Tất định luận và tự do lựa chọn - Chương 6: Tự do
Tự do chính trị là gì? Trong thế giới cổ đại, đặc biệt là nơi những người Hi Lạp, một người được tự do tức là có khả năng tham gia vào việc cai trị thành bang của người đó. Các đạo luật chỉ có giá trị nếu mỗi thành viên được quyền tham gia vào việc tạo ra hay không tạo ra các đạo luật ấy. Một người được tự do tức là không bị buộc phải tuân theo các đạo luật tạo ra bởi những người khác dành cho người đó, chứ không phải bởi người đó. Kiểu dân chủ này đòi hỏi rằng việc cai trị và các đạo luật có thể xuyên thấu vào mọi phạm vi của đời sống. Con người không tự do, mà anh ta cũng không đòi tự do, [không đòi] thoát khỏi giám sát như thế. Tất cả những gì các nhà dân chủ đòi hỏi, ấy là mỗi người đều có khả năng bị phê phán, bị điều tra như nhau, và nếu cần thiết sẽ bị buộc tội trước các đạo luật hay trước các sắp đặt, mà tất cả các công dân đều có quyền tham gia vào việc thiết lập và duy trì chúng.
Trong thế giới hiện đại, một ý tưởng mới - được diễn đạt sáng rõ nhất bởi Benjamin Constant294 - tạo ra cảm nhận là có một phạm vi của đời sống - cuộc sống riêng tư - mà người ta nghĩ rằng công quyền không nên can thiệp vào, ngoại trừ những tình huống đặc biệt. Câu hỏi chính yếu được thế giới cổ đại đặt ra là “Ai được cai trị tôi?”. Một số người nói là nhà vua, một số người nói là người tốt nhất, hay người giàu có nhất, hay người dũng cảm nhất, hay đa số, hay tòa án, hay biểu quyết nhất trí của mọi người. Trong thế giới hiện đại, một câu hỏi có tầm quan trọng tương đương là “Nên cai trị đến mức nào?”. Thế giới cổ đại giả định rằng cuộc sống là duy nhất, rằng các đạo luật và sự cai trị bao trùm toàn thể đời sống - không có lí do nào để bảo trợ cho bất cứ một góc nào của cuộc sống khỏi sự giám sát như thế. Trong thế giới hiện đại, cho dù về mặt lịch sử là do các cuộc đấu tranh của các Giáo hội chống lại can thiệp của nhà nước thế tục, hay nhà nước chống lại Giáo hội, hoặc do kết quả của sự gia tăng các hoạt động kinh doanh, công nghiệp, thương mại và sự khao khát được bảo hộ chống lại sự can thiệp của nhà nước, hoặc do bất cứ lí do nào khác, chúng tôi xuất phát từ giả định rằng có một đường ranh giới giữa cuộc sống công cộng và cuộc sống riêng tư, và rằng dù cho phạm vi riêng tư có thể nhỏ bé đến đâu đi nữa, thì trong phạm vi ấy tôi có thể làm theo ý mình - sống như tôi thích, tin vào cái tôi muốn, nói theo ý mình - với điều kiện điều này không gây cản trở cho những quyền tương tự của những người khác hay làm suy giảm trật tự đảm bảo cho kiểu thỏa thuận này có thể thực hiện được. Đây là quan điểm tự do kinh điển được biểu lộ toàn bộ hay một phần trong các tuyên ngôn khác nhau về quyền con người ở Mĩ và Pháp, và trong các tác phẩm của những người như Locke295, Voltaire, Thomas Paine296, Constant ‘và John Stuart Mill. Khi chúng tôi nói về các quyền tự do dân sự hay các giá trị văn minh, thì đây là một bộ phận của những gì nó hàm nghĩa.
