Comte và Hegel ( Phần 2)

Comte và Hegel ( Phần 2)

III.

Một điều có lẽ có giá trị hơn bất cứ một danh sách những cái tên của những người nhận ra những nét tương tự giữa Comte và Hegel là việc một loạt các nhà tư tưởng xã hội trong hơn một trăm năm qua chứng nhận vai trò đáng kể của mối liên hệ này. Thực ra thì việc không nhận ra được những nét tương tự giữa hai học thuyết khai nguồn này chẳng thấm vào đâu so với việc không nhận ra được rằng có một số lượng đáng kể các tên tuổi hàng đầu đã từng thành công trong việc kết hợp các ý tưởng của Hegel và Comte để sáng tạo ra tư tưởng của chính mình. Một lần nữa, tôi chỉ có thể đưa ra một vài cái tên thuộc dạng này1. Nhưng nếu tôi kể với bạn rằng danh sách này bao gồm cả Karl Marx, Friedrich Engels, và có thể cả Ludwig Feuerbach ở Đức, Ernest Renan, Hippolyte Taine và Emile Durkheim ở Pháp, Giuseppe Mazzini ở Italia – và tôi có lẽ nên đưa thêm cả Benedetto Croce và John Dewey vào trong danh sách những người còn sống – thì bạn sẽ bắt đầu hiểu được ảnh hưởng của họ đi xa tới đâu. Có lẽ các bạn sẽ ý thức được tầm quan trọng của ảnh hưởng cộng hưởng của hai tác gia này khi xem phần trình bày tiếp theo của tôi rằng nguồn gốc của phần lớn những gì hiện nay được gọi là xã hội học vốn xuất hiện trong vòng hơn một thế kỷ qua và đặc biệt bộ phận mới nhất và tham vọng nhất của nó, xã hội học nhận thức, đều có chung một nguồn gốc với các phong trào trí thức rộng lớn, được gọi bằng một cái tên đầy nghịch lý, chủ nghĩa duy lịch sử, vốn tiếp cận hiện tượng lịch sử theo một cách thức rất phi lịch sử.

Trước khi tôi bắt tay vào công việc chính, tôi phải thú nhận đôi chút về một điều rất cơ bản: tôi phải chân thành thông báo cho các bạn biết về một khiếm hụt nghiêm trọng trong cách tiếp cận của tôi đối với vấn đề này. Về Comte, đúng là tôi hoàn toàn bất đồng với phần lớn quan điểm của ông. Nhưng sự bất đồng này vẫn thuộc loại có thể tiến hành một bàn luận hữu ích nào đó bởi vì ít nhất [giữa ông và tôi] còn có một nền tảng chung. Nếu đúng là sự phê phán có giá trị chỉ khi ta tiếp cận đối tượng nghiên cứu của người kia với  mức độ chia sẻ chung chí ít như tôi có đối với Comte thì tôi e là tôi không hội đủ tiêu chuẩn để làm điều này đối với Hegel. Khi nói tới ông, tôi luôn có cảm giác, không những chỉ giống như một người Anh ngưỡng mộ ông sâu sắc nhất đã phát biểu, rằng triết học của ông là “một sự nghiền ngẫm ở một tầm uyên thâm cao đến độ phần lớn chúng là thứ không thể hiểu được”2, mà còn như điều mà John Stuart Mill đã trải nghiệm: ông “đã nhận thấy bằng kinh nghiệm thực tế của mình… rằng việc giao thiệp với [Hegel] khiến cho trí tuệ của ta bị hao tổn”3. Vì vậy, tôi phải cảnh báo các bạn rằng tôi không giả vờ là mình hiểu Hegel. Nhưng cũng thật may mắn cho công việc của tôi là việc thông hiểu đầy đủ hệ thống lý luận của ông là không cần thiết. Tôi tin rằng tôi hiểu rõ các phần trong học thuyết của ông mà đã có ảnh hưởng hoặc được cho là có ảnh hưởng tới sự phát triển của các ngành khoa học xã hội. Thực sự thì chúng quá nổi tiếng đến mức nhiệm vụ của tôi phần lớn chỉ còn là chỉ ra rằng rất nhiều quá trình phát triển thường được gán cho là chịu sự ảnh hưởng bởi Hegel thì trên thực tế lại hoàn toàn có thể bắt nguồn từ Comte. Đối với tôi thì sự hỗ trợ mà trường phái Hegel nhận được từ Comte mới chính là điều giúp chúng ta lý giải tương đối thỏa đáng cho cái điều vẫn còn chưa tường minh là: trong lĩnh vực khoa học xã hội, tư duy và ngôn ngữ của trường phái Hegel vẫn còn tiếp tục ngự trị rất lâu sau khi, trong các lĩnh vực khoa học khác, quyền lực của triết học Hegel đã bị khoa học chính xác thế chỗ.

