Luận về triết học logic (Phần 1)
1 Thế giới là tất cả những cái như thế.[1]
1.1 Thế giới là tổng thể các sự thực, không phải tổng thể các sự vật.
1.11 Thế giới được xác định bởi các sự thực, và bởi sự hiện hữu của chúng chính là tất cả các sự thực.
1.12 Bởi tổng thể các sự thực xác định cái gì là cái như thế, và cũng xác định cái gì không phải là cái như thế.
1.13 Các sự thực trong không gian logic chính là Thế giới.
1.2 Thế giới phân chia thành các sự thực.
1.21 Bất kỳ phần chia nào có thể hoặc đúng là cái như thế hoặc không đúng là cái như thế, và mọi thứ khác vẫn như vậy.
GIẢI THÍCH CHI TIẾT
Câu 1
Mệnh đề này định nghĩa thế giới bao gồm những gì. Thế giới là một tập hợp của tất cả những phần tử mà chúng ta có thể mô tả được - những cái như thế. Mọi thứ mà mô tả được như thế, như thế đều thuộc về thế giới. “Con gà màu đỏ”, “cậu bé bự”, “cậu bé ôm con gà”, “con gà chín cựa”, v.v. đều là những thứ thuộc về thế giới bất kể chúng có tồn tại trong thế giới thực hay không.
Cái như thế là cái được mô tả bằng cái gì đó khác. Như trong Hình A1, “đoạn 1-2 được mô tả bằng điểm 1 nối với điểm 2”, “cụm xung quanh 2 được mô tả bằng điểm 1, điểm 3 và điểm 5 nối với điểm 2”, “cụm điểm 2-3-5 được mô tả bằng điểm 1, điểm 2, điểm 3, điểm 4, điểm 5, điểm 6, điểm 8 nối với nhau” v.v. là những cái như thế và thuộc về thế giới. Điểm 11 và điểm 14 không gắn với mô tả gì nên không thuộc về thế giới.
Đây là câu mở để xác lập thế giới siêu hình mà Wittgenstein bàn luận trong các câu tiếp theo cho đến hết câu 6. Câu cuối (thứ 7) chỉ ra bất cứ thứ gì chúng ta không diễn tả được bằng ngôn từ thì không thuộc phạm vi của thế giới, và chúng ta buộc phải để nó rơi vào trong thinh không.
Xét về mặt logic, Wittgenstein phân biệt giữa cái nói ra được, tức được diễn tả bằng cái khác, và cái không thể nói ra được. Tất cả những thứ có thuộc tính “nói ra được là như thế, như thế” thì thuộc về thế giới.
Chú thích dịch thuật
the case == cái như thế. Danh từ case thể hiện một cái gì đó có phạm vi có thể phân biệt được với những thứ khác. Các nghĩa như “trường hợp”, “vụ án”, “hộp” đều thể hiện những thứ có phạm vi như vậy. Động từ “case” có nghĩa là “bao quanh”.
Dịch the case sang tiêng Việt là “cái như thế’, thể hiện một trạng thái được phân biệt với những trạng thái khác bằng ngôn từ.
all==every: tất cả. Từ dùng để chỉ những thứ có chung một thuộc tính nào đó.
Câu 1.1
Câu này Wittgenstein muốn phân biệt giữa “cái như thế’ và ‘cái”. “Cái như thế” là sự thực, còn “cái” là sự vật/đối tượng. ví dụ “con gà màu đỏ”, ‘cậu bé ôm con gà” là những sự thực, còn ‘cậu bé”, “con gà” là những sự vật/đối tượng.
Như minh hoạ trong Hình A1, những sự thực là những đoạn nối các điểm với nhau và hợp thành thế giới. Còn những điểm là những sự vật. Thế giới không phải là tổng thể của những điểm như vậy.
Chú thích dịch thuật
totality == tổng thể. Dùng theo nghĩa thể hiện theo nghĩa cái gì đó được cấu thành từ tất cả những cái đơn lẻ ghép lại.
fact == sự thực. Từ này về cơ bản đồng nghĩa với “sự thật”, tuy nhiên tôi muốn để dành từ “sự thật” để dịch từ “truth”. Từ fact trong một số bối cảnh như “in fact”, khi dịch ra tiếng Việt cũng thường được dịch là “thực ra”, “trên thực tế”. Chữ “thực” được sử dụng trong những trường hợp này mang nghĩa phải liên hệ với một cái gì đó, giống với nghĩa “the case” trong tác phẩm này. Trong khi từ sự thật thì lại có nghĩa siêu hình, buộc người ta phải tin.
Nhiều người dịch “fact” là “sự kiện”, nhưng tôi muồn dành từ “sự kiện” để dịch từ event, thể hiện một cái gì đó xảy ra.
Câu 1.11 và 1.12
Hai câu này xác lập ranh giới của thế giới.
