Tất định luận và tự do lựa chọn - Chương 4: John Stuart Mill và những cứu cánh của cuộc sống (Phần 1)

…tầm quan trọng, đối với con người và xã hội… của việc đem lại tự do đầy đủ cho bản chất con người nhằm triển khai bản thân mình theo vô số những phương hướng xung đột với nhau -J.S. MILL, Tự truyện194

Trong một thế giới, mà ở đó giả sử như quyền con người không bao giờ bị giẫm đạp lên, và con người không truy bức lẫn nhau vì tin vào điều gì hay vì hiện hữu thế nào, thì [trong thế giới ấy] không cần phải bảo vệ cho sự nghiệp xây dựng lòng khoan dung. Tuy nhiên đó không phải là thế giới của chúng ta. Chúng ta thực sự hiện đang ở xa hơn với điều kiện đáng khao khát ấy, xa nhiều hơn so với một số tổ tiên văn minh hơn của chúng ta, và bất hạnh thay về phương diện này, chúng ta lại chỉ thích nghi quá tốt với khuôn mẫu chung của trải nghiệm con người. Những thời kì và những xã hội, mà ở đó các quyền tự do dân sự được tôn trọng và sự đa dạng của ý kiến được khoan dung, là rất ít và khoảng cách rất xa nhau - những ốc đảo trong sa mạc của tính đồng phục, bất khoan dung và tình trạng đàn áp con người. Trong số những nhà thuyết giảng vĩ đại của thời Victoria thì Carlyle và Marx hóa ra lại là những nhà tiên tri tốt hơn là Macaulay và những người thuộc Đảng Tự do (Whigs), nhưng lại không nhất thiết là những người bạn bè tốt hơn của nhân loại; [họ] đầy hoài nghi và đặt nhân loại ở mức thấp nhất của những nguyên lí mà sự khoan dung dựa trên đó. Người bênh vực vĩ đại nhất cho những nguyên lí ấy, vốn là người đã phát biểu những nguyên lí ấy sáng tỏ nhất và do đó đã đặt nền tảng cho chủ nghĩa tự do hiện đại, chính là người mà ai cũng biết, tác giả của tiểu luận Bàn về tự do (On Liberty), John Stuart Mill. Cuốn sách này - “cuốn sách ngắn vĩ đại” này, như R.W. Livingstone đã gọi nó thật chính xác195 - được xuất bản một trăm năm trước đây.196

Đề tài này sau đó đã ở vị trí hàng đầu cho các thảo luận. Năm 1859 chứng kiến sự qua đời của hai nhà bênh vực cho tự do cá nhân được biết đến nhiều nhất ở châu Âu, Macaulay và Tocqueville. Năm đó đánh dấu một trăm năm ngày sinh của Friedrich Schiller, người được ca ngợi như nhà thơ của cá tính tự do và sáng tạo chống lại những đối thủ mạnh hơn gấp bội. Con người cá nhân được một số người xem như nạn nhân của những sức mạnh chiến thắng mới mẻ, một số người khác lại xem nó như đang nổi lên tiến tới sự tôn vinh của mình bởi những sức mạnh ấy, đó là những sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc và nền công nghiệp hóa đã ca tụng quyền lực và vinh quang của đám đông quần chúng đang biến cải thế giới thành những xưởng máy hay những bãi chiến trường hay những cuộc hội họp chính trị. Tình trạng khó xử của con người cá nhân đấu tranh với Nhà nước hay quốc gia hay tổ chức công nghiệp hay phe nhóm xã hội hay chính trị, đã trở thành vấn đề riêng tư và cồng cộng gay gắt. Cũng trong năm đó đã xuất hiện tác phẩm Nguồn gốc của giống loài của Darwin, có lẽ là công trình khoa học có nhiều ảnh hưởng nhất của thế kỉ này, là công trình cùng lúc đã làm được nhiều nhất để phá hủy các giáo điều và định kiến được tích tụ từ cổ xưa, đồng thời việc áp dụng sai lầm của nó vào tâm lí học, đạo đức học và chính trị học đã được sử dụng để biện minh cho chủ nghĩa đế quốc đầy bạo lực và tình trạng cạnh tranh không che đậy. Gần như đồng thời với công trình này đã xuất hiện một tiểu luận viết bởi một nhà kinh tế học ít ai biết đến, trình bày chi tiết một học thuyết có ảnh hưởng quyết định lên loài người. Tác giả là Karl Marx, với cuốn sách Góp phần phê phán kinh tế chính trị học (A Contribution to the Critique of Political Economy), lời tựa cuốn sách chứa đựng tuyên bố rõ ràng nhất về diễn giải lịch sử theo chủ nghĩa duy vật - tâm điểm của tất cả những gì mà ngày nay được gọi tên là chủ nghĩa Marx. Thế nhưng tác động lên tư duy chính trị bởi chuyên luận của Mill là cấp thiết tức thời nhiều hơn và có lẽ cũng không kém phần bền lâu. Nó thay thế những cách diễn đạt trước đó về chủ nghĩa cá nhân và sự khoan dung, từ Milton197 và Locke cho đến Montesquieu và Voltaire, mặc dù phần tâm lí học của nó đã lỗi thời và chuyên luận còn thiếu tính thuyết phục logic, nó vẫn là phát biểu kinh điển về trường hợp tự do cá nhân. Đôi khi chúng ta được bảo rằng hành vi của một người là biểu hiện đích thực những niềm tin của anh ta hơn là những lời nói của anh ta. Trong trường hợp của Mill không hề có xung đột. Cuộc đòi của ông là hiện thân những niềm tin của ông. Lòng trung thành hiến dâng của ông cho sự nghiệp của khoan dung và của lí trí là độc nhất vô nhị ngay cả trong những cuộc đời tận tụy của thế kỉ 19.

