Vì một nền tự do mới - Chương 10: Khu vực công I - Chính phủ trong hoạt động kinh doanh

Vì một nền tự do mới - Chương 10: Khu vực công I - Chính phủ trong hoạt động kinh doanh

Con người thường có xu hướng sống theo thói quen và rơi vào những lối mòn khó đặt câu hỏi, đặc biệt trong lĩnh vực nhà nước. Trên thị trường, trong đời sống xã hội nói chung, chúng ta kỳ vọng và nhanh chóng thích ứng với những đổi thay — với những điều kỳ diệu và cải tiến không ngừng của nền văn minh. Sản phẩm mới, lối sống mới, tư tưởng mới thường được đón nhận một cách háo hức. Nhưng trong lĩnh vực nhà nước, chúng ta lại mù quáng đi theo con đường của hàng thế kỷ trước, hài lòng với niềm tin rằng “cái gì đã tồn tại từ lâu ắt phải là đúng”. Cụ thể, chính phủ ở Hoa Kỳ cũng như ở nhiều nơi khác, suốt nhiều thế kỷ — dường như từ thuở xa xưa — đã cung cấp cho chúng ta những dịch vụ được xem là thiết yếu và cần thiết, những dịch vụ mà hầu như ai cũng thừa nhận là quan trọng: quốc phòng (bao gồm quân đội, cảnh sát, tư pháp và pháp lý), cứu hỏa, đường sá, cấp thoát nước, xử lý rác thải, bưu chính, v.v. Hình ảnh Nhà nước gắn liền với việc cung cấp các dịch vụ này đã ăn sâu đến mức, với nhiều người, bất kỳ sự chỉ trích nào nhắm vào việc Nhà nước tài trợ cho chúng đều bị xem như một cuộc tấn công vào chính những dịch vụ đó. Vì thế, nếu ai đó cho rằng Nhà nước không nên cung cấp dịch vụ tòa án, và doanh nghiệp tư nhân trên thị trường có thể đảm nhận công việc này một cách hiệu quả hơn, vừa hợp lý vừa có đạo đức hơn, thì người ta lập tức nghĩ rằng người đó đang phủ nhận vai trò quan trọng của chính hệ thống tòa án.

Người theo chủ nghĩa tự do cá nhân muốn thay thế chính phủ bằng khu vực tư trong những lĩnh vực nói trên, vì thế, sẽ bị đối xử chẳng khác nào nếu chính phủ — vì một lý do nào đó — từ xưa đến nay độc quyền sản xuất và bán giày dép, được tài trợ bằng tiền thuế. Hãy thử tưởng tượng: nếu chính phủ, và chỉ chính phủ, nắm độc quyền trong ngành sản xuất và bán lẻ giày dép, thì công chúng sẽ phản ứng thế nào khi một người theo chủ nghĩa tự do cá nhân đề xuất rằng chính phủ nên rút khỏi ngành này và mở cửa cho thị trường tự do? Chắc hẳn ông ta sẽ bị đối xử như thế này: mọi người sẽ kêu lên: “Ông sao có thể nói thế? Ông phản đối việc người dân, nhất là người nghèo, có giày để đi ư? Nếu chính phủ không sản xuất giày nữa, thì ai sẽ làm? Ai sẽ bán giày cho dân? Hãy nói cho chúng tôi biết! Hãy có tinh thầng ‘xây dựng’ một chút đi! Dễ lắm, khi chỉ trích và giễu cợt chính phủ — nhưng hãy cho chúng tôi biết: ai sẽ cung cấp giày? Bao nhiêu cửa hàng giày sẽ có ở mỗi thành phố và thị trấn? Các công ty giày sẽ lấy vốn ở đâu? Có bao nhiêu thương hiệu? Dùng nguyên liệu gì, và loại nào bền nhất? Giá cả sẽ ra sao? Chẳng lẽ không cần quy định để đảm bảo chất lượng giày ư? Và ai sẽ lo giày cho người nghèo? Nếu một người nghèo không không có tiền để mua một đôi giày thì sao?”