Giả thiết cho rằng người ta cần được bảo hộ chống lại mỗi cá thể khác và chống lại chính quyền là một thứ gì đó chưa bao giờ được chấp nhận trọn vẹn ở bất cứ nơi nào trên thế giới, và cái mà tôi gọi là quan điểm Hi Lạp cổ đại hay quan điểm kinh điển là quay trở về trong hình thức những luận cứ đại để như: “Anh nói là một cá nhân có quyền chọn lựa kiểu cuộc sống mà anh ta ưa thích”. Nhưng điều đó có áp dụng cho mỗi người bất kể là ai hay không? Nếu cá nhân đó dốt nát, chưa trưởng thành, không được giáo dục, què quặt về tinh thần, không có cơ hội đầy đủ về sức khỏe và phát triển, anh ta sẽ không biết lựa chọn ra sao. Con người như thế sẽ không bao giờ thực sự biết được anh ta quả thật muốn gì. Nếu có những người hiểu được bản chất con người là gì và nó khao khát cái gì, nếu những người ấy, có thể bằng biện pháp kiểm soát nào đó, làm cho những người khác cái điều mà những người kia hẳn là cũng làm cho bản thân họ, nếu họ khôn ngoan hơn, được hiểu biết tốt hơn, trưởng thành hơn, được phát triển hơn, [trong trường hợp ấy] liệu có phải những người ấy làm giảm bớt quyền tự do của những người kia hay không? Những người ấy can thiệp vào những người như họ vốn là vậy, nhưng chỉ nhằm mục đích giúp những người kia làm cái điều mà họ hẳn đã làm, nếu họ đủ hiểu biết, hay lúc nào cũng sáng suốt nhất, thay vì bị quy phục theo những động cơ phi lí tính, hay hành xử như đứa trẻ, hay cho phép phần thú vật trong bản chất của họ giành ưu thế. Như vậy có chút nào là can thiệp chăng? Nếu cha mẹ hay các thầy giáo ép buộc đứa trẻ không chịu đi học hay không chịu làm việc nỗ lực, nhân danh cái điều mà những đứa trẻ ấy thực ra ắt phải muốn, ngay cả dẫu chúng có thể không biết điều đó đi nữa, vì đó là cái mà mọi người, như bản chất là thế, ắt phải muốn, bởi vì họ là giống người, vậy những người ấy có làm giảm bớt quyền tự do của những đứa trẻ hay không? Chắc là không rồi. Các thầy giáo và các bậc cha mẹ khơi dậy cái bản ngã còn bị lặn chìm hay là cái bản ngã thực sự của chúng, và thỏa mãn nhu cầu của những bản ngã ấy như là chống lại những đòi hỏi nhất thời của cái bản ngã bề ngoài nông cạn hơn, sự trưởng thành nhiều hơn sẽ từ bỏ cái bản ngã đó giống như lột da.
Nếu anh thay thế các bậc cha mẹ bằng một giáo hội hay một đảng phái hay một nhà nước, anh sẽ có được một lí thuyết mà giới quyền uy hiện đại vẫn dựa nhiều vào đó. Họ bảo chúng ta rằng tuân theo những định chế ấy không là gì khác ngoài việc tuân theo bản thân chúng ta, do đó mà không phải là tình trạng nô lệ, bởi những định chế ấy là hiện thân của bản thân chúng ta trong thể tốt đẹp nhất và minh triết nhất, và tự kiềm chế thì không phải là kiềm chế, tự kiểm soát thì không phải là nô lệ.
Trận chiến giữa hai quan điểm ấy, trong mọi kiểu biến thể, từng là một trong những vấn đề chính trị gây tranh cãi chủ yếu của thời hiện đại. Một bên nói rằng để chai rượu xa tầm với của kẻ nghiện rượu không phải là làm giảm các quyền tự do của anh ta; nếu anh ta bị ngăn cản không cho uống rượu, thậm chí bằng sức mạnh đi nữa, anh ta sẽ được khỏe mạnh hơn cho nên có khả năng tốt hơn để đóng vai trò như một con người, một công dân, anh ta sẽ được là chính mình nhiều hơn, do đó mà được tự do hơn so vói việc anh ta với được chai rượu và hủy hoại sức khỏe cùng sự tỉnh táo của mình. Việc anh ta không biết điều này chỉ là triệu chứng bệnh tật hay
tình trạng không tri giác được đối với ước muốn đích thực của bản thân. Phía bên kia không phủ nhận rằng hành vi chống lại xã hội phải bị kiềm chế, hay có trường hợp cần ngăn chặn người ta không làm tổn hại bản thân mình hoặc làm tổn hại phúc lợi của con cái mình hay của những người khác, nhưng phủ nhận rằng kiềm chế như vậy lại là tự do, dù cho nó được biện minh. Quyền tự do có thể buộc phải bị giảm bớt để có được những điều tốt đẹp khác, sự an toàn hay hòa bình hay sức khỏe; hoặc giả quyền tự do hôm nay có thể bị buộc phải giảm bớt để cho quyền tự do lớn hơn của mai sau trở thành khả dĩ; nhưng giảm bớt tự do thì không phải là cung cấp tự do, và ép buộc, dù được biện minh hay ho thế nào đi nữa, vẫn là ép buộc chứ không phải tự do. Những người này nói rằng quyền tự do chỉ là một giá trị trong nhiều giá trị, và nếu nó là vật cản cho việc đảm bảo những mục tiêu khác quan trọng tương đương, hay ngăn cản cơ hội của những người khác tiếp cận với những mục tiêu ấy, thì nó phải nhượng bộ.