Ai cũng biết câu chuyện giáo dục thật phi thường của John Stuart Mill. Cha của ông, James Mill, là người cuối cùng trong những nhà lí luận (raisonneurs) vĩ đại của thế ki 18, và hoàn toàn không bị tác động bởi những dòng chảy lãng mạn vào thời ông đang sống. Giống như người thầy Bentham của ông và những nhà triết học duy vật luận Pháp, ông [James Mill] nhìn con người như một đối tượng tự nhiên và cho rằng một nghiên cứu hệ thống về giống người - được tiến hành theo đường lối tương tự như động vật học hay thực vật học hay vật lí học - có thể và ắt sẽ được thiết lập trên những nền tảng thường nghiệm vững chắc. Ông tự tin là đã thấu triệt được những nguyên lí của khoa học mới về con người, và tin chắc rằng bất cứ ai được giáo dục dưới ánh sáng của nó cũng sẽ được nuôi dạy thành một hữu thể duy lí bởi những hữu thể duy lí khác, nhờ đó mà được giữ gìn khỏi bị ngu dốt và yếu đuối, hai ngọn nguồn to lớn của phi lí tính trong tư duy và hành động, vốn là những thứ duy nhất chịu trách nhiệm về những nỗi khốn khổ và những tệ nạn xã hội của loài người. Ông đã nuôi dạy con trai của mình, John Stuart, trong sự cô lập với những đứa trẻ khác - những đứa ít được giáo dục một cách duy lí; chính các anh em trai và chị em gái của cậu gần như cũng chỉ là bạn đồng hành của cậu mà thôi. Cậu bé biết tiếng Hi Lạp từ lúc 5 tuổi, biết đại số học và tiếng Latin lúc 9 tuổi. Cậu bé được cho ăn kiêng về trí tuệ, [thức ăn] được chắt lọc thật cẩn thận và do cha cậu nấu nướng, kết hợp khoa học tự nhiên với văn chương cổ điển. Không có tôn giáo, không có siêu hình học, một ít thơ ca - không có gì trong những thứ mà Bentham bêu xấu như là tích tụ sự ngu xuẩn và lầm lạc của con người - được phép bén mảng lại gần cậu bé. Âm nhạc là nghệ thuật duy nhất cậu bé có thể tự do nuông chiều mình, có lẽ vì nó được cho là không dễ gì trình bày sai lạc thế giới hiện thực. Cuộc thí nghiệm theo một nghĩa nào đó đạt được kết quả thật kinh hoàng. John Mill lúc gần 12 tuổi, đã có được hiểu biết của một người thông thái xuất chúng ở tuổi 30. Trong tường thuật trung thực đến đau đớn về bản thân với trí óc tỉnh táo sáng suốt thật câu nệ cứng nhắc, ông [John Mill] nói rằng những cảm xúc của ông bị thiếu thốn trong khi trí óc lại bị phát triển quá mãnh liệt. Cha của ông không chút nghi ngờ về giá trị thí nghiệm của mình. Ông ta đã thành công trong việc tạo ra một hữu thể duy lí hoàn hảo được thông tin tuyệt hảo. Chân lí trong quan điểm của Bentham về giáo dục đã được chứng minh hoàn toàn. 

Những kết quả của việc đối xử như thế chẳng còn gây kinh ngạc cho ai ở thời đại ít ngây thơ về tâm lí học của chúng ta. Vào giai đoạn đầu của tuổi trưởng thành John Mill đã trải qua cuộc khủng hoảng đầu tiên đầy đau đớn của mình. Ông cảm thấy thiếu mục đích, một sự tê liệt ý chí và một nỗi tuyệt vọng kinh khủng. Với thói quen được rèn luyện tốt, và quả thật không thể từ bỏ được, quy giản bất mãn về cảm xúc thành một vấn đề được phát biểu rõ ràng, ông tự hỏi mình một câu hỏi đơn giản: giả định lí tưởng cao quý của Bentham về hạnh phúc phổ quát mà ông được dạy phải tin vào và ông cũng đã tin vào với khả năng tốt nhất của mình, [giả định lí tưởng ấy] được thực hiện, thì liệu điều đó có thực sự thỏa mãn tất cả những khát vọng của ông không? Ông kinh hoàng tự thú nhận rằng chắc là không. Vậy thì cứu cánh đích thực của cuộc đời là gì? Ông đã không thấy có mục đích nào trong tồn tại: mọi thứ trong thế giới của ông nay có vẻ như khô khan và lạnh lẽo. Ông đã cố phân tích tình trạng của mình. Liệu có phải ông đã hoàn toàn mất hết cảm xúc - liệu có phải ông là một quái vật với phần lớn bản chất nhân tính bị teo đi chăng? Ông đã cảm thấy rằng mình không có động cơ nào để tiếp tục sống và ông đã muốn được chết.