Những câu hỏi này, dù có vẻ nực cười — và quả thật là nực cười khi áp dụng cho ngành kinh doanh giày dép — cũng vô lý không kém khi đem áp dụng cho những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân, những người chủ trương thị trường tự do trong lĩnh vực cứu hỏa, cảnh sát, bưu chính hay bất kỳ hoạt động nào khác của chính phủ. Vấn đề là: người ủng hộ thị trường tự do trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng không thể đưa ra trước một “bản thiết kế mang tính xây dựng” cho thị trường đó. Bản chất, và cũng là vinh quang, của thị trường tự do nằm ở chỗ: các công ty và doanh nghiệp riêng lẻ, trong cạnh tranh, tạo nên một bản hòa tấu luôn biến đổi của những hàng hóa và dịch vụ hiệu quả, tiến bộ — không ngừng cải tiến sản phẩm và thị trường, thúc đẩy công nghệ, giảm chi phí, và đáp ứng nhu cầu luôn thay đổi của người tiêu dùng một cách nhanh chóng, linh hoạt và hiệu quả nhất có thể. Nhà kinh tế học theo chủ nghĩa tự do cá nhân có thể đưa ra vài định hướng sơ bộ về cách mà thị trường có thể phát triển ở những nơi hiện đang bị ngăn cản hoặc hạn chế; nhưng ngoài việc chỉ ra con đường hướng tới tự do — kêu gọi chính phủ rút lui khỏi con đường của những nguồn năng lượng sáng tạo và sản xuất tự nguyện của công chúng — thì họ không thể làm gì hơn. Không ai có thể dự đoán số lượng doanh nghiệp, quy mô của từng doanh nghiệp, chính sách giá cả, v.v. trong bất kỳ thị trường tương lai nào cho bất kỳ dịch vụ hay hàng hóa nào. Chúng ta chỉ biết — bằng lý thuyết kinh tế và kinh nghiệm lịch sử — rằng thị trường tự do như thế sẽ làm tốt hơn hẳn so với độc quyền cưỡng bức của bộ máy quan liêu của chính phủ.

Câu hỏi “Người nghèo sẽ trả tiền cho quốc phòng, cứu hỏa, bưu chính… như thế nào?” có thể được trả lời bằng câu hỏi ngược lại: “Người nghèo hiện nay trả tiền cho bất kỳ hàng hóa nào trên thị trường như thế nào?” Sự khác biệt là: chúng ta biết rằng thị trường tư nhân tự do sẽ cung cấp những hàng hóa và dịch vụ ấy rẻ hơn, dồi dào hơn, và chất lượng cao hơn hẳn so với chính phủ độc quyền hiện nay. Mọi người trong xã hội đều được hưởng lợi, đặc biệt là người nghèo. Và gánh nặng thuế khóa khổng lồ để tài trợ cho những hoạt động đó — cùng các hoạt động khác — sẽ được dỡ bỏ khỏi vai của tất cả mọi người, kể cả người nghèo.

Chúng ta đã thấy rằng hầu hết những vấn đề cấp bách mà xã hội ngày nay thừa nhận đều gắn liền với các hoạt động của chính phủ. Chúng ta cũng thấy rằng những xung đột xã hội sâu sắc trong hệ thống trường công sẽ hoàn toàn biến mất khi mỗi nhóm phụ huynh được phép tài trợ và lựa chọn nền giáo dục mà họ mong muốn cho con em mình. Những hiện tượng kém hiệu quả trầm trọng và xung đột gay gắt vốn đã nằm sẵn trong cơ chế vận hành của nhà nước. Thí dụ, nếu chính phủ cung cấp các dịch vụ độc quyền (chẳng hạn trong giáo dục hay cung cấp nước), thì bất kỳ quyết định nào của chính phủ đều bị cưỡng bức áp đặt lên nhóm thiểu số bất hạnh — dù đó là vấn đề chính sách giáo dục (hòa nhập hay phân biệt, tiến bộ hay truyền thống, tôn giáo hay thế tục), hay thậm chí là loại nước được bán ra (có flo hay không). Rõ ràng là, sẽ không có những tranh cãi gay gắt như thế khi mỗi nhóm người tiêu dùng có thể tự do mua hàng hóa hoặc dịch vụ mà họ mong muốn. Không có “cuộc chiến” nào giữa những người tiêu dùng về loại báo nào nên được in, nhà thờ nào nên được thành lập, cuốn sách nào nên được xuất bản, đĩa nhạc nào nên được phát hành, hay ô tô nào nên được sản xuất. Mọi thứ được tạo ra trên thị trường đều phản ánh sự đa dạng, phong phú và sức mạnh của nhu cầu của người tiêu dùng.

