Tất định luận và tự do lựa chọn - Chương 4: John Stuart Mill và những cứu cánh của cuộc sống (Phần 3)

Tất định luận và tự do lựa chọn - Chương 4: John Stuart Mill và những cứu cánh của cuộc sống (Phần 3)

Kant đã có lần nhận xét rằng “Từ cây gỗ cong queo của loài người, chẳng bao giờ có vật gì thẳng thớm được làm ra cả”232. Mill tin vào điều này thật sâu sắc. Niềm tin này, cũng như sự khước từ tin vào những mô hình đơn giản hầu như theo kiểu Hegel và những công thức bị cắt rời và khô cứng để bao hàm cho những tình huống đầy phức tạp, mâu thuẫn và biến đổi, đã khiến cho ông là người rất lưỡng lự và bất xác định trong tư cách thành viên tham gia các tổ chức đảng phái và cương lĩnh. Bất chấp sự tuyên truyền của cha ông, bất chấp niềm tin đầy cảm xúc của Harriet Taylor vào một giải quyết tối hậu cho tất cả những điều xấu xa về xã hội bằng một thay đổi định chế thật to lớn nào đó (trong trường hợp của bà là chủ nghĩa xã hội), ông đã không thể dựa vào ý niệm về một mục tiêu chung cuộc có thể nhận ra được một cách rõ ràng, bởi ông đã thấy rằng người ta khác biệt nhau và tiến triển, không phải đơn thuần như kết quả của những nguyên nhân tự nhiên, mà còn là do những gì họ đã làm cho chính mình để thay đổi tính cách của chính mình, đôi khi không theo những cách thức có chủ ý. Chỉ riêng điều này đã khiến cho hành xử của họ là không thể đoán trước và hoàn trả lại các định luật hay các lí thuyết, dù là những thứ đó được lấy cảm hứng bởi những tương đồng với cơ học hay với sinh học, dù sao cũng không có khả năng bao gồm được tính phức tạp và những tính chất thuộc phẩm tính ngay cả của một tính cách cá nhân dù chỉ thuộc về một nhóm người thôi. Cho nên việc áp đặt một cấu trúc bất kì nào như thế lên một xã hội sinh động là buộc phải “làm cho còi cọc”, “gây tàn tật”, “gò bó”, “làm cho khô héo” những khả năng của con người, Mill sử dụng những từ ngữ cảnh báo ưa thích của ông.233

Sự gián đoạn lớn nhất của ông với cha ông bị gây ra bởi chính sự tin chắc này: bởi niềm tin của ông (mà ông chưa bao giờ thú nhận) cho rằng mỗi tình trạng khó xử đặc thù đòi hỏi cách đối xử riêng; rằng áp dụng phán xét đúng đắn trong chữa trị một căn bệnh xã hội thì ít nhất cũng phải biết tối đa về các định luật giải phẫu hay dược lí học. Ông là nhà thường nghiệm luận người Anh, và không phải là nhà duy lí nguời Pháp hay nhà siêu hình học người Đức, [ông] mẫn cảm với cuộc chơi ngắn hạn về các tình huống, các khác biệt của “khí hậu”234, cũng như bản chất cá nhân của mỗi trường hợp, còn như Helvétius hay Saint-Simon hay Fichte quan tâm đến những đường nét lớn (grandes lignes) của sự phát triển, thì lại không như vậy. Cho nên mối lo lắng ngày càng gia tăng của ông cũng lớn như [mối lo lắng của] Tocqueville và lớn hơn của Montesquieu, ấy là làm sao gìn giữ được tính đa dạng, giữ cánh cửa để ngỏ cho sự thay đổi, kháng cự lại những nguy cơ của áp lực xã hội; và trên hết cả lòng căm ghét của ông đối với tính bầy đàn của con người sủa vang lên chống lại một nạn nhân là người bất đồng ý kiến hay người theo dị giáo mà ông muốn bảo hộ vì họ là như vậy. Toàn bộ gánh nặng lời buộc tội của ông chống lại những người tiến bộ (ông hàm ý những người theo chủ nghĩa Công lợi và có lẽ cả những người theo chủ nghĩa xã hội), ấy là thường họ không làm chuyện gì khác hơn là cố thay đổi dư luận xã hội nhằm khiến cho nó tỏ ý tán thành với sơ đồ này hay sơ đồ kia của cuộc cải cách, thay vì phải tấn công vào bản thân cái nguyên lí tàn độc cho rằng dư luận xã hội “phải là luật lệ cho các cá nhân”235.

