Tất định luận và tự do lựa chọn - Chương 4: John Stuart Mill và những cứu cánh của cuộc sống (Phần 5)
Mill thường được miêu tả như là một thầy giáo công chính có tâm hồn cao thượng thời Victoria, đáng tôn kính, mẫn cảm, nhân đạo, nhưng “chừng mực, ưa chỉ trích và buồn bã”274; một gã ngốc nghếch gì đó, một kẻ ra vẻ ta đây đạo đức gì đó, một con người tốt và cao quý, nhưng u ám, trịnh họng dạy đời và khô khan; một bức tượng bằng sáp trong những bức tượng bằng sáp khác ở vào một thời đại nay đã chết, [một bức tượng] đã ra đi và cứng đơ cùng với những hình nộm như thế. Tự truyện của ông - một trong những tâm sự cảm động nhất về một đời người - đã thay đổi ấn tượng đó. Mill chắc chắn là một trí thức, ông ý thức rõ và không ngượng ngùng về chuyện này. Ông đã biết mối quan tâm chủ yếu của ông nằm ở những ý tưởng tổng quát trong một xã hội đầy nghi kị đối với chúng: “Những người Anh”, ông đã viết cho người bạn Gustave d’Eichthal, “thường quen nghi kị những chân lí hiển nhiên nhất, nếu như người đề xuất chúng bị nghi ngờ là có những ý tưởng tổng quát nào đó”.275 Ông đầy hứng khởi với những ý tưởng và muốn chúng phải thật thú vị. Ông ngưỡng mộ người Pháp vì họ tôn trọng các trí thức trong lúc người Anh thì không. Ông nhận xét rằng ở Anh bàn tán khá nhiều về cuộc hành tiến tự nhiên thoải mái của trí tuệ, nhưng ông vẫn hoài nghi. Ông tự hỏi không bếet liệu “cuộc hành tiến trí tuệ của chúng ta” có phải là một cuộc hành tiến hướng tới làm việc không có trí tuệ, và rồi bù đắp sự thiếu vắng những người khổng lồ bằng những nỗ lực hợp nhất của một đám quần chúng còi cọc đang ngày càng đông đúc hơn hay chăng276. Từ ngữ “còi cọc”, và nỗi e ngại về sự nhỏ bé, tràn đầy trong tất cả những trước tác của ông.
Bởi ông tin vào tầm quan trọng của ý tưởng, nên ông sẵn sàng thay đổi những ý tưởng của chính mình, nếu những người khác có thể thuyết phục được ông về sự không thỏa đáng của chúng, hay khi một cái nhìn mới mẻ được ông phát hiện, như đã từng như vậy với Coleridge hay Saint-Simon, hay là, như ông tin thế, được phát hiện bởi thiên tài siêu việt của Harriet Taylor. Ông ưa thích phê phán vì bản thân sự phê phán. Ông căm ghét sự tâng bốc quá đáng, ngay cả khi người ta ca ngợi công trình của chính ông. Ông đả kích thói giáo điều ở những người khác và bản thân ông thực sự thoát khỏi nó. Bất chấp những nỗ lực của cha ông và những người hướng dẫn ông, ông vẫn giữ được một đầu óc rộng mở thật phi thường, và “vẻ ngoài lặng lẽ và thậm chí lạnh lùng” của ông, và “một cái đầu mà lí lẽ giống như một cỗ máy hơi nước hoạt động” đã được hợp nhất (dẫn lời người bạn của ông Sterling) cùng với “một tâm hồn ấm áp, ngay thẳng và thực sự cao quý”277 cũng như một thái độ gây xúc động và đầy chân thành, sẵn sàng học tập bất cứ ai và bất cứ lúc nào. Ông không có thói kiêu căng và ít quan tâm đến danh tiếng của mình, do đó ông không cố bám lấy sự nhất quán chỉ vì bản thân sự nhất quán, cũng như không cố bám lấy tước vị cá nhân của chính mình, nếu chuyện nhân bản bị mạo hiểm. Ông trung thành với phong trào, với sự nghiệp và với phe đảng, nhưng ông không thể bị thuyết phục phải ủng hộ họ với cái giá phải nói ra những gì ông không cho là đúng.