Một ngày kia ông đọc được một câu chuyện thương tâm trong hồi kí của nhà văn Pháp Marmontel nay đã hầu như bị lãng quên, đột nhiên ông đã cảm động đến rơi nước mắt. Điều này đã thuyết phục ông rằng ông có khả năng xúc cảm, và cùng với điều này cũng bắt đầu quá trình phục hồi của ông. Nó có hình thức của một cuộc nổi loạn, chậm rãi, bị che đậy, miễn cưỡng, nhưng thật sâu sắc và không thể cưỡng lại, nhằm chống lại quan điểm về cuộc sống vốn đã được khắc sâu vào trí não bởi cha ông và những người đi theo Bentham. Ông đã đọc thơ ca của Wordsworth198, ông đã đọc và gặp gỡ với Coleridge199; quan điểm của ông về bản chất con người, về lịch sử và số phận của nó, đã biến đổi. Theo tính khí của mình John Mill không phải là người nổi loạn. Ông đã yêu mến và ngưỡng mộ cha ông thật sâu sắc, và được thuyết phục về giá trị những giáo lí chủ yếu của cha ông. Ông đứng cùng Bentham chống lại chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa siêu phàm, chính sách ngu dân, chống lại tất cả những gì kháng cự lại cuộc hành tiến của lí trí, sự phân tích và khoa học thường nghiệm. Ông giữ những niềm tin ấy thật vững chắc suốt cuộc đời mình. Dù vậy, ý niệm của ồng về con người, và do đó về nhiều thứ khác nữa, đã chịu một sự thay đổi to lớn. Ông đã không trở thành một kẻ theo dị giáo công khai đến từ phong trào Công lợi chủ nghĩa nguyên bản, [ông giống] như một đệ tử đã bỏ sư môn, mà vẫn giữ lại những gì anh ta nghĩ là chân lí hay có giá trị, nhưng cảm thấy không bị ràng buộc bởi những lề luật và nguyên tắc của phong trào. Ông tiếp tục rao giảng rằng hạnh phúc là cứu cánh duy nhất của tồn tại nhân bản, nhưng ý niệm của ông về những gì góp phần vào hạnh phúc thì đã thay đổi, biến thành một thứ gì đó rất khác với thứ hạnh phúc của những người hướng dẫn, vì ông đã xem giá trị cao nhất chẳng phải là tính duy lí cũng chẳng phải là sự thỏa mãn, mà là tính đa dạng, tính đa năng, tính đầy đủ của đời sống - bước nhảy vọt không thể giải thích của một cá nhân thiên tài, một sự tự phát và tính độc đáo của một con người, một nhóm người, một nền văn minh. Điều mà ông căm ghét và e ngại, ấy là tính hẹp hòi, tình trạng đồng phục, tác động gây què quặt của việc truy bức, sự nghiền nát các cá nhân bởi sức nặng của quyền uy hay của tập quán hay của ý kiến công chúng; ông đặt mình vào vị trí chống lại thói sùng bái trật tự hay ngăn nắp, hay thậm chí cả hòa bình nữa, nếu chúng được mua lại bằng cái giá phá sạch tính đa dạng và phong cách của những con người bất khuất cùng với những đam mê không dập tắt được và những trí tưởng tượng không bị hạn chế [của họ]. Có lẽ đó là sự bù đắp lại khá tự nhiên cho tuổi thơ và thời niên thiếu của chính ông bị huấn luyện, bị làm cho teo lại và bị lệch lạc về cảm xúc.