Khát vọng về tính đa dạng và tính cá thể vì bản thân chúng, vốn là khát vọng được Mill điều khiển thành thạo, nổi lên dưới nhiều hình thức. Ông nhận xét rằng “bằng cách cho phép mỗi người sống hạnh phúc theo ý họ, loài người được lợi nhiều hơn là bắt họ sống hạnh phúc theo ý những người xung quanh” - một chuyện có vẻ như “đương nhiên”, nhưng mặc dù vậy, ông tuyên bố, nó “lại trực tiếp đối lập… với xu thế chung của dư luận và thực tiễn đang tồn tại”236. Những lúc khác ông phát biểu trong những lời lẽ gay gắt hơn. Ông nhận xét rằng áp đặt việc uốn mình theo một “chuẩn mực được phê chuẩn” được gọi là “đừng ham thích cái gì thật mạnh mẽ, đó chính là tập quán thời của ông. Cái tính cách lí tưởng của nó là không có cá tính mang dấu ấn đặc biệt nào hết, bó chặt cho chết đi, giống như bàn chân của phụ nữ Trung Hoa, bất cứ bộ phận nào của bản chất con người lộ ra xuất chúng và làm cho cá nhân có dấu ấn khác biệt với hình thù tầm thường của nhân chủng”237. Và còn nữa, “Cái vĩ đại của nước Anh bây giờ chỉ toàn là tập thể; chúng ta nhỏ bé về phương diện cá nhân, nên có vẻ như chỉ có khả năng làm việc lớn bởi thói quen phối hợp với nhau, và các hiền nhân quân tử giàu đạo đức và tín ngưỡng của chúng ta hoàn toàn bằng lòng với tình trạng này của đạo đức và tôn giáo. Thế nhưng chính là những người mang dấu ấn khác với dấu ấn này đã từng làm cho nước Anh được như trước đây, và vẫn còn cần những người mang dấu ấn khác biệt để ngăn chặn sự suy thoái của nước Anh”238.

Giọng điệu của phát biểu này, nếu chưa phải nội dung của nó, hẳn đã gây choáng váng cho Bentham; cho nên quả thực nó là tiếng vọng đầy cay đắng của Tocqueville: “Nói một cách tương đối thì bây giờ họ đọc cùng một thứ, nghe cùng một thứ, xem cùng một thứ, đi đến cùng một chỗ, có niềm hi vọng và nỗi e ngại hướng tới cùng một đối tượng, có chung một quyền năng và sự tự do như nhau và chung một thứ phương tiện để khẳng định mình… Mọi sự biến đổi chính trị của thời đại thúc đẩy sự giống nhau vì những biến đổi ấy đều hướng tới nâng đỡ những người lớp dưới vươn lên và kéo các tầng lớp cao xuống thấp. Mỗi sự mở rộng giáo dục đều thúc đẩy sự giống nhau, bởi vì giáo dục đưa mọi người tới cùng một ảnh hưởng chung… Sự cải tiến các phương tiện liên lạc thúc đẩy sự giống nhau”, giống như “uy lực của công luận” cũng làm thế. Có “quá nhiều sức nặng lớn lao của các ảnh hưởng thù địch đối với Cá tính” đến nỗi “Ở thời đại này, chỉ thuần túy một ví dụ không uốn mình theo, chỉ thuần túy một sự khước từ không chịu quỳ gối trước tập quán, bản thân những cái đó đã là một sự phục vụ xã hội”239. Chúng ta đã đi tới tình trạng là những khác biệt đơn thuần, sự kháng cự vì chính bản thân sự kháng cự, sự phản đối như là thế, bây giờ là đủ rồi. Sự uốn mình thích nghi theo và thái độ bất khoan dung Vốn là những cánh quân tấn công và phòng thủ, đối với Mill luôn là đáng ghét và gây kinh hoàng một cách dị thường ở một thời đại tự cho mình là khai sáng; mặc dù vậy ở thời đại này một người có thể bị tống vào tù 21 tháng vì tội vô thần, thẩm phán bị loại bỏ và những người ngoại quốc bị từ chối xử kiện bởi vì họ giữ những niềm tin tôn giáo không được công nhận; tiền công quỹ không chi cho các trường học Hindu hay Hồi giáo vì một “màn phô bày ngu xuẩn”240 được một vị thứ trưởng bộ ngoại giao trình diễn, ông này tuyên bố rằng lòng khoan dung là đáng mong muốn chỉ trong những người theo Kitô giáo, chứ không phải cho bọn người vô tín ngưỡng. Cũng chẳng có gì tốt hơn khi những người thợ sử dụng “cảnh sát đạo đức”241 để ngăn cản một số thành viên trong nghiệp đoàn của họ được trả tiền lương cao hơn do tay nghề giỏi hay công nghệ cao, so với tiền lương trả cho những người thợ không có những đặc tính ấy.