IV.

Tuy nhiên, có một khía cạnh mà các lý thuyết về tư duy của cả Comte và Hegel đều chia sẻ; tôi phải đề cập tới điều này vì chính chủ đề của chúng ta ở đây và vì nó sẽ mang tới cho tôi một cơ hội liên tưởng tới một câu hỏi thú vị mà tôi không có thời gian để xem xét trong chương này: nguồn gốc ban đầu khiến họ có các ý tưởng chung.

Cái khía cạnh chung trong các học thuyết của họ mà tôi muốn nói tới là một thứ thoạt nhìn có vẻ hoàn toàn trái ngược nhau: thái độ của họ đối với nghiên cứu thực nghiệm. Đối với Comte, điều này chính xác là khoa học; đối với Hegel, điều này hoàn toàn nằm ngoài cái mà ông gọi là khoa học, mặc dù ông không hề hạ thấp vai trò của tri thức thực tiễn khi nó được sử dụng trong đúng lĩnh vực của nó. Điều đưa họ đến với nhau là niềm tin của họ, rằng khoa học thực nghiệm cần phải thuần túy mô tả, khuôn mình vào việc tìm ra các hiện tượng xuất hiện thường xuyên cho các hiện tượng quan sát. Họ đều là những nhà hiện tượng học khắt khe theo nghĩa này, nghĩa là họ phủ nhận việc khoa học thực nghiệm có thể phát triển từ việc mô tả tới việc giải thích. Việc nhà thực chứng Comte coi mọi giải thích, mọi việc thảo luận về cách thức hình thành các hiện tượng là một công việc siêu hình vô ích, trong khi Hegel lại bảo lưu điều này trong triết học duy tâm của mình về tự nhiên, là một câu chuyện khác. Quan điểm của họ về chức năng của nghiên cứu thực nghiệm, như Émile Meyerson đã xuất sắc chỉ ra4, gần như hoàn toàn tương đồng với nhau. Ví dụ khi Hegel lập luận rằng “nghiên cứu thực nghiệm không có nhiệm vụ khẳng định sự tồn tại của bất kỳ điều gì mà nhận thức bằng giác quan (sense perception) không biết đến”5, ông là một nhà thực chứng hệt như Comte.

Ngày nay, không nghi ngờ gì, cách tiếp cận hiện tượng luận đối với các vấn đề của khoa học thực nghiệm hiện đại bắt nguồn từ Descartes, người mà cả hai triết gia của chúng ta đều trực tiếp hàm ơn. Và tôi cũng tin rằng điều này cũng đúng với khía cạnh cơ bản thứ hai mà họ chia sẻ và chúng ta dễ dàng tìm thấy các điểm chi tiết về sự đồng thuận giữa họ liên quan đến khía cạnh này: đó là, họ cùng chia sẻ chủ nghĩa duy lý (rationalism), hay đúng hơn, chủ nghĩa duy trí (intellectualism). Chính Descartes là người đầu tiên kết hợp các ý tưởng rõ ràng là không tương thích này của cách tiếp cận hiện tượng luận và cảm giác luận đối với khoa học vật lý với quan điểm duy lý về nhiệm vụ và chức năng của con người6. Liên quan đến những khía cạnh chính mà chúng ta quan tâm ở đây, chính nhờ Montesquieu7, d’Alembert8, Turgot và Condorcet ở Pháp, Herder9, Kant và Fitche ở Đức mà di sản của Descartes được truyền lại cho Hegel và Comte. Nhưng những điều mà đối với những nhân vật trung gian này chỉ đơn thuần là những gợi ý táo bạo và có tính khuyến khích thì với hai triết gia của chúng ta đã trở thành nền tảng cho hai hệ thống tư tưởng thống trị trong thời đại của họ. Vì thế, khi nhấn mạnh rằng các sai lầm của cả Hegel và Comte đều bắt nguồn từ Descartes, thì tất nhiên tôi không có ý hạ thấp những đóng góp to lớn của Descartes đối với tư tưởng hiện đại. Tuy nhiên, như là một định mệnh đối với rất nhiều ý tưởng khai nguồn, chúng thường tiến đến một giai đoạn thoái trào khi những thành công của chúng khiến chúng bị ứng dụng vào trong những lĩnh vực mà chúng không còn thích hợp nữa. Và tôi tin rằng đây là điều mà Comte và Hegel đã làm.

V.