Ở tuổi 17 ông đã định hình đầy đủ về tinh thần. Hành trang trí tuệ của John Mill có lẽ là độc nhất vô nhị ở thời đại đó hay bất cứ thời đại nào khác. Ông có đầu óc sáng láng, ngay thẳng, có khả năng diễn đạt rất rõ ràng, hết sức nghiêm chỉnh và không có dấu hiệu nào của sợ hãi, kiêu căng hay hài hước. Trong mười năm tiếp theo ông đã viết các bài báo và các bài tổng quan với tat cả sức nặng của người có khả năng thừa kế chính thức của toàn bộ phong trào Công lợi đặt trên đôi vai của ông; và mặc dù những bài báo của ông khiến ông có được tên tuổi lớn, và trở thành một nhà báo đáng gờm và là niềm tự hào cho những người hướng dẫn ông cũng như các đồng minh [của họ], thế nhưng giọng điệu trong các trước tác của ông không phải là giọng điệu của họ. Ông đã ca ngợi những gì cha của ông đã ca ngợi - tính duy lí, phương pháp thường nghiệm, nền dân chủ, sự bình đẳng - và ông đã công kích những gì các nhà Công lợi chủ nghĩa đã công kích - tôn giáo, niềm tin vào những chân lí theo trực giác và không thể chứng minh cũng như những hệ lụy giáo điều của chúng, là những thứ dẫn đến việc từ bỏ lí trí, theo quan điểm của họ cũng như của ông, [ông đã công kích] những xã hội đẳng cấp, thói vụ lợi, bất khoan dung đối với phê bình, định kiến, phản động, bất công, nỗi khốn khổ. Vậy mà điểm nhấn đã bị dịch chuyển. James Mill và Bentham đã mong muốn theo nghĩa đen không có gì khác ngoài niềm vui sướng thu nhận được bằng bất cứ phương tiện nào hiệu quả nhất. Giả sử như có ai đó chào hàng cho họ một thứ thuốc được chứng minh một cách khoa học là khiến cho người dùng thuốc ấy luôn ở trạng thái thỏa mãn, thì những tiền đề của họ buộc họ phải chấp nhận thuốc ấy như thuốc trị được tất cả mọi thứ mà họ coi là xấu xa. Miễn là số người đông nhất nhận được hạnh phúc kéo dài, hay chỉ là thoát khỏi đau đớn thôi, thì đạt được điều đó bằng cách nào không phải là vấn đề. Bentham và James Mill tin vào giáo dục và xây dựng luật pháp như con đường dẫn đến hạnh phúc. Nhưng nếu giả sử có con đường ngắn hơn được tìm thấy dưới hình thức uống những viên thuốc, những kĩ năng gợi ý dưới ngưỡng ý thức hay những phương tiện huấn luyện con người khác mà thế kỉ của chúng ta đã đạt được những bước tiến dài, thì họ, vốn là những người nhất quán đến cuồng tín, rất có thể cũng đã chấp nhận điều này như một lựa chọn khác tốt hơn vì hiệu quả hơn và có lẽ ít tốn kém hơn, so với những phương pháp mà họ đang ủng hộ. John Stuart Mill, như ông đã nói rõ ý nghĩ của mình bằng cuộc sống cũng như bằng các trước tác của mình, hẳn sẽ hết sức bác bỏ bất cứ lời giải đáp nào như thế. Ông hẳn sẽ lên án nó như làm mất phẩm giá của bản chất con người. Đối với ông con người khác con vật trước hết chẳng phải vì có lí trí cũng chẳng phải vì biết tạo ra công cụ và phương pháp, mà vì con người có khả năng lựa chọn, con người thể hiện mình nhiều nhất trong việc tự lựa chọn chứ không phải được lựa chọn cho [mục đích nào đó], là người cưỡi ngựa chứ không phải là con ngựa; là người tìm kiếm những cứu cánh chứ không đơn thuần là phương tiện, những cứu cánh mà anh ta theo đuổi, mỗi người theo cách riêng của mình: với hệ luận là càng nhiều cách thức đa dạng khác nhau thì cuộc sống của người ta càng trở nên phong phú hơn; tác động qua lại giữa các cá nhân càng rộng mở thì càng có nhiều hơn cơ hội cho điều mới mẻ và bất ngờ; càng có nhiều hơn những khả năng biến cải tính cách riêng của con người theo một hướng tươi mới và chưa được khám phá, thì càng có nhiều con đường được mở ra hơn cho mỗi cá nhân, và tự do của anh ta trong hành động và tư duy sẽ được mở rộng hơn.

Phân tích đến cùng, có vẻ như tất cả những biểu hiện bề ngoài trái nghịch lại chính là điều mà Mill quan tâm nhiều nhất, về mặt chính thức ông tuyên bố cam kết đối với việc theo đuổi duy nhất cho hạnh phúc. Ông tin tưởng sâu sắc vào công lí, nhưng giọng nói của ông là đặc biệt của riêng ông nhiều nhất, khi ông miêu tả những vẻ huy hoàng của tự do cá nhân, hay khi ông lên án bất cứ điều gì nhằm vào việc cắt giảm hay dập tắt tự do ấy. Bentham cũng vậy, không giống như những vị tiền nhiệm người Pháp vốn tin cậy vào các chuyên gia đạo đức và khoa học, ông đã đưa ra khẳng đinh rằng mỗi người là quan tòa tốt nhất phán xét hạnh phúc của riêng mình. Mặc dù vậy, đối với Bentham thì nguyên lí của ông vẫn đúng ngay cả sau khi mỗi người đang sống đã nuốt viên thuốc gây-hạnh phúc và bằng cách đó xã hội bị tan biến đi hay bị quy giản thành một tình trạng hạnh phúc trọn vẹn không bị phá vỡ và thật đồng đều. Đối với Bentham chủ nghĩa cá nhân là một dữ liệu tâm lí; đối với Mill đó là một lí tưởng. Mill ưa thích sự bất đồng quan điểm, tính độc lập, những nhà tư tưởng cô đơn vốn coi thường giới quyền uy. Trong một bài báo được công bố khi ông 18 tuổi (đòi hỏi khoan dung đối với một người theo vô thần luận mà nay đã hầu như bị lãng quên có tên là Richard Carlile) ông đã nói ra một cảm nghĩ mà sau này còn vang lên nhiều lần trong các trước tác của ông suốt phần đòi còn lại: “Những người Kitô giáo mà những nhà cải cách của họ bị chết trong hầm tù hay ở cột hành hình giống như những kẻ dị giáo, kẻ bội giáo và kẻ báng bổ Chúa; những người Kitô giáo, mà tôn giáo của họ tràn đầy lòng nhân đức, tự do và từ tâm; tức là họ đang chiếm được quyền lực chừng nào mà họ còn là nạn nhân, nếu họ lại sử dụng quyền lực ấy theo cùng một kiểu cách y như vậy… [trong] việc truy bức đầy hận thù, thì đó là chuyện tàn ác quái đản nhất”200. Ông vẫn là người bênh vực cho những kẻ dị giáo, kẻ bội giáo, kẻ báng bổ Chúa, [bênh vực] cho tự do và từ tâm trong suốt phần còn lại của cuộc đời mình.