Tóm lại, trên thị trường tự do, người tiêu dùng là thượng đế, và bất kỳ doanh nghiệp nào muốn kiếm được lợi nhuận và tránh thua lỗ đều cố gắng hết sức để phục vụ người tiêu dùng một cách hiệu quả nhất, với chi phí thấp nhất có thể. Ngược lại, trong các hoạt động của chính phủ, mọi thứ lại hoàn toàn khác. Bản chất của mọi hoạt động do chính phủ điều hành là sự tách biệt nghiêm trọng và tai hại giữa dịch vụ và thanh toán — giữa việc cung cấp dịch vụ và việc chi trả để nhận được dịch vụ đó. Cơ quan chính phủ không có nguồn thu như các doanh nghiệp tư nhân, tức là từ việc phục vụ người tiêu dùng tốt hơn và thu về doanh số cao hơn chi phí vận hành. Không, cơ quan chính phủ có được thu nhập từ việc bóc lột người nộp thuế. Vì vậy, hoạt động của họ trở nên kém hiệu quả và chi phí tăng vọt, bởi các cơ quan chính phủ không cần lo lắng về thua lỗ hay phá sản; họ chỉ việc bù đắp bằng cách rút thêm tiền từ ngân sách công. Hơn nữa, người tiêu dùng — thay vì được chiều chuộng và phục vụ — lại trở thành kẻ gây phiền toái cho chính phủ, bị xem như kẻ đang “phung phí” nguồn lực khan hiếm của nhà nước. Trong các cơ quan chính phủ, người tiêu dùng thường bị đối xử như một kẻ xâm nhập không mong muốn, làm gián đoạn sự yên ổn trong việc hưởng thụ thu nhập đều đặn của quan chức.

Do đó, nếu nhu cầu của người tiêu dùng tăng lên đối với hàng hóa hay dịch vụ của bất kỳ doanh nghiệp tư nhân nào, doanh nghiệp ấy sẽ vui mừng, vội vàng mở rộng sản xuất để đáp ứng các đơn đặt hàng mới. Ngược lại, chính phủ thường phản ứng bằng cách càu nhàu khuyên hoặc thậm chí ra lệnh cho người dân “tiêu thụ ít lại”, để mặc cho tình trạng thiếu hụt và suy giảm chất lượng dịch vụ xảy ra. Chẳng hạn, việc người dân ngày càng sử dụng nhiều đường phố công cộng ở các thành phố dẫn đến tình trạng tắc nghẽn giao thông nghiêm trọng hơn, và chính quyền lại liên tục chỉ trích, thậm chí đe dọa những người tự lái xe. Ví dụ, chính quyền thành phố New York thường xuyên đe dọa cấm sử dụng xe hơi cá nhân ở Manhattan — nơi tắc nghẽn nghiêm trọng nhất. Tất nhiên, chỉ có chính phủ mới nghĩ đến việc đối xử thô bạo với người tiêu dùng như thế; chỉ có chính phủ mới đủ “táo bạo” để cho rằng giải pháp cho tắc nghẽn giao thông là buộc xe cá nhân (hoặc xe tải, taxi, v.v.) ra khỏi đường phố. Theo logic đó, “giải pháp lý tưởng” cho nạn tắc nghẽn, dĩ nhiên, là cấm tất cả mọi phương tiện!

Nhưng kiểu thái độ đối với người tiêu dùng như thế này không chỉ giới hạn trong vấn đề giao thông trên đường phố. Chẳng hạn, thành phố New York đã nhiều lần trải qua tình trạng “thiếu nước.” Trong nhiều năm, chính quyền thành phố nắm độc quyền bắt buộc đối với việc cung cấp nước cho người dân. Do không cung cấp đủ lượng nước cần thiết, và cũng không định giá nước theo cách giúp cân bằng thị trường – tức là cân bằng cung và cầu (điều mà doanh nghiệp tư nhân vốn tự động thực hiện) – phản ứng của New York trước tình trạng thiếu nước luôn là đổ lỗi, không phải cho chính mình, mà cho người tiêu dùng, những người bị buộc tội đã sử dụng “quá nhiều” nước. Chính quyền chỉ biết phản ứng bằng cách cấm tưới cỏ, hạn chế sử dụng nước, và yêu cầu người dân uống ít nước hơn. Bằng cách đó, chính phủ chuyển thất bại của chính mình sang cho người dùng – biến họ thành “vật tế thần,” bị đe dọa và trừng phạt, thay vì được phục vụ chu đáo và hiệu quả.

Chính quyền cũng có phản ứng tương tự đối với tình trạng tội phạm ngày càng gia tăng ở thành phố New York. Thay vì cung cấp sự bảo vệ hiệu quả của cảnh sát, thành phố lại buộc những công dân vô tội phải tránh xa các khu vực có nguy cơ cao về tội phạm. Do đó, khi Công viên Trung tâm ở Manhattan trở thành địa điểm khét tiếng về cướp giật và tội phạm vào ban đêm, “giải pháp” của chính quyền thành phố là ban hành lệnh giới nghiêm, cấm người dân vào công viên trong những giờ đó. Nói cách khác, nếu một công dân vô tội muốn ở lại Công viên Trung tâm vào ban đêm, chính anh ta sẽ bị bắt vì vi phạm lệnh giới nghiêm — bởi lẽ, bắt một người dân vô hại dễ hơn nhiều so với việc loại bỏ tội phạm khỏi công viên.