Ranh giới của thế giới dược xác định bởi sự hiện hữu của tất cả các sự thực được ghép với nhau thành một khối. Những gì không phải là sự thực thì không được ghép với khối đó và không thuộc về thế giới (Câu 1.11). Lý do là vì thế giới là tất cả những cái như thế, tức những cái được mô tả bằng cái khác. Mối quan hệ cái này mô tả cái kia cấu thành từng sự thực. Những gì không được mô tả bởi cái gì khác thì không phải là cái như thế, tức không mô tả được, và không thuộc thế giới.
Như minh hoạ trong Hình A1, sự hiện hữu của các đoạn thẳng nối giữa các điểm 1, điểm 2,.., điểm 10, xác định ra thế giới. Tổng thể các sự thực này cũng đồng thời xác định các điểm 11, điểm 12, điểm 13 và điểm 14 không thuộc thế giới. Không tồn tại đoạn thẳng nối điểm 12 với điểm 13 trong thế giới. Nếu đoạn thẳng này tồn tại trong thế giới thì nó phải được nối với một điểm nào đó trong số các điểm 1, .., điểm 10.
Chú thích dịch thuật
determine== xác định
being == hiện hữu. Từ này dịch là “hiện hữu”, phân biệt với “existence” == “tồn tại”. “Hiện hữu” biểu đạt sự tồn tại mang lại ý nghĩa nào đó. Như trong câu này, sự hiện hữu của các sự thực hàm ý đó là tất cả các sự thực rồi, chứ không phải là sự hiện diện chỉ của một số sự thực, còn một số khác bị che khuất.
Câu 1.13
Câu này hàm ý là bất kỳ cái gì diễn tả được bằng ngôn từ - sự thực trong không gian logic - thì đều thuộc về thế giới. Tức là, không chỉ “con gà màu đỏ”, “em bé ôm con gà” mới thuộc về thế giới mà cả “con gà hình vuông”, “con gà chín cựa”, v.v. cũng đều thuộc về thế giới.
Chú thích dịch thuật
logical space == không gian logic.
Câu 1.2 và 1.21
Thế giới là tổng thể các sự thực, nhưng không phải là một khối đồng nhất, mà là một khối được ghép lại từ các sự thực riêng biệt. Thế cho nên, khi chúng ta chia nhỏ thế giới đó ra chúng ta sẽ có những sự thực riêng biệt, độc lập với nhau.
Khi chúng ta xem xét một sự thực riêng biệt, nó có thể đúng là cái như thế hoặc cũng có thể không đúng là cái như thế. Tính đúng-sai này không ảnh hưởng gì đến mọi thứ khác của thế giới. Chẳng hạn, khi chúng ta nhặt ra một sự thực “con gà chín cựa” để xem xét, thì sự thực này có thể đúng như thế thật, nhưng cũng có thể không đúng như thế. Bất kể sự thực “con gà chín cựa” có đúng như thế hay không đúng như thế thì cũng không làm thay đổi mọi thứ khác. Tức là, cái gì không thuộc thế giới vẫn không thuộc thế giới; còn trong thế giới, nếu quả thực “trời mưa” thì “trời vẫn mưa”, nếu quả thực “trời không mưa” thì “trời vẫn không mưa” v.v.
Như minh hoạ trong Hình A1, giả sử ta lấy ra một sự thực bất kỳ để xem xét, chẳng hạn đoạn 1-2-3, tức hai đoạn thằng nối điểm 1 với điểm 2 và điểm 2 với điểm 3. Nó có thể đúng là cái chúng ta muốn mô tả là như thế, như thế. Nhưng cũng có thể không đúng như cái chúng ta muốn mô tả (chẳng hạn, đúng ra, cái như thế phải bao gồm cả đoạn nối điểm 2 với điểm 5). Bất luận đoạn 1-2-3 có đúng như thế hay không thì thế giới như chúng ta mô tả ở Hình A1 vẫn như vậy.
Chú thích dịch thuật
Either be the case or not be the case == hoặc đúng là cái như thế hoặc không đúng là cái như thế. Hai từ “the case” trong biểu ngữ này chỉ cùng một thứ như thế, thế cho nên khi dịch phải thêm từ “đúng” trước từ “là” để thể hiện ý này.
Everything else remains the same == mọi thứ khác vẫn như vậy. Câu này có thể dịch là “mọi thứ khác vẫn không đổi” hoặc “mọi thứ khác giữ nguyên”, nhưng cách diễn đạt như vậy không thể hiện được ý tưởng mô tả thế giới bằng ngôn ngữ.
Lưu ý, “mọi thức khác” ở đây không chỉ là phần còn lại của thế giới mà còn cả những cái không thuộc về thế giới.
[1] Các chữ số thập phân đánh số các mệnh đề riêng biệt thể hiện tầm quan trọng về mặt logic của chúng; đó là sự nhấn mạnh theo cách trình bày của tôi. Các mệnh đề n.1, n.2, n.3,... là bình luận cho mệnh đề số n; các mệnh đề n.m1, n.m2,... là bình luận cho mệnh đề số n.m; và cứ như vậy.
Nguyên tác: Tractatus-Logico Philosophicus, Ludwig Wittgenstein
Nguồn: Luận về triết học logic, Đinh Tuấn Minh dịch và chú thích