Hành động của ông luôn hòa hợp với những lời rao giảng của ông. Những chính sách công cộng mà tên tuổi của Mill gắn liền với chúng trong tư cách một nhà báo, một nhà cải cách và một chính khách, hiếm khi nào gắn với các dự án điển hình mang tính Công lợi được ủng hộ bởi Bentham và được thực hiện thành công bởi nhiều môn đệ của ông ta: những sơ đồ vĩ đại về công nghiệp, tài chính, giáo dục, những cải cách về y tế công cộng hay sự tổ chức lao động và thời gian nhàn rỗi. Những vấn đề mà Mill khao khát cống hiến, dù là tròng những quan điểm được công bố hay những hành động của ông, đều liên quan đến thứ gì đó khác biệt: sự mở rộng tự do cá nhân, đặc biệt là tự do ngôn luận: hiếm khi là bất cứ thứ gì đó khác. Khi Mill tuyên bố rằng chiến tranh còn tốt hơn là đàn áp, hay là một cuộc cách mạng giết hết tất cả những người có thu nhập hằng năm trên 500 bảng có thể sẽ cải thiện được tình hình rất nhiều, hay là hoàng đế Pháp Napoleon III là kẻ hèn hạ nhất còn đang sống; khi ông bày tỏ vui mừng trước thất bại của Palmerston về dự luật xem âm mưu chống lại những kẻ chuyên chế nước ngoài là một tội phạm hình sự ở nước Anh; khi ông lên án các Bang miền Nam trong cuộc nội chiến của nước Mĩ, hay khi ông tự làm cho mình trở thành người không được quần chúng ưa thích một cách dữ dội bằng bài phát biểu tại Hạ nghị viện bảo vệ cho những kẻ ám sát Fenian201 (và bằng cách đó có lẽ đã cứu được sinh mạng cho họ), hay khi bênh vực cho quyền của phụ nữ, hay của người lao động, hay của nhân dân thuộc địa, thì như vậy ông đã tự biến mình thành người bênh vực say mê nhất và nổi tiếng nhất ở nước Anh cho những người bị sỉ nhục và bị đàn áp, thật khó mà cho rằng chiếm vị trí tối thượng trong đầu óc của ông không phải là tự do và công bằng (với mọi giá), mà là công lợi (tính đến giá cả). Những bài báo của ông và sự ủng hộ chính trị của ông đã cứu được Durham và bản Báo cáo của ông ta202, khi cả hai đã có nguy cơ bị đánh bại bởi sự phối hợp của các đối thủ cánh tả và cánh hữu, nhờ đó đã tạo ra rất nhiều đảm bảo cho chính sách tự trị trong khối Thịnh vượng chung của Anh. Ông đã giúp hủy hoại được uy tín của Thống đốc Eyre, người đã gây ra những hành động tàn bạo ở Jamaica203. Ông đã cứu được quyền hội họp công cộng và tự do phát biểu tại Hyde Park204 chống lại Chính phủ muốn phá hủy nó. Ông đã viết và phát biểu đòi quyền đại diện theo tỉ lệ, vì theo ông chỉ có như thế mới cho phép các nhóm thiểu số (không nhất thiết là những nhóm thiểu số có đạo đức hay duy lí) có được tiếng nói. Ông phản đối việc giải thể Công ti Đông Ấn mà ông, giống như cha ông, từng làm việc tận tụy vì nó, trước sự ngạc nhiên của những người cấp tiến, vì e ngại bàn tay chết chóc của chính phủ nhiều hơn là bàn tay của những kẻ gia trưởng, chứ không phải ông không e ngại sự thống trị vô nhân đạo của các viên chức của Công ti. Mặt khác, ông không phản đối sự can thiệp của Nhà nước như nó vốn là thế; ông hoan nghênh Nhà nước trong việc xây dựng luật giáo dục và lao động, vì ông cho rằng thiếu nó thì những người yếu ớt nhất sẽ bị nô dịch và bị nghiền nát; và vì nó có thể gia tăng phạm vị lựa chọn cho đa số con người ngay cả khi nó kìm hãm một vài người. Những gì là chung cho tất cả những lí do đó, ấy là không có dính dáng gì có thể có với nguyên lí “hạnh phúc lớn nhất”205, mà là với sự kiện ông xoay quanh vấn đề quyền con người - tức là về tự do và khoan dung.

