Tất định luận và tự do lựa chọn - Chương 3: Hai khái niệm về tự do (Phần 5)

Tất định luận và tự do lựa chọn - Chương 3: Hai khái niệm về tự do (Phần 5)

Người ta nói với chúng ta rằng phương pháp đích thực duy nhất để đạt được tự do là thấu hiểu được cái gì là tất yếu và cái gì là ngẫu nhiên thông qua sử dụng lí trí phê phán. Nếu tôi là một cậu học trò, chỉ trừ ra những chân lí toán học đơn giản nhất, còn mọi thứ đều như những chướng ngại áp đặt vào đầu óc đang hoạt động tự do của tôi, giống như các định lí mà tôi không hiểu được tính tất yếu của chúng; chúng được tuyên bố là chân lí bởi quyền uy ngoại tại nào đó và trình bày chúng cho tôi như những vật thể xa lạ mà tôi được là vọng sẽ hấp thụ chúng vào hệ thống của tôi một cách máy móc. Thế nhưng khi tôi hiểu được các chức năng của các kí hiệu, các tiên đề, sự hình thành và biến đổi của các quy tắc - cái logic nhờ đó mà thu được các kết luận - và nắm vững được rằng những thứ ấy không thể nào khác được, bởi chúng dường như tuân theo các định luật cai quản các quá trình trong lí trí của tôi149, khi ấy thì các chân lí toán học sẽ không còn như những thực thể ngoại tại áp đặt cưỡng bức vào tôi mà tôi phải nhận lấy dù muốn hay không, nhưng như một thứ gì đó tôi mong muốn một cách tự do trong tiến trình vận hành tự nhiên của hoạt động lí tính của chính bản thân tôi. Đối với nhà toán học, phần chứng minh các định lí là một phần của việc vận dụng khả năng lí trí tự nhiên của anh ta. Đối với nhạc công, sau khi anh ta đồng hóa khuôn mẫu sáng tác của nhạc sĩ và khiến cho các mục đích của nhạc sĩ trở thành mục đích của anh ta, thì việc chơi nhạc không phải là tuân theo các quy luật ngoại tại, không phải là ép buộc và rào cản đối với tự do, mà là một vận dụng tự do không bị ngăn trở. Người chơi nhạc không bị bó buộc vào bản nhạc như con bò với cái cày, hay như người thợ với cái máy. Anh ta đã hấp thụ bản nhạc vào hệ thống riêng của anh ta, đã đồng nhất nó với bản thân bằng cách thấu hiểu bản nhạc, đã biến đổi bản nhạc từ một vật cản đối với hoạt động tự do thành một yếu tố ở trong bản thân hoạt động. 

Người ta nói với chúng ta rằng cái gì áp dụng được vào âm nhạc hay toán học thì về nguyên tắc cũng áp dụng được cho mọi trở ngại khác, chúng xảy ra như thật nhiều khối u chất liệu ngoại tại ngăn cản việc tự do phát triển bản ngã. Đây là chương trình của chủ nghĩa duy lí khai minh từ Spinoza cho đến những môn đệ (đôi khi vô ý thức) mới đây nhất của Hegel. Supers aude.150 Cái gì anh biết được là anh hiểu được tính tất yếu của nó - tính tất yếu duy lí - trong khi còn là hữu thể có lí tính thì anh không thể nào lại muốn mình không như thế. Vì nếu muốn một thứ gì đó phải khác biệt với cái nó phải là, trong điều kiện tiên đề đã cho - những tất yếu cai quản thế giới - thì trong chừng mực ấy (pro tanto) sẽ hoặc là ngu dốt hoặc là phi lí tính. Đam mê, định kiến, nỗi sợ hãi, chứng loạn thần kinh sinh ra từ tình trạng ngu dốt và có hình thức các huyền thoại và các ảo tưởng. Bị cai trị bởi các huyền thoại, dù chúng sinh ra từ những tưởng tượng đầy sinh động hay từ những lang băm vô lương tâm lừa gạt chúng ta để bóc lột chúng ta, hay do những nguyên nhân tâm lí hoặc xã hội, cũng đều là một hình thức ngoại trị, nổi trội bởi các yếu tố bên ngoài theo một định hướng mà tác nhân không nhất thiết mong muốn. Các nhà tất định luận theo khoa học của thế kỉ 18 cho rằng việc nghiên cứu các khoa học về tự nhiên và việc sáng tạo các khoa học về xã hội trên cùng một mô thức, ắt có thể khiến cho hoạt động của những nguyên nhân như thế được sáng tỏ hoàn toàn, và làm cho các cá nhân nhận ra được vai trò của chính mình trong sự vận hành của thế giói lí tính, chỉ thất bại khi hiểu sai. Tri thức giải phóng, như Epicurus dạy từ xa xưa, bằng cách tự động loại bỏ những nỗi sợ hãi và những khao khát phi lí tính.