Cách ứng xử như thế thậm chí còn đáng ghê tởm hơn khi nó xen vào những mối quan hệ riêng tư giữa các cá nhân. Ông tuyên bố rằng “những gì mà bất kì ai cũng có thể tự do làm trong những quan hệ tình dục, phải được xem là chuyện không quan trọng và thuần túy riêng tư, không liên quan đến ai khác ngoài bản thân họ”; rằng “bắt mọi người phải chịu trách nhiệm trước nhưng người khác và trước thế giới vì bản thân sự kiện” (ngoại trừ sự kiện có những hậu quả như sinh con, vốn rõ ràng tạo ra những trách nhiệm bắt buộc phải thi hành về mặt xã hội) “rồi sẽ có ngày bị cho là một trong những dị đoan và thói dã man ở thời thơ ấu của loài người”242. Ông cũng cảm thấy như thế đối với việc áp dụng bắt buộc giữ kiêng cữ hay nghi lễ Sabbath, hay bất cứ chuyện gì mà “các thành viên sùng đạo quá lố của xã hội” phải được nói cho biết “hãy tự lo cho công việc của họ”243. Chắc chắn những chuyện ngồi lê đôi mách về mối quan hệ của Mill với Hamet Taylor trước lúc ông cưới bà - mối quan hệ mà Carlyle nhạo báng là thanh khiết (platonic) - đã khiến ông đặc biệt mẫn cảm với hình thức này của truy bức xã hội. Thế nhưng những gì ông muốn nói về điều này là một phần của những niềm tin chắc sâu sắc nhất và bền lâu nhất ở nơi ông.

Mối nghi kị của Mill về nền dân chủ như hình thức cai trị duy nhất công bằng, nhưng về tiềm năng là hình thức cai trị mang tính đàn áp nhiều nhất, [mối nghi kị này] nảy sinh từ cùng những gốc rễ ấy. Ông tự hỏi một cách khó khăn không biết việc tập trung quyền lực và sự phụ thuộc không tránh khỏi của mỗi người vào mọi người, cũng như “sự giám sát mỗi người bởi mọi người”, liệu có kết thúc bằng việc nghiền nát tất cả để biến thành “một thứ đồng phục tẻ nhạt sẵn sàng phục tùng về tư duy, cách thức cư xử và hành động”244 và sản sinh ra “các máy tự động có hình dạng con người”245 và kẻ hủy diệt tự do (liberticide)246. Tocqueville đã viết một cách bi quan về những tác động đạo đức và trí tuệ của nền dân chủ ở Mĩ: “Quyền lực như thế không phá hủy”, trích dẫn một đoạn ám chỉ đến đoạn trước đó, “nhưng nó ngăn chặn tồn tại… nó đè nén, làm suy yếu, dập tắt và làm u mê một dân tộc”; và biến dân tộc ấy thành “một bầy đàn những con vật rụt rè và siêng năng, mà chính phủ là kẻ chăn dắt chúng”247. Mill có cùng ý kiến. Nhưng thuốc chữa duy nhất cho căn bệnh này, như Tocqueville tự xác nhận (có thể hơi miễn cưỡng), lại là dân chủ nhiều hơn nữa248, là thứ duy nhất một mình nó có thể giáo dục được một số khá đông các cá nhân tính độc lập, sự kháng cự và sức mạnh. Khuynh hướng người ta thích áp đặt những quan điểm của chính mình cho những người khác là rất mạnh, cho nên theo quan điểm của Mill, chi có thiếu quyền lực mới hạn chế được điều này; quyền lực ấy lại đang lớn lên; cho nên nếu những rào cản nhiều hơn nữa không được dựng lên, thì nó sẽ gia tăng, dẫn đến sinh sôi nảy nở “những kẻ uốn mình theo”, “những kẻ xu thời”249, những kẻ đạo đức giả được tạo nên bởi việc dập tắt ý kiến250, và cuối cùng là dẫn đến một xã hội mà ở đó tính rụt rè đã giết chết tư duy độc lập, và người ta giới hạn mình trong những chủ đề an toàn.