Một ví dụ đặc trưng của điều này là thái độ của ông đối với tôn giáo. Cha ông nuôi dạy ông theo giáo điều nghiêm ngặt nhất và hẹp hòi nhất của thuyết vô thần. Ông đã nổi loạn chống lại nó. Ông không ôm lấy một đức tin nào, nhưng ông không gạt bỏ tôn giáo giống như những nhà bách khoa Pháp hay Bentham đã làm, xem tôn giáo như một mớ những mơ tưởng và cảm xúc ấu trí, những ảo tưởng an ủi, những điều huyền hoặc lăng nhăng và những lời dối trá có chủ tâm. Ông giữ quan điểm cho rằng tồn tại của Thượng Đế là khả dĩ, nhiều khả năng là có, nhưng chưa được chứng minh, nhưng nếu Thượng Đế là thiện thì Thượng Đế không phải toàn năng, vì Người cho phép cái ác tồn tại. Ông hẳn chưa từng nghe thấy nói về một hữu thể vừa toàn thiện lại vừa toàn năng, mà bản chất của Người thách thức những chuẩn mực của logic nhân tính, vì ông bác bỏ niềm tin vào những điều huyền bí như những toan tính đơn thuần lảng tránh những chuyện gây lo âu. Nếu ông đã không hiểu được (chuyện vốn thường hay xảy ra), thì ông không làm bộ như đã hiểu. Mặc dù ông sẵn sàng tranh đấu cho quyền của những người khác giữ niềm tin của họ tách rời khỏi logic, nhưng ông bác bỏ điều này đối với bản thân. Ông tôn sùng đức Kitô như một con người tốt nhất từng sống trên đời, và xem thuyết hữu thần như một tập hợp các niềm tin cao quý, dù ông không hiểu được. Ông xem tính bất tử là khả dĩ, nhưng đánh giá khả năng đó rất thấp. Ông thực ra là người theo bất khả tri luận, nhưng bực bội với vô thần luận và xem tôn giáo như một thứ gì đó thuần túy là chuyện cá nhân. Khi được mời đại diện cho Nghị viện mà ông được bầu vào một cách thích đáng, ông đã tuyên bố sẵn sàng trả lời mọi câu hỏi mà những cử tri vùng Westminsters đặt ra cho ông, ngoại trừ những câu hỏi về những quan niệm tôn giáo của ông. Đây không phải là thái độ hèn nhát - hành vi của ông trong suốt quá trình bầu cử là rất thành thật và vô úy một cách khinh suất đến nỗi có ai đó đã nhận xét rằng dựa trên cương lĩnh tranh cử của Mill thì đến ngay Thượng Đế Toàn năng cũng không thể kì vọng đắc cử. Lí lẽ của ông là con người có quyền năng không-thể-tranh-cãi giữ cuộc sống riêng tư của mình cho riêng mình và tranh đấu cho quyền [riêng tư] ấy, nếu cần thiết. Ít ngày sau đó, cô con gái riêng Helen Taylor và những người khác trách móc ông vì đã không liên kết vững chắc hơn với những người vô thần, lên án ông đã dao động và phân vân do dự, nhưng ông vẫn kiên định. Những hoài nghi của ông là tài sản riêng của ông: không ai có quyền cưỡng đoạt lấy nổi ở ông một lời xưng tội về niềm tin, trừ phi có thể chứng minh được rằng sự im lặng của ông gây tổn hại cho những người khác; vì điều này đã không được chứng minh, ông không thấy có lí do gì để bắt mình phải công khai. Giống như Acton sau này, xem tự do và khoan dung tôn giáo như là sự bảo hộ không thể thiếu đối vói mọi tôn giáo chân chính, và sự phân biệt của Giáo hội giữa các vương quốc tinh thần và vương quốc thế tục là một trong những thành tựu vĩ đại của Kitô giáo, bởi vì nó đã khiến cho tự do ngôn luận trở thành khả dĩ. Điều này ông đánh giá cao hơn mọi thứ, và ông đã say sưa bảo vệ Bradlaugh278, mặc dù và chính vì ông bất đồng với ý kiến của ông ta.