Tất nhiên tôi không có ý giả định rằng đã không có dính dáng gì như thế ở trong tâm trí của Mill. Có vẻ như ông rất thường hay biện hộ quyền tự do trên cơ sở cho rằng không có nó thì chân lí không thể được khám phá - chúng ta không thể tiến hành những thí nghiệm ấy cả trong suy tưởng lẫn trong “cuộc sống”206 vốn là thứ duy nhất phát hiện cho chúng ta điều mới mẻ, những cách thức không phải còn trong ý định để tối đa hóa niềm vui sướng và tối thiểu hóa sự đau đớn - nguồn gốc tối hậu duy nhất của giá trị. Khi đó thì tự do có giá trị như một phương tiện, chứ không phải như một cứu cánh. Thế nhưng khi chúng ta hỏi Mill hàm ý gì ở niềm vui sướng hay hạnh phúc, thì câu trả lời là rất không rõ ràng. Dù hạnh phúc có thể là gì đi nữa, thì theo Mill, đó không phải là thứ mà Bentham cho là thế: vì ý niệm của ông ta về bản chất con người được bày tỏ quá hạn hẹp và hoàn toàn không thỏa đáng; ông ta không có sự thấu hiểu giàu tưởng tượng về lịch sử hay về xã hội hay về tâm lí cá nhân; ông ta không hiểu được cái gì duy trì xã hội ở trong kết hợp cùng nhau, cũng như cái gì đáng lẽ phải duy trì nó - những lí tưởng chung, lòng trung thành, tính cách dân tộc; ông ta không nhận thức được niềm vinh dự, phẩm giá, tự vun trồng, hay tình yêu với cái đẹp, trật tự, quyền lực, hành động; ông ta chỉ hiểu có mỗi phương diện “công việc” của cuộc sống thôi207. Phải chăng những mục đích ấy, vốn được Mill xem là trung tâm, có ý nghĩa nhiều hơn là những phương tiện cho một mục đích đơn nhất - hạnh phúc? Hay chúng là những giống loài của hạnh phúc? Mill không bao giờ nói cho chúng ta biết thật rõ ràng. Ông nói rằng hạnh phúc - tính công lợi - chẳng có chút ích lợi gì như một tiêu chí cho việc cư xử - cùng lúc phá hủy luôn lời khẳng định huy hoàng nhất và thực chất là học thuyết trung tâm, trong hệ thống của Bentham. “Chúng tôi cho rằng”, ông nói trong một tiểu luận về Bentham (chỉ được công bố sau cái chết của cha ông), “tính công lợi, hay hạnh phúc, là một cứu cánh quá phức tạp hay quá mập mờ, nên không tìm kiếm được, ngoại trừ phải thông qua trung gian của những cứu cánh thứ cấp đa dạng, mà những người có các chuẩn mực tối hậu khác nhau có thể, và rất thường hay, có được thỏa thuận liên quan đến chúng”208. Ở Bentham điều này là khá đơn giản và xác định; nhưng Mill bác bỏ công thức của ông ta vì nó dựa trên quan điểm sai lầm về bản chất con người. Điều này là “phức tạp” và “mập mờ” ở Mill vì ông đưa vào nó nhiều cứu cánh đa dạng (và có lẽ không phải luôn tương thích với nhau) mà người ta quả thực theo đuổi chỉ vì bản thân chúng, và là những thứ mà Bentham hoặc là bỏ qua hoặc là xếp loại một cách sai lầm vào mục niềm vui sướng: tình yêu, lòng căm ghét, khao khát công bằng, hành động, tự do, quyền lực, vẻ đẹp, tri thức, hi sinh quên mình. Trong các trước tác của Mill “hạnh phúc” hàm ý một thứ gì đó rất giống với “thực hiện một mong ước”, bất kể là mong ước gì. Điều này làm dãn ý nghĩa của nó đến mức trống rỗng. Chữ nghĩa vẫn còn lại; nhưng tinh thần - cái quan điểm cũ trong đầu óc nghiêm khắc của Bentham mà đối với quan điểm ấy, nếu nó không phải là một tiêu chí rõ ràng và cụ thể thì sẽ chẳng là gì hết, như là vô giá trị, giống như lời nói vớ vẩn “siêu việt” theo trực giác để thay thế - tình thần Công lợi đích thực - [tinh thần ấy] đã biến mất. Mill quả thật đã bổ sung rằng “khi hai nguyên lí thứ cấp, hay nhiều nguyên lí ấy, xung đột với nhau… thì sẽ cần thiết phải viện dẫn trực tiếp đến nguyên lí nguyên khởi nào đó”209. Nguyên lí ấy là tính công lợi; tuy nhiên, ông không đưa ra chỉ dẫn làm thế nào để áp dụng ý niệm ấy, mà nội dung cũ của nó, mang tính duy vật nhưng dễ hiểu, nay đã bị cạn kiệt.