Tóm lại, trong khi khẩu hiệu lâu đời của doanh nghiệp tư nhân là “khách hàng luôn đúng,” thì châm ngôn ngầm trong hoạt động của chính phủ lại là: “khách hàng luôn có lỗi.”

Tất nhiên, các quan chức chính trị luôn có cùng một lời đáp cho những lời than phiền ngày càng nhiều về dịch vụ yếu kém và kém hiệu quả: “Người nộp thuế phải đưa cho chúng ta thêm tiền!” Thế mà, việc khu vực công — và gánh nặng thuế khoá kèm theo — đã tăng trưởng nhanh hơn hẳn so với thu nhập quốc dân trong thế kỷ này vẫn chưa đủ. Việc những sai sót và phiền toái trong bộ máy chính phủ ngày càng nhân lên cùng với gánh nặng ngân sách ngày càng phình to cũng vẫn chưa đủ. Người ta vẫn được kêu gọi phải tiếp tục đổ thêm tiền vào cái “lỗ chuột” của chính quyền!

Lập luận phản biện đúng đắn đối với yêu cầu tăng thuế ấy là câu hỏi: “Tại sao các doanh nghiệp tư nhân lại không gặp phải những vấn đề như vậy?” Tại sao các nhà sản xuất dàn âm thanh hi-fi, các công ty sản xuất máy photocopy, các hãng máy tính hay bất kỳ ngành nào khác lại không gặp khó khăn trong việc tìm vốn để mở rộng sản xuất? Tại sao họ không ban hành các tuyên ngôn chỉ trích công chúng đầu tư vì không cung cấp cho họ thêm tiền để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng? Câu trả lời là: người tiêu dùng trả tiền cho các dàn âm thanh, máy photocopy hay máy tính, và vì vậy, các nhà đầu tư biết rằng họ có thể kiếm lời bằng cách đầu tư vào những doanh nghiệp đó. Trong thị trường tư nhân, những công ty phục vụ công chúng thành công sẽ dễ dàng thu hút được vốn để mở rộng; còn những công ty kém hiệu quả, thất bại thì không, và cuối cùng sẽ phải rời khỏi thị trường. Nhưng trong chính phủ, không có cơ chế lãi – lỗ nào để khuyến khích đầu tư vào các hoạt động hiệu quả, cũng như để trừng phạt và loại bỏ những hoạt động yếu kém hay lỗi thời. Không có lợi nhuận hay thua lỗ nào có thể thúc đẩy việc mở rộng hoặc thu hẹp quy mô hoạt động. Do đó, trong hệ thống chính phủ, không ai thực sự “đầu tư”, và cũng không có gì bảo đảm rằng hoạt động hiệu quả sẽ được mở rộng còn hoạt động kém cỏi sẽ biến mất. Trái lại, chính phủ buộc phải huy động “vốn” của mình bằng cách cưỡng ép thông qua cơ chế đánh thuế.

Nhiều người, trong đó có cả một số quan chức chính phủ, cho rằng những vấn đề này có thể được giải quyết nếu “chính phủ được điều hành như một doanh nghiệp”. Khi đó, chính phủ thiết lập một công ty độc quyền giả hiệu, do nhà nước điều hành, được cho là nhằm vận hành “trên cơ sở kinh doanh”. Điều này đã được thực hiện, chẳng hạn, trong trường hợp Bưu điện — nay là “Dịch vụ Bưu chính Hoa Kỳ” — và Cơ quan Giao thông Thành phố New York[1], vốn đang ngày càng xuống cấp và trì trệ. Những “tập đoàn” này được yêu cầu chấm dứt tình trạng thâm hụt kinh niên và được phép phát hành trái phiếu trên thị trường trái phiếu. Đúng là khi đó, người sử dụng trực tiếp sẽ giảm bớt phần nào gánh nặng cho số đông người nộp thuế — gồm cả người dùng và người không dùng dịch vụ. Nhưng có những sai lầm chí tử vốn gắn liền với mọi hoạt động của chính phủ mà không thể khắc phục được bằng chiêu thức “kinh doanh giả hiệu” này. Trước hết, dịch vụ công luôn mang tính độc quyền hoặc bán độc quyền. Thường thì, như trong trường hợp Bưu điện hoặc Cơ quan Vận tải, đây là dạng độc quyền cưỡng chế — mọi cạnh tranh tư nhân đều bị cấm hoặc gần như bị cấm. Độc quyền như vậy đồng nghĩa với việc dịch vụ do nhà nước cung cấp sẽ tốn kém hơn, giá cao hơn, và chất lượng thấp hơn so với trong thị trường tự do. Doanh nghiệp tư nhân tìm kiếm lợi nhuận bằng cách giảm tối đa chi phí. Còn chính phủ, vốn không thể phá sản hay chịu thua lỗ, lại không có động cơ để tiết giảm chi phí; được bảo vệ khỏi cả cạnh tranh lẫn rủi ro tài chính, họ chỉ cần cắt giảm dịch vụ hoặc đơn giản là tăng giá. Sai lầm chí tử thứ hai là: dù có cố gắng thế nào, “tập đoàn nhà nước” không bao giờ có thể vận hành như doanh nghiệp thật sự, vì nguồn vốn của nó vẫn đến từ người nộp thuế. Điều này là không thể tránh khỏi; việc phát hành trái phiếu trên thị trường vẫn dựa vào quyền lực cuối cùng của nhà nước trong việc đánh thuế để đảm bảo hoàn trả các khoản nợ đó.

