy Lạp, giữ vai trò quan trọng trong sử thi Odyssey của Homer.
¹⁰² Ulysses: tức Odyssey (Odysseus), nhân vật trung tâm của sử thi cùng tên (và cũng là một nhân vật chính trong sử thi khác của Homer, Iliad), có nhiều mưu mẹo và tài xoay sở. Odyssey đã có cuộc hành trình dài mười năm để trở về nhà sau cuộc chiến thành Troy.
¹⁰³ Robert Barclay (1648?-1690): một trong những tác gia xuất sắc của Hội Bằng hữu Mộ đạo (Religious Society of Friends) ở Anh thế kỷ XVII (sau đó phân nhánh ở nhiều nơi khác), một tổ chức “thiên hữu” của những người bất bình trước tình trạng phát triển nhiều tông phái Thiên chúa giáo khác nhau.
¹⁰⁴ Ở đây và ở các đoạn §236, §237, xin độc giả hiểu là đã được chuyển sang tiếng Việt.
¹⁰⁵ Buchanan: không rõ có phải là đang nói đến George Buchanan (1509-1582), sử gia và là nhà nhân văn người Scotland không.
¹⁰⁶ Juvenal: nhà thơ trào phúng La Mã, thời cuối thế kỷ I đầu thế kỷ II. ¹⁰⁷ Nghĩa của câu này: Anh đánh tôi, tôi chịu bị đánh.
¹⁰⁹ Ipso facto: tự thân (của vấn đề hay con người).
¹¹⁰ Nero (37-68): hoàng đế thứ năm và cuối cùng thuộc triều đại Julio-Claudian (14–69) của Đế chế Rome (31 TCN-395, sau thời điểm này đế chế vẫn tồn tại nhưng suy thoái ở hai giai đoạn, là Tây đế chế và Đông đế chế). Được biết đến nhiều như một “tay chơi”, chỉ sa vào những thú vui tầm thường mà sao nhãng công việc của Rome và của đế chế, ngay cả khi thành Rome bốc cháy (tuy nhiên, cũng có nhìn nhận cho rằng những ghi chép về Nero đều xuất phát từ các nguồn thù địch với ông), bị phế truất và sau đó tự vẫn.
¹¹¹ Nền chính trị của Cộng hòa Rome tồn tại trên cơ sở một thể chế được gọi là “hỗn hợp”, mà quan hệ giữa các thành tố trong đó được đánh giá là một hình thức tương tự cơ chế phân quyền: chấp chính quan giữ vai trò hành xử tối cao, viện nguyên lão làm công việc lập pháp và bầu chọn chấp chính quan, và hội nghị các bộ tộc là nơi toàn thể nhân dân đưa ra quyết định cuối cùng đối với các luật và vấn đề chiến tranh hay hòa bình… ¹¹² Cagilula (12-41): hoàng đế thứ ba của triều đại Julio-Claudian, được xem là một trong hai “hoàng đế điên” (cùng với Nero) vì sự cực đoan, lập dị, truy lạc và tàn ác; bị sát hại bởi chính các cận vệ.
¹¹² Cagilula (12-41): hoàng đế thứ ba của triều đại Julio-Claudian, được xem là một trong hai “hoàng đế điên” (cùng với Nero) vì sự cực đoan, lập dị, truy lạc và tàn ác; bị sát hại bởi chính các cận vệ.
¹¹³ Thomas Bilson (1547-1616), giám mục tại Worcester (thành phố thuộc Worcestershire, Anh, 1596-1597) và Winchester (1597-1616). Tên đầy đủ của khảo luận được Locke đề cập là True Difference between Christian Subjection and Unchristian Rebellion (Sự khác biệt chân thật giữa sự tuân phục đức tin Thiên chúa và sự nổi loạn phi đức tin), 1585.
¹¹⁴ Henry de Bracton (?-1268): quan tòa, nhà luật học người Anh; ngày nay được biết đến với nhiều tác phẩm luật học, đặc biệt là De Legibus et Consuetudinibus Angliae (Bàn về luật pháp và phong tục nước Anh, On the Laws and Customs of England).
¹¹⁵ Sir John Fortescue (1394?-1476?): chánh án tối cao dưới thời Hery VI (1421-1471); tác phẩm được biết đến nhất là The Difference between an Absolute and a Limited Monarchy (Sự khác biệt giữa nền quân chủ chuyên chế và nền quân chủ có giới hạn) công bố năm 1714, và năm 1885 được in lại như một phiên bản mới, mang tên The Governance of England (Nền cai trị tại Anh).
¹¹⁶ Người được nhắc đến có lẽ là Andrew Horne (?-1328), tác giả của một tác phẩm rất phổ biến trong các nhà hiến pháp luận thế kỷ XVII, mang tên The Mirrour of Justices (Tấm gương công lý), in vào những năm 1640. Tuy nhiên, nguồn gốc này của tác phẩm lại là điều chịu nhiều hoài nghi.
Nguyên tác: John Locke, Two treatises of Government (Cambridge Text in the History of Political Thought), Cambridge University Press, 1960, 1967, 1988, 17th printing 2005
Bản dịch: Luận thứ hai về chính quyền - chính quyền dân sự, NXB Tri Thức, dịch giả Lê Tuấn Huy