Chính cái khuynh hướng này của Mill muốn né tránh không đi vào những gì mà Bentham gọi là “những khái quát mơ hồ”, khiến cho người ta phải hỏi thực ra thì thang bậc hiện thực về các giá trị của Mill là gì, như được thể hiện qua các trước tác và hành động của ông. Nếu như cuộc đời ông và những sự nghiệp mà ông ủng hộ, là đôi chút bằng chứng nào đó, thì có vẻ như rõ ràng là giá trị cao nhất đối với ông trong đời sống công cộng - dù ông có gọi chúng là “những cứu cánh thứ cấp” hay không - chính là tự do cá nhân, tính đa dạng và sự công bằng. Nếu như Mill có thể bảo vệ tính đa dạng bị thách thức trên cơ sở nói rằng, nếu không có được một mức độ đủ đa dạng, thì nhiều hình thức của hạnh phúc nhân bản (hay là sự thỏa mãn, hay hoàn tất, hay là những trình độ cao hơn của đời sống) hiện còn chưa thể ngờ tới, sẽ có thể bị bỏ qua không được biết tới, không được thử nghiệm, không được thực hiện; trong số đó có những đời sống hạnh phúc hơn bất cứ đời sống nào từng được trải nghiệm. Đây là luận đề của ông và ông chọn lựa gọi nó là Chủ nghĩa công lợi. Thế nhưng nếu có ai đó tranh cãi rằng một sự sắp xếp xã hội nhất định, thực hữu hay khả dĩ đạt được, tạo ra khá đủ hạnh phúc - trong những giới hạn rõ ràng không thể vượt qua của bản thể con người và môi trường xung quanh (ví dụ như khó có khả năng con người trở nên bất tử hay cao lớn như núi Everest), thì tốt hơn nên tập trung vào thứ tốt nhất chúng ta đang có, vì sự thay đổi cũng có thể dẫn đến suy giảm hạnh phúc chung, trong mọi khả năng thường nghiệm, do đó là điều nên tránh, [nếu có như vậy] ta có thể tin chắc rằng Mill ắt sẽ bác bỏ ngay luận cứ ấy. Ông ắt sẽ buộc phải đáp lại rằng chúng ta không bao giờ nói được (cho tới khi đã thử) chân lí hay hạnh phúc lớn hơn (hay bất cứ hình thức trải nghiệm nào) có thể nằm ở đâu. Cho nên tính chung cuộc về nguyên tắc là bất khả dĩ: Tất cả mọi lời giải phải mang tính ướm thử và tạm thời. Đầy là tiếng nói một đồ đệ của cả Saint-Simon va Constant hay cua Humboldt. Nó trực tiếp đi ngược lại với chủ nghĩa Công lợi truyền thống - tức là thế kỉ 18, vốn dựa trên quan điểm cho rằng có tồn tại một bản chất không thể biến cải của các sự vật, và rằng những đáp án cho các vấn đề xã hội cũng như các vấn đề khác, ít nhất cũng về nguyên tắc, có thể được khám phá một cách khoa học, một lần cho mãi mãi. Đây chính là điều mà có lẽ, bất chấp e ngại của ông về nền dân chủ ngu dốt và phi lí tính và do đó mà khao khát một chính phủ của những người được khai sáng và của các chuyên gia (và trong suốt cuộc đời cứ khăng khăng nhấn mạnh tầm quan trọng của những mục tiêu cho sùng bái chung, ngay cả khi còn thiếu phê phán), đã chặn đứng chủ nghĩa Saint-Simon của ông, đã khiến ông quay sang chống lại Comte, và giữ cho ông thoát khỏi khuynh hướng tinh hoa ở nơi các đệ tử Fabian của ông.210

Có một chủ nghĩa lí tưởng tự phát và không tính toán ở trong tâm trí và hành động của ông, vốn hoàn toàn xa lạ đối với sự mỉa mai vô cảm và sắc sảo của Bentham hay đối với chủ nghĩa duy lí đầy tự phụ và cứng nhắc của James Mill. Ông nói với chúng ta rằng những phương pháp giáo dục của cha ông đã biến ồng thành một cỗ máy tính toán bị sấy khô, vốn vẫn còn khá gần gũi với hình ảnh được công chúng ưa thích của một triết gia Công lợi chủ nghĩa phi nhân; chính nhận thức của ông về điều này khiến người ta phải tự hỏi liệu có bao giờ điều này có thể đã hoàn toàn là sự thật hay không. Bất chấp cái đầu hói trang nghiêm, bộ quần áo màu đen, vẻ mặt nghiêm trọng, lời lẽ cân nhắc, hoàn toàn thiếu hài hước, cuộc đời của Mill là một cuộc nổi loạn không ngừng chống lại những quan điểm và lí tưởng của cha ông, phần nhiều hơn là ngầm ở dưới mặt đất và không được thừa nhận. 