Cuối cùng, còn một vấn đề then chốt khác vốn nằm trong bản chất của mọi hoạt động kinh doanh nhà nước. Một trong những lý do khiến doanh nghiệp tư nhân thu được hiệu quả là vì thị trường tự do thiết lập được hệ thống giá cả chuẩn xác, cho phép họ tính toán, xác định chi phí và từ đó biết phải làm gì để có lãi và tránh lỗ. Chính nhờ hệ thống giá cả đó — cùng động lực gia tăng lợi nhuận và tránh thua lỗ — mà hàng hóa và dịch vụ được phân bổ hợp lý giữa các ngành và lĩnh vực sản xuất phức tạp của nền kinh tế công nghiệp “tư bản chủ nghĩa” hiện đại. Chính khả năng tính toán kinh tế này đã làm nên điều kỳ diệu của thị trường tự do. Trái lại, kế hoạch hóa tập trung — như trong chủ nghĩa xã hội — lại thiếu hệ thống định giá chính xác, cho nên không thể tính toán đúng chi phí và giá cả. Đây là nguyên nhân chủ yếu khiến mô hình kế hoạch hóa xã hội chủ nghĩa ngày càng bộc lộ thất bại khi các quốc gia cộng sản bước vào giai đoạn công nghiệp hóa. Chính vì không thể xác định giá cả và chi phí một cách chuẩn xác mà các nước cộng sản Đông Âu đã nhanh chóng rời bỏ mô hình kế hoạch tập trung để chuyển sang nền kinh tế thị trường tự do.

Nếu kế hoạch hóa tập trung đẩy nền kinh tế vào tình trạng hỗn loạn không thể nào tính toán được, dẫn đến những phân bổ và hoạt động sản xuất phi lý, thì việc gia tăng các hoạt động của chính phủ sẽ tất yếu tạo ra trong nền kinh tế những “hòn đảo hỗn loạn” ngày càng lớn hơn, khiến cho việc tính toán chi phí và phân bổ hợp lý các nguồn lực sản xuất trở nên ngày càng khó khăn. Khi các hoạt động của chính phủ mở rộng và nền kinh tế thị trường dần suy yếu, sự hỗn loạn trong tính toán trở thành yếu tố ngày càng mang tính phá hoại, khiến toàn bộ nền kinh tế ngày càng kém hiệu quả và khó vận hành.

Chương trình tối hậu của trường phái tự do cá nhân có thể được tóm gọn trong một câu: bãi bỏ khu vực công, chuyển tất cả các hoạt động và dịch vụ do chính phủ đảm nhiệm sang cho khu vực doanh nghiệp tư nhân thực hiện một cách tự nguyện. Giờ đây, chúng ta hãy chuyển từ những luận điểm tổng quát về sự khác biệt giữa chính phủ và khu vực tư nhân sang xem xét một số lĩnh vực hoạt động chính của chính phủ — và cách chúng có thể được thực hiện trong khuôn khổ của nền kinh tế thị trường tự do.


[1] Phê phán bưu điện và dịch vụ bưu chính, mời đọc John Haldi, Postal Monopoly (Washington, D.C.: American Enterprise Institute for Public Policy Research, 1974).

Nguyên tác: For a New Liberty, Murray N. Rothbard

Bản dịch: Phạm Nguyên Trường dịch

 

Dịch giả:
Phạm Nguyên Trường