Herder, Hegel và Marx lấy những mô hình đầy sinh động của riêng họ về đời sống xã hội thay cho các mô hình cơ giới cũ kĩ, nhưng tin tưởng không kém những người phản đối họ, rằng hiểu được thế giới là được khai phóng tự do. Họ chỉ khác những người kia trong việc nhấn mạnh vai trò của biến đổi và sinh trưởng trong những gì làm cho con người là con người. Không thể hiểu được đời sống xã hội theo sự tương tự lấy từ toán học và vật lí học. Cần phải hiểu cả lịch sử, tức là những định luật đặc thù của [quá trình] sinh trưởng liên tục, dù là bởi xung đột “biện chứng” hay bằng cách nào đó khác, những định luật ấy cai quản các cá nhân hay các nhóm người trong tương giao của họ hay với thiên nhiên. Theo những nhà tư tưởng này thì không hiểu được điều ấy là rơi vào một loại lầm lẫn đặc biệt, được gọi là niềm tin vào bản chất tĩnh tại của con người, nghĩa là các tính chất cốt yếu của bản chất con người đều giống nhau ở mọi nơi và mọi thời đại, tức là được cai quản bởi các định luật tự nhiên không biến đổi, dù chúng được cảm nhận dưới dạng thức thần học hay chủ nghĩa duy vật, lầm lẫn ấy kéo theo hệ luận sai lầm rằng một người ban hành luật pháp sáng suốt về nguyên tắc có thể tạo ra một xã hội hài hòa tuyệt hảo vào bất cứ thời nào bằng việc giáo dục và xây dựng luật pháp thích đáng, vì rằng những con người lí tính vào mọi thòi đại và trên mọi đất nước phải luôn đòi hỏi cùng một thỏa mãn không đổi cho cùng những nhu cầu cơ bản không đổi. Hegel tin rằng những người cùng thời với ông (thực ra là tất cả các vị tiền bối của ông) đều hiểu lầm bản chất của các định chế bởi vì họ không hiểu rõ luật pháp - những luật pháp lí tính thật dễ hiểu vì sinh ra từ hoạt động của lí trí - luật pháp ấy tạo ra và thay đổi các định chế và biến cải tính cách và hành vi của con người. Marx và các môn đệ của ông xác nhận rằng đường đi của con người bị cản trở không phải chỉ bởi các sức mạnh tự nhiên, hay bởi những khiếm khuyết trong tính cách của họ, mà hơn thế nữa, còn bị cản trở bởi cách vận hành những định chế xã hội của chính họ mà ban đầu họ tạo ra (không phải luôn luôn có ý thức) vì những mục tiêu nhất định, nhưng họ đã quan niệm sai một cách hệ thống việc thực hiện chức năng của những định chế ấy, trên thực hành còn nhiều hơn trên lí thuyết, do đó mà những định chế ấy đã trở thành trở ngại cho tiến bộ của những người tạo ra chúng. Marx đưa ra những giả thuyết xã hội và kinh tế giải thích tính không thể tránh khỏi của tình trạng hiểu lầm như thế, đặc biệt là ảo tưởng rằng những sắp xếp nhân tạo như vậy là các sức mạnh độc lập, cũng giống như các định luật tự nhiên mang tính không tránh khỏi. Ông chỉ ra những định luật cung và cầu, hay định chế về quyền sở hữu, hay phân chia bất diệt của xã hội thành giàu và nghèo, hay chủ và thợ, cũng như quá nhiều những phạm trù nhân bản không đổi, như là những trường hợp của các sức mạnh giả-khách quan. Chừng nào chúng ta còn chưa tới giai đoạn mà quyến rũ của những ảo tưởng ấy có thể bị phá hủy, nghĩa là trước khi có đủ những người tiến tới giai đoạn xã hội duy nhất khiến họ có khả năng hiểu ra rằng những định luật và định chế ấy bản thân chúng là sản phẩm của trí óc và bàn tay con người, cần thiết về mặt lịch sử cho thời của họ, rồi sau đó bị hiểu lầm là những quyền lực khách quan không lay chuyển được, [tới khi ấy] thế giới cũ có thể bị phá hủy và thay thế bởi một cơ cấu xã hội thích đáng hơn và tự do hóa. Chúng ta bị nô dịch bởi những kẻ chuyên chế - các định chế hay các niềm tin hay các chứng loạn thần kinh - mà chúng chỉ có thể bị loại bỏ bằng cách phân tích và thấu hiểu. Chúng ta bị cầm tù bởi những tinh thần xấu xa do chính chúng ta đã tạo nên - mặc dù không có ý thức, và chúng ta chỉ có thể xua đuổi chúng đi bằng cách trở nên có ý thức và hành động thích đáng: thực ra đối với Marx thì hiểu biết là hành động thích đáng. Tôi được tự do khi, và chỉ khi nào tôi hoạch định cuộc đời tôi phù hợp với ý chí của bản thân; các kế hoạch kéo theo các quy tắc; một quy tắc không áp bức tôi hay nô dịch tôi nếu tôi tự áp đặt nó lên bản thân một cách có ý thức, hay chấp thuận nó một cách tự do sau khi hiểu rõ nó, dù nó là do tôi hay do những người khác tạo ra, với điều kiện nó có lí tính, tức là nó thích ứng với những tất yếu của các sự vật. Hiểu được tại sao các sự vật phải là như chúng phải là, tức là muốn cho chúng là như thế.