Nhưng nếu chúng ta tạo ra những rào cản quá cao và lại không can thiệp chút nào vào ý kiến [cá nhân], thì như Burke hay những người đi theo Hegel đã cảnh báo, liệu điều này có kết thúc trong việc làm tan rã kết cấu xã hội, nguyên tử hóa xã hội - thành tình trạng vô chính phủ hay không? Mill đáp lại điều này rằng “sự bất tiện” sinh ra từ “cư xử không phạm vào trách nhiệm cụ thể nào đối vói công chúng, cũng không là những trường hợp cố ý gây thương tổn cho cá nhân nào ngoài bản thân anh ta, … là thuộc loại xã hội có thể chịu đựng được, vì lợi ích to lớn hơn là sự tự do cho con người”251. Điều này cũng chẳng khác gì nói rằng, nếu như xã hội, bất chấp nhu cầu cố kết xã hội, tự mình đã thất bại trong việc giáo dục các công dân của mình thành người văn minh, thì cũng không có quyền trừng phạt họ vì tội chọc giận những người khác, hay vì trở thành những người không thích nghi được với hoàn cảnh, hay không uốn mình theo được chuẩn mực nào đó mà đa số chấp nhận. Plato đã nhìn thấy thật đúng rằng, nếu xuất hiện một xã hội không có bất đồng ý kiến thì các thi sĩ sẽ phải bị tống khứ đi; điều gây kinh hoàng cho những người nổi loạn chống lại chính sách này không hẳn là việc sa thải các thi sĩ truyền bá điều hoang tưởng như họ vốn là thế, mà là sự khao khát nền tảng [ngấm ngầm] ở bên dưới muốn chấm dứt tính đa dạng, sự hoạt động, cá tính bất cứ kiểu gì; một thèm muốn có một khuôn mẫu cố định cho cuộc sống và tư duy, vĩnh cửu, bất biến và đồng phục. Không có quyền phản đối cũng như khả năng phản đối, thì đối với Mill, đó là không có công lí, không có cứu cánh đáng để theo đuổi. “Nếu toàn nhân loại đều cùng một ý kiến và chỉ một người có ý kiến trái lại, thì khi bắt người đó phải ngậm miệng, nhân loại cũng không được biện minh hơn người đó, khi người đó có quyền lực bắt toàn nhân loại phải ngậm miệng lại”252.

Trong bài giảng ở loạt bài mà tôi đã trích dẫn, R.W. Livingstone, người chắc chắn có cảm tình với Mill, đã buộc tội ông quy cho con người quá nhiều lí tính: lí tưởng một sự tự do không bị cản trở có thể là quyền của những người đã đạt tới sự trưởng thành ở các khả năng của mình, thế nhưng hiện nay, hay ở đa số các thời đại, có được bao nhiêu người đúng với điều này? Chắc là Mill đòi hỏi quá nhiều và quá lạc quan chăng?253 Chắc rằng ở đây có một cảm nhận quan trọng mà Livingstone đã đúng: Mill không phải là nhà tiên tri. Nhiều sự phát triển xã hội đã khiến ông phải đau buồn, nhưng ông đã không có được ý niệm mơ hồ nào về sức mạnh gia tăng của những sức mạnh phi lí tính [sau đó] đã nhào nặn nên lịch sử của thế kỉ 20. Burckhardt và Marx, Pareto và Freud mẫn cảm hơn với những dòng chảy ở sâu hơn trong những thời đại của họ, và đã nhìn thấy được khá sâu hơn vào trong những con suối hành vi cá nhân và xã hội. Thế nhưng tôi không biết được bằng chứng nào cho thấy Mill đã đánh giá quá cao sự khai sáng ở thời đại của ông, hay ông đã cho rằng đa số người ta ở thời đại của ông đã trưởng thành hay có lí tính hay sắp sửa trở thành như vậy. Những gì ông đã nhìn thấy trước mắt mình là cảnh tượng một số người, được văn minh hóa theo những chuẩn mực bình thường, là những người bị đè nén, hay bị kì thị, hay bị truy bức bởi định kiến, bởi sự ngốc nghếch, bởi “tập thể tầm thường”254; ông đã nhìn thấy những người như thế bị tước đoạt mất những thứ ông xem như những quyền tự nhiên nhất của họ, và ông đã phản đối lại. Ông đã tin rằng tất cả sự tiến bộ của con người, tất cả sự vĩ đại, và đức hạnh và tự do của con người phụ thuộc chủ yếu vào việc giữ gìn bảo vệ những người như thế và dọn sạch những con đường mở ra trước họ. Nhưng ông không muốn họ được bổ nhiệm bởi những người Giám hộ của Plato255. Ông đã cho rằng những người giống như họ có thể được giáo dục nên, và khi họ được giáo dục rồi thì ắt sẽ được cho quyền lựa chọn, và những lựa chọn ấy trong những giới hạn nhất định phải không bị hạn chế hay bị định hướng bởỉ những người khác. Ông không đơn thuần biện hộ cho giáo dục và quên mất tự do mà những người được giáo dục có quyền được trao cho (như những người cộng sản đã làm thế), hay thúc ép đòi tự do lựa chọn hoàn toàn và quên mất rằng không có giáo dục đầy đủ thì nó sẽ dẫn đến hỗn loạn, và như một phản ứng lại tình trạng này, sẽ có tình trạng nô lệ mới (như những người vô chính phủ làm). Ông đòi hỏi cả hai. Nhưng ông đã không cho rằng quá trình ấy có thể nhanh chóng, hay dễ dàng, hay mang tính phổ quát: về tổng thể ông là người bi quan, và hệ quả là ông đã vừa bảo vệ lại vừa nghi kị nền dân chủ, do vậy mà ông đã bị công kích thật thích đáng, và đến nay vẫn còn bị phê phán gay gắt.