Mill hầu như không có chút nào năng khiếu tiên tri. Không giống những người đương thời với ông như Marx, Burckhardt, Tocqueville, ông đã không nhìn thấy được thế kỉ 20 sẽ đem đến cái gí, chẳng thấy được cả những hệ lụy chính trị và xã hội của công nghiệp hóa, cũng chẳng thấy được việc khám phá sức mạnh của những yếu tố phi lí tính và vô thức trong hành vi của con người cũng như những lã năng gây kinh hoàng mà tri thức ấy đã dẫn đến và còn đang dẫn đến. Sự biến đổi xã hội đã dẫn đến sự trỗi dậy của những ý thức hệ thế tục nổi trội và những cuộc chiến tranh giữa chúng, sự thức tỉnh của châu Phi và châu Á, sự kết hợp kì quặc của chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa xã hội hiện nay - tất cả những thứ ấy đều ở bên ngoài đường chân trời của Mill. Tuy nhiên, nếu như ông đã không mẫn cảm với những đường nét của tương lai, thì ông lại nhận thức được một cách sâu sắc về những yếu tố phá hủy đang hoạt động trong thế giới của chính ông. Ông căm ghét và e ngại sự chuẩn mực hóa. Ông cảm thấy rằng nhân danh lòng nhân đức, dân chủ và bình đẳng, một xã hội đang được tạo thành, mà ở đó những mục tiêu nhân bản đã bị làm cho hạn hẹp lại và nhỏ bé đi một cách giả tạo và đa số con người bị cải tạo thành những con cừu công nghiệp thuần túy, sử dụng hình ảnh của người bạn được ông ngưỡng mộ là Tocqueville211, mà ở đó theo lời nói của chính ông, “một thứ tập thể tầm thường”212 đang dần dần bóp nghẹt tính độc đáo. và những năng khiếu cá nhân. Ông đã chống lại cái được gọi là “những con người tổ chức”, một lớp người mà Bentham về nguyên tắc có thể không có phản đối duy lí nào. Ông đã biết, đã e ngại và căm ghét tính cách rụt rè, ôn hòa, thích nghi tự nhiên, thiếu quan tâm đến những vấn đề con người. Đó là nền tảng chung giữa ông và người bạn của ông, một ông bạn khả nghi và không chung thủy, Thomas Carlyle. Trên hết cả, ông đã luôn cảnh giác đề phòng những người sẵn sàng bán đi quyền con người cơ bản của mình - quyền tự trị trong lĩnh vực công cộng của đời sống - cốt sao được để yên đặng chăm sóc vườn tược của mình. Những đặc trưng này nơi cuộc sống của chúng ta hiện nay ông hẳn đã nhận biết với sự kinh hãi. Ông đã xem tình đoàn kết của con người là điều dĩ nhiên, có lẽ hơi quá dĩ nhiên. Ông đã không e ngại sự cô lập của cá nhân hay nhóm người, những yếu tố gây nên sự tha hóa và làm tan rã các cá nhân và các xã hội. Ông đã quá bận tâm với những điều xấu xa đối lập lại về xã hội hóa và đồng phục hóa213. Ông đã khao khát một sự đa dạng rộng rãi nhất cho đời sống nhân bản và cho tính cách. Ông đã thấy rằng điều này không thể đạt được nếu không bảo hộ cho các cá nhân thoát khỏi tình trạng chống lại nhau, và trên hết, thoát khỏi sức nặng kinh khủng của áp lực xã hội; điều này đã dẫn ông đến những đòi hỏi nhất quyết và kiên định đối với khoan dung.

Khoan dung, Herbert Butterfield đã nói với chúng ta, hàm ý một sự thiếu tôn trọng nhất định214. Tôi khoan dung với những niềm tin vô lí của anh và những hành động ngớ ngẩn của anh, dù tôi biết rằng chúng là vô lí và ngớ ngẩn. Tôi cho rằng Mill chắc cũng đồng ý. Ông đã tin rằng duy trì một ý kiến thật sâu sắc tức là đưa những tình cảm của chúng ta vào ý kiến đó. Có lần ông đã tuyên bố rằng khi chúng ta quan tâm thật sâu sắc, chúng ta ắt không ưa những kẻ giữ ý kiến đối lập lại215. Ông đã ưu tiên cho điều này hơn là những tính khí và những ý kiến lạnh lùng. Ông đề nghị chúng ta không nhất thiết phải kính trọng quan điểm của những người khác - khác rất xa - chỉ để cố hiểu được và khoan dung với chúng; chỉ nên khoan dung; không tán thành, nghĩ xấu [về chúng], nếu cần thì nhạo báng hay khinh miệt, nhưng khoan dung; vì rằng nếu không có sự tin chắc, nếu không có một ác cảm nào đó thì ông cho rằng cũng không có được sự tin chắc; mà nếu không có sự tin chắc thì cũng không có những cứu cánh của cuộc sống, và khi ấy một vực thẳm khủng khiếp, mà đã có lần ông từng đứng bên bờ của nó, sẽ há miệng ra trước chúng ta. Thế nhưng nếu không có khoan dung thì những điều kiện để có phê phán duy lí, kết tội duy lí, sẽ bị phá hủy. Như vậy ông nài xin cho lí trí và khoan dung với mọi giá. Hiểu được không có nghĩa là tha thứ. Chúng ta có thể tranh cãi, đả kích, bác bỏ, kết tội với cảm xúc và căm ghét. Nhưng chúng ta có thể không dập đi hay kìm nén lại: vì như thế là phá hủy điều xấu và điều tốt, và cũng chẳng khác gì với đạo đức tập thể và tự sát về trí tuệ. Có vẻ như ông dành ưu tiên cho thái độ tôn trọng đầy hoài nghi với những ý kiến của những người đối lập, hơn là thái độ thờ ơ lãnh đạm hay trâng tráo. Nhưng ngay cả những thái độ ấy cũng còn ít tổn hại hơn là bất khoan dung, hay áp đặt một học thuyết chính thống giết chết những cuộc thảo luận duy lí.

Đây là niêm tin của Mill. Phát biểu kinh điển của niềm tin ấy được thể hiện trong cuốn tiểu luận Bàn về tự do, mà ông bắt đầu viết vào năm 1855 cùng với người vợ, vốn đã trở thành nhân vật nổi trội trong cuộc sống của ông, sau người cha của ông. Cho tới khi qua đời ông vẫn tin rằng bà được phú cho một thiên tài lớn hơn ông rất nhiều. Ông đã công bố tiểu luận sau cái chết của bà vào năm 1859 không có những cải tiến mà ông tin chắc rằng thiên tài độc nhất của bà hẳn đã có thể đem lại cho cuốn sách.

Nguồn: Tất định luận và tự do lựa chọn (Liberty, Nhà xuất bản Oxford University Press, 2002) của Isaiah Berlin, do dịch giả Nguyễn Văn Trọng dịch một cách đầy đủ và mạch lạc

Dịch giả:
Isaiah Berlin