Đối với điều đó phía bên này đáp lại rằng nó ngụ ý phân chia đời sống thành riêng tư và công cộng - nó giả định rằng trong cuộc sống riêng tư người ta có thể ước muốn làm cái điều mà những người khác có thể không thích, và do đó cần phải bảo hộ chống lại những người khác kia - thế nhưng quan điểm này về bản chất con người dựa trên một sai lầm cơ bản. Thực thể con người là duy nhất, và trong một xã hội lí tưởng, khi các khả năng của mỗi người đều được phát triển, sẽ không bao giờ có ai lại muốn làm bất cứ điều gì mà những người khác phải bực tức hay muốn ngăn chặn. Mục đích thực sự của các nhà cải cách và các nhà cách mạng là phá đổ các bức tường phân cách con người, đem lại sự khai mở cho mọi thứ, khiến cho người ta sống cùng nhau không có phân chia, sao cho điều mà một người muốn cũng là điều mà mọi người muốn. Khao khát được để yên một mình, được cho phép làm điều mình muốn mà không cần giải trình điều đó trước một tòa án nào đó - gia đình của người đó hay những ông chủ của người đó, hay đảng phái của người đó, hay chính quyền của người đó, hay thật sự toàn thể xã hội của người đó - cái khát vọng ấy là triệu chứng tâm lí bất bình thường. Đòi tự do tách khỏi xã hội là đòi tự do tách khỏi chính mình. Điều này phải được chữa trị bằng cách thay đổi tính chất các quan hệ như những người theo chủ nghĩa xã hội khát khao làm, hay bằng cách loại bỏ lí trí phê phán như một số giáo phái tôn giáo và, trong chuyện này, các chế độ toàn trị và phát xít theo đuổi thực hiện.
Theo một quan điểm - có thể được gọi là quan điểm hữu cơ - mọi phân cách đều là xấu, và ý kiến về quyền bất khả xâm phạm của con người là đáng bị chỉ trích - những bức tường mà con người đòi hỏi để phân cách nhau, có lẽ là cần thiết trong một xã hội xấu xa, nhưng những bức tường ấy không có chỗ trong một thế giới được tổ chức đúng đắn, trong đó mọi dòng chảy nhân bản đều chảy vào một con sông nhân bản không chia cắt. Theo quan điểm thứ hai hay quan điểm tự do, các quyền con người, và ý tưởng về phạm vi riêng tư trong đó tôi được tự do tách khỏi sự soi mói, là điều không thể thiếu được cho tính độc lập tối thiểu mà mỗi người đều cần có, nếu mong muốn để cho mỗi người phát triển theo con đường của riêng mình; vì rằng sự đa dạng là bản chất của loài người chứ không phải là điều kiện nhất thời. Những người ủng hộ cho quan điểm này cho rằng việc phá hủy những quyền như vậy nhằm xây dựng một xã hội con người tự định hướng mang tính hoàn vũ - một xã hội mọi người đều nhịp bước tiến đến cùng những mục tiêu duy lí - sẽ phá hủy cái khu vực cho lựa chọn cá nhân, dù khu vực ấy nhỏ bé, nhưng không có nó thì cuộc sống có vẻ như không đáng tồn tại.
Một số người cho rằng các chế độ toàn trị và độc đoán đã hướng theo một trong những quan điểm ấy trong một hình thức thô thiển, bị biến dạng: trong khi đó các nền dân chủ tự do nghiêng về quan điểm kia. Và lẽ tất nhiên, những biến thể và tổ hợp của các quan điểm ấy, và những thỏa hiẹp giữa các quan điểm ấy, tất cả đều khả dĩ. Đó là hai ý tưởng chủ yếu đã đối mặt với nhau và thống trị thế giới có lẽ từ thời Phục hưng.
Nguồn: Tất định luận và tự do lựa chọn (Liberty, Nhà xuất bản Oxford University Press, 2002) của Isaiah Berlin, do dịch giả Nguyễn Văn Trọng dịch một cách đầy đủ và mạch lạc