Livingstone quan sát thấy rằng Mill đã ý thức một cách sâu sắc về những hoàn cảnh ở thời đại của ông và không nhìn xa hơn những hoàn cảnh ấy. Tôi cảm thấy đây là một bình luận chính xác. Căn bệnh của nước Anh thời Victoria là chứng bệnh tâm thần sợ chỗ kín đáo (claustrophobia) - đã có một cảm nhận ngạt thở, và những người tốt đẹp nhất và tài năng nhất của thời kì này, Mill va Carlyle, Nietzsche và Ibsen, những người của cả cánh tả và cánh hữu - đã đòi hỏi có nhiều không khí hơn và nhiều ánh sáng hơn. Chứng loạn than kinh của đám đông thời đại bây giờ là chứng sợ khoảng rộng (agoraphobia); người ta bị kinh hoàng vì sự tan rã và có quá ít định hướng: họ giống như những người thiếu ông chủ của Hobbes trong trạng thái tự nhiên, đòi có được những bức tường để ngăn với đại dương đang nổi cơn thịnh nộ, đòi có trật tự, an ninh, tổ chức, quyền uy minh bạch và khả dĩ được thừa nhận, và bị báo động bởi viễn cảnh có quá nhiều tự do khiến họ bị lạc trong một chân không rộng lớn và không thân thiện, một sa mạc không có lối đi hay cột mốc hay những mục tiêu. Tình cảnh của chúng ta là khác hẳn với tình cảnh của thế kỉ 19 và các vấn đề của chúng ta cũng vậy: khu vực của phi lí tính được thấy là rộng hơn và phức tạp hơn so với bất cứ thứ gì mà Mill đã mộng thấy. Tâm lí học của Mill đã trở nên cổ lỗ và càng cổ lỗ nhiều hơn với mỗi phát minh được tìm thấy. Ông bị phê phán thật đúng vì chú ý quá nhiều đến những trở ngại thuần túy tinh thần cho việc sử dụng tự do được có kết quả - thiếu ánh sáng đạo đức và trí tuệ - và chú ý quá ít (dù không đến nỗi quá ít như những kẻ gièm pha xác nhận) đến tình trạng nghèo khó, bệnh tật và những nguyên nhân của chúng, cũng như đến những cội nguồn chung và tương tác của cả hai thứ; và tập trung quá hẹp vào tự do tư tưởng và thể hiện. Tất cả những điều này đều đúng. Nhưng với tất cả tri thức mới mẻ của chúng ta về kĩ thuật và tâm lí học, cũng như với những sức mạnh mới thật to lớn, chúng ta đã tìm thấy được những lời giải nào, ngoài “đơn thuốc” cổ đại được biện hộ bởi những người sáng lập chủ nghĩa nhân văn - Erasmus va Spinoza, Locke và Montesquieu, Lessing và Diderot - lí trí, giáo dục, tri thức về bản thân, trách nhiệm; trên hết cả là tri thức về bản thân? Có niềm hi vọng nào khác cho những con người, hay liệu có bao giờ có được chăng? 

Nguồn: Tất định luận và tự do lựa chọn (Liberty, Nhà xuất bản Oxford University Press, 2002) của Isaiah Berlin, do dịch giả Nguyễn Văn Trọng dịch một cách đầy đủ và mạch lạc

Dịch giả:
Nguyễn Văn Trọng