Ông đã là vị thầy của một thế hệ, của một dân tộc, nhưng vẫn chỉ là một vị thầy không hơn, ông không phải là một nhà sáng tạo hay một nhà canh tân. Ông được biết đến không phải vì phát minh hay sáng chế nào có giá trị lâu dài. Ông hầu như chẳng tạo nên một tiến bộ nào đáng kể trong logic học hay trong triết học hay trong kinh tế học hay trong tư duy chính trị. Nhưng tầm cỡ của ông và khả năng của ông áp dụng các ý tưởng vào những lĩnh vực mà ở đó chúng đem lại kết quả, thì rất đặc biệt. Ông không độc đáo, nhưng ông vẫn biến đổi cấu trúc tri thức nhân bản thời đại của ông.
ởi ông có đầu óc đặc biệt trung thực, cởi mở và văn minh, được thể hiện một cách tự nhiên trong văn phong sáng sủa và tuyệt vời; bởi ông đã phối hợp được một sự theo đuổi chân lí thật kiên trì với niềm tin rằng tòa nhà chân lí có nhiều căn hộ, cho nên “những người độc nhãn” như Bentham cũng có thể thấy những gì mà những người có cái nhìn bình thường lại không thấy279; bởi bất chấp những cảm xúc của ông bị ức chế và trí tuệ của ông phát triển quá mức, bất chấp ông không có óc hài hước và bất chấp tính cách trang nghiêm trịnh trọng của ông, ý niệm của ông về con người là sâu sắc hơn và cái nhìn của ông về lịch sử và cuộc sống là rộng hơn và ít giản lược hơn những tiền bối Công lợi chủ nghĩa của ông hay những người theo chủ nghĩa tự do, nên ông đã nổi lên như một nhà tư tưởng chính trị chủ chốt ở thời đại của chúng ta. Ông đã đoạn tuyệt với mô hình giả-khoa học được thừa hưởng từ thế giới cổ điển và thời đại của lí trí, về một bản chất con người tất định được phú cho vào mọi thời, ở mọi nơi với những nhu cầu, cảm xúc, động cơ không đổi, phản ứng theo những cách khác nhau chỉ do những khác biệt về hoàn cảnh và các nhân tố kích thích, hay tiến hóa theo một khuôn mẫu cố định nào đó. Thay cho những thứ này ông đưa vào (không hoàn toàn có ý thức) hình ảnh của con người như một hữu thể sáng tạo, không thể tự hoàn tất và do đó không thể đoán trước: khả dĩ sai lầm, một phức hợp của những mặt đối lập, một số mặt có thể hòa giải, một số mặt khác không thể phân giải hay làm cho hài hòa; không thể ngừng lại trong cuộc tìm kiếm chân lí, hạnh phúc, điều mới mẻ, tự do, mà không có đảm bảo nào, thần học, hay logic, hay khoa học, để có thể đạt được chúng; một hữu thể tự do, không hoàn hảo, có thể quyết định được số phận của mình trong những hoàn cảnh thuận lợi cho sự phát triển lí trí và năng khiếu của mình. Ông đã bị khổ sở bởi vấn đề tự do ý chí và không tìm được lời giải nào tốt hơn cho nó so với bất cứ lời giải nào khác, mặc dù đôi khi ông tưởng là đã giải được nó. Ông đã tin rằng nó chẳng phải là một tư tưởng có lí tính, cũng chẳng phải là sự vượt lên trên tự nhiên, thế nhưng tự do lựa chọn và làm thí nghiệm, chính là thứ phân biệt con người với phần còn lại của tự nhiên; trong tất cả các ý tưởng của ông, chính quan điểm này đã đảm bảo cho danh tiếng dài lâu của ông280. Ông hàm ý tự do là điều kiện theo đó con người không bị cản trở trong việc chọn lựa cả đối tượng lẫn cách tôn thờ. Đối với ông chỉ xã hội nào mà điều kiện ấy được thực hiện, thì mới có thể gọi là đầy đủ nhân bản. Việc thực hiện nó là một lí tưởng mà Mill xem là quý báu hơn cả bản thân cuộc sống.
Nguồn: Tất định luận và tự do lựa chọn (Liberty, Nhà xuất bản Oxford University Press, 2002) của Isaiah Berlin, do dịch giả Nguyễn Văn Trọng dịch một cách đầy đủ và mạch lạc