Quay sang lĩnh vực lý thuyết xã hội, chúng ta có thể thấy rằng những ý tưởng chính mà cả Helgel và Comte đều chia sẻ có quan hệ chặt chẽ với nhau đến mức chúng ta gần như có thể biểu đạt tất cả chúng chỉ trong một câu tại đó chúng ta xem xét cẩn trọng ý nghĩa của từng từ một. Một câu như vậy có lẽ như thế này: mục tiêu trung tâm của mọi nghiên cứu xã hội là phải hướng đến việc xây dựng một lịch sử tổng quát cho toàn thể nhân loại, được hiểu như là một lược đồ về sự phát triển tất yếu của xã hội loài người dựa trên những quy luật có thể nhận biết được. Nó tiêu biểu cho quy mô xâm nhập của các ý tưởng của họ vào trong toàn bộ bầu không khí trí tuệ trong thời đại của chúng ta đến mức, nói trắng ra, chúng giờ đây gần như đã trở thành sáo rỗng. Chỉ khi chúng ta đi sâu vào phân tích nội dung và các ngụ ý của mệnh đề này chúng ta mới có thể hiểu được bản chất dị thường của cái dự định mà nó đề xuất.

Trước tiên, những quy luật mà cả hai ông tìm kiếm đều là những quy luật về sự phát triển của tâm trí con người, dù là giữa hai ông có đôi chút khác biệt – đối với Comte, đó là  những “quy luật tự nhiên”10 trong khi đối với Hegel, đó là những nguyên lý siêu hình. Nói một cách khác, họ đều tuyên bố rằng các tâm trí cá thể của chúng ta, ngoài việc đóng góp vào quá trình phát triển này, còn có khả năng lĩnh hội quá trình này như một tổng thể. Sự tiếp nối tất yếu của các giai đoạn phát triển tâm trí con người vốn được quyết định bởi các quy luật động này cũng chính là nhân tố quyết định sự tiếp nối tương ứng của của những nền văn minh, nền văn hóa, Volksgeister [Tinh thần quốc gia dân tộc], hay những hệ thống xã hội khác nhau.

Tiện đây tôi muốn nói rằng việc họ cùng nhấn mạnh đến vai trò chính yếu của sự phát triển trí tuệ theo quá trình này không hề mâu thuẫn với thực tế là cái truyền thống có sức ảnh hưởng mạnh mẽ nhất mà họ cùng vun đắp lại dần bị người ta gọi sai lệch là cách lý giải “duy vật” về lịch sử. Comte, về điểm này cũng như trong rất nhiều những điểm khác, so với Hegel, có lẽ gần với Marx hơn, đã đặt nền móng cho sự phát triển này bằng việc nhấn mạnh đến tầm quan trọng vượt trội của tri thức tự nhiên của chúng ta; và rốt cuộc, nhận định cơ bản của cái gọi là sự lý giải duy vật (hay đúng hơn, mang tính công nghệ) về lịch sử đơn giản chỉ là: chính tri thức của chúng ta về tự nhiên và về những triển vọng công nghệ là cái quyết định sự phát triển của những lĩnh vực khác. Cái niềm tin rằng tâm trí của một người có khả năng giải thích được chính bản thân nó và những quy luật phát triển trong quá khứ và tương lai của nó – tôi không có đủ điều kiện để giải thích ở đây tại sao điều này đối với tôi dường như lại chứa đựng một mâu thuẫn11 –  là một yếu tố giống nhau cốt tủy giữa hai người, là điều chính yếu được Marx chắt lọc từ Hegel và Comte, và rồi lại được các môn đồ của Marx tiếp nhận.