Chúng ta bị nô dịch bởi những kẻ chuyên chế - các định chế hay các niềm tin hay các chứng loạn thần kinh - mà chúng chỉ có thể bị loại bỏ bằng cách phân tích và thấu hiểu. Chúng ta bị cầm tù bởi những tinh thần xấu xa do chính chúng ta đã tạo nên - mặc dù không có ý thức, và chúng ta chỉ có thể xua đuổi chúng đi bằng cách trở nên có ý thức và hành động thích đáng: thực ra đối với Marx thì hiểu biết là hành động thích đáng. Tôi được tự do khi, và chỉ khi nào tôi hoạch định cuộc đời tôi phù hợp với ý chí của bản thân; các kế hoạch kéo theo các quy tắc; một quy tắc không áp bức tôi hay nô dịch tôi nếu tôi tự áp đặt nó lên bản thân một cách có ý thức, hay chấp thuận nó một cách tự do sau khi hiểu rõ nó, dù nó là do tôi hay do những người khác tạo ra, với điều kiện nó có lí tính, tức là nó thích ứng với những tất yếu của các sự vật. Hiểu được tại sao các sự vật phải là như chúng phải là, tức là muốn cho chúng là như thế. Tri thức giải phóng ta không phải bằng cách cho ta những khả năng để ngỏ để ta chọn lựa giữa những khả năng ấy, mà bằng cách bảo vệ ta khỏi thất bại trong mưu toan làm chuyện bất khả. Mong muốn những định luật tất yếu phải khác với chúng là như vậy, tức là làm mồi cho dục vọng phi lí tính - một dục vọng muốn cho X phải cũng là cái không-phải X. Đi xa hơn nữa và tin rằng những định luật ấy phải khác với cái chúng tất yếu là thế, tức là mất trí. Đó là tâm điểm siêu hình của chủ nghĩa duy lí. Khái niệm tự do chứa đựng trong nó không phải là khái niệm “phủ định” của một khu vực không có trở ngại (một cách lí tưởng), một chân không trong đó không có gì ngăn trở tôi, mà là khái niệm tự hướng dẫn hay tự kiểm soát. Tôi có thể làm điều tôi muốn với bản thân mình. Tôi là một hữu thể có lí tính; tôi có thể chứng minh mọi thứ cho bản thân mình như là tất yếu, như là không thể nào khác được trong một xã hội duy lí - tức là trong một xã hội được hướng dẫn bởi những đầu óc duy lí, nhắm tới những mục tiêu mà một hữu thể có lí tính ắt phải có - tôi không thể mong muốn bị quét khỏi con đường của tôi trong khi tôi là hữu thể có lí tính. Tôi đồng hóa nó vào thực chất của tôi như tôi đồng hóa các quy luật logic, toán học, vật lí học, các quy tắc nghệ thuật, các nguyên lí cai quản mọi thứ mà tôi hiểu được, vì vậy mà tôi mong muốn, [tôi đồng hóa] mục tiêu duy lí nhờ đó tôi không bao giờ bị ngăn trở bởi tôi không thể nào lại muốn nó khác đi với cái nó là.

Đây là học thuyết khẳng định về tự do hóa bằng lí trí. Các hình thức xã hội hóa của nó bản thân chúng rất khác nhau và đối lập nhau, chúng là tâm điểm của nhiều tín điều [như là] chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa độc đoán và chủ nghĩa toàn trị ngày nay. Trong quá trình tiến hóa của mình học thuyết ấy có thể đã đi xa hẳn bến neo đậu của nó. Mặc dù vậy, chính là [khái niệm] tự do ấy được tranh cãi ở các nền dân chủ, trong các chế độ độc tài, và người ta tranh đấu vì nó trên nhiều miền của trái đất ngày nay. Không có ý định lần theo dấu vết quá trình tiến hóa lịch sử của ý tưởng ấy, tôi xin bình luận về một số bước thăng trầm của nó.

Nguồn: Tất định luận và tự do lựa chọn (Liberty, Nhà xuất bản Oxford University Press, 2002) của Isaiah Berlin, do dịch giả Nguyễn Văn Trọng dịch một cách đầy đủ và mạch lạc

Dịch giả:
Nguyễn Văn Trọng