Quan niệm về những quy luật về sự tiếp nối nhau của những giai đoạn riêng biệt trong quá trình phát triển của tâm trí con người nói chung và trong tất cả những hình thức biểu hiện và cụ thể hóa của nó nói riêng hiển nhiên ngụ ý rằng chúng ta có thể nắm bắt được những tổng thể hay những tập thể này một cách trực tiếp giống như những cá thể thuộc một loài sinh vật: rằng chúng ta có thể nhận biết một cách trực tiếp những nền văn minh hay những hệ thống xã hội dưới dạng những thực tế khách quan, có sẵn. Nhận định này hoàn toàn không có gì đáng ngạc nhiên trong một hệ thống duy tâm như của Hegel, nghĩa là, như một sản phẩm của chủ nghĩa duy thực khái niệm (conceptual realism) hay của “chủ nghĩa bản chất”12. Thoạt tiên, nó dường như không phù hợp với một hệ thống theo chủ nghĩa tự nhiên như của Comte. Tuy nhiên, thực tế là hiện tượng luận của ông, cái học thuyết né tránh tất cả những hiện tượng tâm trí và cho phép ông chỉ công nhận những gì có thể được quan sát một cách trực tiếp, đã buộc ông phải ở vào một vị trí tương tự như là của Hegel. Do ông không thể phủ nhận sự tồn tại của những cấu trúc xã hội, nên ông vẫn phải thừa nhận rằng chúng được biết đến một cách trực tiếp nhờ kinh nghiệm. Trên thực tế, ông còn đi xa hơn khi tuyên bố rằng, không còn nghi ngờ gì, những tổng thể xã hội được biết đến đầy đủ hơn và cho phép quan sát trực tiếp tốt hơn những phần tử cấu thành chúng13, và do đó lý thuyết xã hội phải bắt đầu từ sự hiểu biết của chúng ta về những tổng thể14 được nắm bắt một cách trực tiếp. Do đó, không khác mấy so với Hegel, ông đã bắt đầu từ những khái niệm trừu tượng được nhận biết bằng trực giác về xã hội hay sự văn minh hóa, và rồi từ đó rút ra những tri thức về cấu trúc của khách thể bằng con đường suy diễn. Xa hơn nữa, ông thậm chí còn tuyên bố đầy chắc chắn, điều đáng ngạc nhiên trong tư cách của một một nhà thực chứng, rằng từ quan niệm về cái tổng thể, chúng ta có thể rút ra tri thức tiên nghiệm về những mối quan hệ tất yếu giữa những bộ phận15. Đây chính là điều giải thích cho việc tại sao chủ nghĩa thực chứng của Comte đôi khi bị coi là một hệ thống của chủ nghĩa duy tâm16. Giống như Hegel, ông coi những cấu trúc xã hội  mà trên thực tế chúng ta chỉ có thể biết được bằng cách tái lập chúng, hay tạo dựng chúng, từ những phần tử quen thuộc như là những “cái cụ thể của cái tổng quát”17; và ông thậm chí còn vượt xa hơn cả Hegel khi tuyên bố rằng chỉ có xã hội như là một tổng thể mới có thật và rằng cá nhân chỉ là một lát cắt của cái xã hội đó mà thôi18.

Chú thích:

(1) Danh sách các tên tuổi khác, mà chắc là còn nhiều vô kể, bao gồm Eugen Dühring, Arnold Ruge, P. J. Proudhon, V. Pareto, L. T. Hobhouse, E. Troeltsch, W. Dilthey, Karl Lamprecht và Kurt Breysig.

(2) Trích trong K. R. Popper, The Open Society and Its Enemies (London, 1945), vol. 2, p. 25.

(3) J. S. Mill gửi A. Bain, 4/11/1867, The Letters of John Stuart Mill, ed. H. S. R. Elliot (London, 1910), vol. 2, p. 93.

(4) Meyerson, op. cit., esp. chap. 13.

(5) Ibid., p. 50

(6) J. Laporte, Le Rationalisme de Descartes, new ed. (Paris, 1950).

(7) E. Buss, “Montesquieu und Cartesius'', Philosophische Monatshefte 4 (1869): 1–37, and H. Trescher, “Montesquieu's Einfiuss auf die philosophischen Grundlagen der Staatslehre Hegels'', Schmoller's Jahrbuch 42 (1918).

(8) Cf. Schinz, op. cit., và G. Misch, “Zur Entstehung des französischen Positivismus'', Archiv für Geschichte der Philosophie 14 (1901).

(9) Trong một bức thư đề ngày 5 tháng 8, 1824, Comte viết cho Herder như là “prédécesseur du Condorcet, mon prédécesseur immediat''. Xem Lettres d'Auguste Comte à divers (Paris, 1905), vol. 2, p. 56.

(10) Comte, Cours de philosophie positive, 5th ed. (giống hệt với 1st ed.) (Paris, 1893), vol. 4, p. 253; cũng xem Early Essays, p. 150.

(11) Về những phân tích và phê bình có hệ thống đối với những ý tưởng này, xem thêm phần 1 của cuốn sách này.

(12)  Cf. K. R. Popper, “The Poverty of Historicism'', Economica, n.s. 11(1944): 94.

(13) Cours, vol. 4, p. 286: “Tổng thể dĩ nhiên được biến đến nhiều hơn và dễ tiếp cận hơn so với khi chúng ta phải phân biệt các phần tử cấu thành tiếp sau đó.''

(14)  Ibid., p. 291

(15) Ibid., p. 526.

(16) Chẳng hạn xem E. deRoberty, Philosophie du siècle (Paris, 1891), p. 29, và Schinz, op. cit., p. 255.

(17) Salomon op.cit, p. 400.

(18) Cours, vol. 6, p. 590; Discours sur l'esprit positive (1918) , p. 118.

Nguồn: Friedrich A. Hayek, Cuộc cách mạng ngược trong khoa học: Các nghiên cứu về sự lạm dụng lý tính, NXB Tri Thức, 2007

 

Dịch giả:
Đinh Tuấn Minh